Tài liệu Báo cáo đề tài “Tìm hiểu về chùa Tăng Quang – ngôi chùa Phật Giáo Nam Tông đầu tiên ở Huế” doc - Pdf 96

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LỊCH SỬ

BÀI BÁO CÁO THỰC TẾ
TÌM HIỂU VỀ CHÙA TĂNG QUANG –
NGÔI CHÙA PHẬT GIÁO NAM TÔNG
ĐẦU TIÊN Ở HUẾ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS. Nguyễn Văn Đăng Nguyễn Thị Kim Thoa
Phan Thị Thảo
HUẾ, 08/2008
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Lý do chọn đề tài.
Phật giáo- Một trong những tôn giáo lớn trên thế giới được truyền vào Việt
Nam từ rất sớm. Từ đầu công nguyên Phật giáo đã được truyền trực tiếp vào Việt
Nam. Phật giáo Giao Châu lúc này mang màu sắc Tiểu Thừa( còn gọi là Phật Giáo
Nam Tông hay Phật Giáo Nguyên Thuỷ), từ Budha tiếng Phạn đã được phiên âm
sang Tiếng Việt thành Bụt và trong con mắt của người Việt Nam nông nghiệp, Bụt
như một vị thần luôn có mặt ở khắp nơi, sẵn sàng cứu giúp người tốt và trừng trị kẻ
xấu. Sau này sang thế kỷ IV- V, có thêm luồng Phật giáo Đại Thừa(còn gọi là Phật
giáo Bắc Tông) từ Trung Hoa tràn vào, chẳng mấy chốc nó đã lấn át và thay thế
luồng Nam Tông có trước đó. Từ đây Phật giáo Đại Thừa phát triển mạnh mẽ qua
các thời kỳ cùng với sự hưng vong của các triều đại phong kiến và được xem là
Phật giáo truyền thống.
Mãi đến giữa thế kỷ XX Phật giáo Nam Tông mới lại được hình thành với
công khai sáng của các Ngài Hoà Thượng Thiện Luật, Hoà Thượng Hộ Tông và
Hoà Thương Huệ Nghiêm.
Riêng ở Huế - một trung tâm phật giáo lớn ở Miền Trung (Việt Nam), từ lâu

chùa này nhằm hiểu rõ hơn về Phật Giáo Nam Tông ở Huế. Để từ đó chúng ta có ý
thức về việc bảo tồn và phát triển chùa trong tương lai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng của bài báo cáo này là Tăng Quang Tự, từ khi thành lập 1954 đến nay.
4. Nguồn Tư liệu.
Nguồn tư liệu chứa đầy nhiều thông tin đặc biệt quan trọng là : Lịch sử truyền
bá Phật Giáo Nguyên Thuỷ của tác giả Nguyễn Tối Thiện, xuất bản năm 1990 và
Lịch sử Phật Giáo Nam Tông của Nguyễn Văn Sáu, 1987.
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các nguồn tư liệu từ sách vở, mạng Internet,
các bài viết trên tạp chí của các tăng ni như Tỳ Kheo Thiện Minh, các công văn của
giáo hội Tăng Già Nguyên Thuỷ Việt Nam có liên quan đến đề tài này.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu :
điền dã, khảo sát thực tế, sưu tầm, tra cứu, tập hợp tài liệu có liên quan, phân tích,
so sánh, đối chứng, kết hợp với việc sử dụng phương pháp lôgic, phương pháp lịch
sử nhằm hoàn thành tốt bài báo cáo.
6. Đóng góp của bài báo cáo.
Trong khoảng thời gian tương đối ngắn, với điều kiện và khả năng tiếp cận,
tìm hiểu vấn đề còn nhiều hạn chế, được sự giúp giúp đỡ động viên của thầy giáo
và các Hoà Thượng ở chùa Tăng Quang, cùng với sự say mê trách nhiệm trong quá
trình thực hiện về cơ bản bài báo cáo đã đáp ứng được yêu cầu của đề tài. Bài báo
cáo này sẽ góp thêm một số mặt sau:
- Tập hợp, sưu tầm các nguồn tài liệu, khảo sát thực tế về chùa Tăng Quang để
tiến hành xây dưng một thư mục tương đối đầy đủ phục vụ nghiên cứu đề tài và có
thể cho một số công trình nghiên cứu sau này sử dụng.
- Trình bày một cách cụ thể về lịch sử hình thành và phát triển của chùa cũng
như kiến trúc và cách thờ tự của chùa Tăng Quang.
- Đánh giá về những hoạt động và những đóng góp của chùa đối với đời sống
văn hoá xã hội để từ đó các cơ quan chức năng cần có sự quan tâm hơn nữa đối với
sự tồn tại và phát triển của Tăng Quang Tự.

qua. Lời lẽ và đạo hạnh của phái đoàn truyền giáo của Hoà Thượng Hộ Tông đã thu
hút Đức Giới Nghiêm và 9 huynh đệ, Ngài được giới thiệu sang Campuchia làm
giới tử và xuất gia.
Năm 1944 Đức Giới Nghiêm giã từ quê hương, nơi đất khách quê người xa lạ,
sự ra đi của các huynh đệ cũ để trở về với đời thường đã thức tỉnh ngài và hun đúc
quyết tâm học tập.
Trên con đường tu học, ở đất nước chùa tháp Campuchia Đức Giới nghiêm
không ngừng tinh tấn. Kết quả là lúc 20 giờ 20 ngày 8/3/1947, Đức Giới Nghiêm
được thầy bổn sư cho thọ Đại Giới, xuất gia Tỳ Kheo theo Phật Giáo Nguyên Thuỷ,
thầy thế độ là Hoà thượng Visuddhiransì và thầy Yết ma là Candanjira, sau này
Ngài cũng sang Thái để tiếp tục tu học.
Sau chín năm tu học ở Campuchia và Thái Lan, Ngài trở về Việt Nam để chia
sẻ hương vị Pháp bảo với đông bào trong nước và hợp tác với các vị trong phái
đoàn truyền giáo của Hoà thượng Hộ Tông để thành lập Giáo hội Tăng già Nguyên
Thuỷ Việt Nam. Quê hương của Đức Giới Nghiêm là Thừa Thiên Huế, nên Ngài
muốn đem hương vị pháp bảo này truyền bá trên vùng đất chôn rau cắt rốn của
mình, trước để đền ơn sinh thành của cha mẹ, sau là báo đáp thầy tổ đã nuôi lớn
tâm hồn mình. Đầu tiên, Ngài về Huế thăm gia đình và người thân, ghé thăm một
số vị tôn đức Bắc Tông. Sau đó, Ngài đến thăm chùa Phổ Đà ở Đà Nẵng, nơi Ngài
được thầy truyền thọ đại giới Tỳ Kheo theo truyền thống Bắc Tông. Tại chùa Phổ
Đà, Ngài giảng giáo lý Nguyên Thuỷ cho phật tử và chư tăng Bắc Tông. Đây cũng
chính là nơi manh nha để hình thành việc ra đời của chùa Tam Bảo – Đà Nẵng
1953 – ngôi chùa Phật Giáo Nguyên Thuỷ đầu tiên ở miền Trung. Phật tử thấy đạo
mới lạ và phong cách khả kính của Đức Giới Nghiêm khiến họ tăng thêm lòng tín
thành nơi Tam Bảo, nên họ rủ nhau đến quy y và học đạo với Đức Giới Nghiêm
ngày càng đông. Ngoài ra còn có nhiều vị tu sĩ trong truyền thống Bắc Tông quyết
định chuyển sang tu trì theo phái Nguyên Thuỷ của Đức Giới Nghiêm, điển hình
như Hoà thượng Hộ Nhẫn. Nhờ số lượng phật tử ngày càng đông, người xuất gia tu
học cũng khá nhiều nên ở đây đã thành lập được chùa Tam Bảo với sự hỗ trợ của
Ngài Hộ Tông, Ngài Bửu Chơn… Đấy cũng là những nhân tố thuận lợi cho việc

bám trụ và phát triển cho đến ngày hôm nay tại thành phố Huế.
Thượng toạ Định Lực - một trong những vị trụ trì chùa Tăng Quang cho biết:
“chùa được xây dựng năm 1954 với hình thức cải gia vi tự - tức là mua lại căn nhà
cũ, sửa chữa đôi chút cho phù hợp để làm thành chùa. Đại diện thí chủ dâng cúng là
ông Nguyễn Thiện Đông và bà Nguyễn Thị Cúc. Hoà thượng Giới Nghiêm đại diện
chư tăng chứng minh” [tài liệu 7].Chùa Tăng Quang thời kì này không có gì đặc biệt
vì đó chỉ là một ngôi nhà lá đơn sơ với vài ba liêu thất để chư tăng hành đạo.
Năm 1959 chùa được xây dựng lại với mô hình kiến trúc tân kỳ, không giống
hình thức lúc ban đầu - chỉ là hình thức cải gia vi tự, tạm thời có địa điểm để chư
tăng cư ngụ hành đạo và hành pháp. Thời kỳ này chùa Tăng Quang tiến hành trùng
tu chánh điện và xây dựng bảo tháp. Ngày khánh thành có sự chứng minh của Hoà
Thượng Hộ Tông, Hoà thượng Bửu Chơn, Hoà thượng Thiện Luật cùng với hơn 60
vị từ kheo từ miền Nam ra tham dự. Cũng trong năm này, chùa được xây dựng và
kết giới sìmà theo truyền thống của Phật Giáo Nguyên Thuỷ.
Năm 1963, chùa Tăng Quang tiến hành trùng tu và xây dựng lại, các công
trình xây dựng thời kỳ này gần như tồn tại cho đến ngày nay.
Như vậy ta thấy rằng, từ khi được xây dựng cho đến nay chùa đã được trùng
tu, sửa chữa nhiều lần, nhờ oai lực của Tam Bảo, nhờ đạo hạnh của các vị tu sĩ, nhờ
đức tin kiên cố và sự hỗ trợ không ngừng của những thiện nam tín nữ, nhìn chung
trong lịch sử chùa Tăng Quang liên tục được tu bổ. Tuy vậy, trong quá trình từ khi
thành lập đến nay, chùa cũng có những giai đoạn phát triển và cũng có những khúc
quanh cùng với lịch sử đấu tranh Cách mạng của đất nước ta.
Kiến trúc chùa Tăng Quang:
Đại sư Viên Minh từng nói: “Kiến trúc là một trong những đặc trưng của nền
văn hoá… kiến trúc phản ánh đặc trưng văn hoá, phản ánh tư tưởng, tâm hồn, trí
tuệ… mà qua đó chúng ta có thể đoán được sự hưng vong của khuynh hướng hay
trường phái phát sinh ra nó” [9: 4]. Chùa Tăng Quang là ngôi chùa của Phật Giáo
Nam Tông, đến với chùa Tăng Quang, chúng ta dễ nhận thấy sự khác biệt so với
những ngôi chùa khác: Không tôn- nghiêm- cao-khiết như chùa Tịnh Độ Tông,
không huyền - bí- thâm- u như chùa Mật Tông, cũng không hồn nhiên, dung dị như

tháp được xây ở trên và nằm về phía mặt tiền của Chánh điện, trước thềm Chánh
điện là bậc tam cấp, bên tả và bên hữu đều có trang trí tượng rồng đá chầu.
Ngoài ra còn có hai cây Shala Long thọ trồng mỗi bên, loài cây này tương
truyền là nơi Đức Phật đàn sanh và nhập diệt. Từ bên ngoài nhìn vào Chánh điện,
du khách sẽ nhận ra vẻ tôn nghiêm, thanh tịnh và trầm hùng - phần nào là nhờ dáng
dấp uy nghi vời vợi của ngôi Bảo tháp. Đây cũng chính là điểm gây chú ý cho
khách thập phương, không chỉ là độ cao mà còn là kiểu dáng và sắc vàng phủ trùm
lên toàn bộ toà tháp và Phật điện có thể dễ dàng nhận ra đây là ngôi chùa Phật Giáo
Nguyên Thuỷ.
Bảo tháp hình vuông, cao khoảng 25m, có 6 tầng mái. Nổi bật trên nền trời
với biểu tượng toà sen xoè cánh trên đỉnh. Mặt tiền của tầng tháp đắp nổi dòng chữ
Sangharànsyaràma ( Tăng Quang Tự) theo hình bán nguyệt, phía dưới dòng chữ là
phù điêu Đức Phật ngồi thiền định, bên trái khỉ chúa dâng quả, bên phải bạch tượng
quỳ hầu, mảng phù điêu này thể hiện câu chuyện Đức Phật khuyên dạy các thầy Tỳ
kheo ở thành Kosambi không được nên Ngài lặng lẽ vào rừng nhập hạ mà không có
một Tỳ kheo nào theo hầu cả, trong thời gian nhập hạ ở núi rừng chỉ có khỉ và voi
là thị giả ngài mà thôi. Dưới hình Đức Phật có dòng chữ “Theravada” (Phật Giáo
Nguyên Thuỷ) nằm ngay chánh môn của Phật điện.
Cửa vào Chánh điện cũng có ba cửa, một cửa lớn ở giữa và hai cửa phụ hai
bên, ngoài ra Chánh điện còn có hai cửa phụ ở bức tường bên trái và bên phải.
Chánh điện cao và thoáng mát, nền được lát bằng gạch hoa, trên bốn bức tường treo
nhiều bức ảnh thể hiện lịch sử của Đức Phật. Ngoài ra, còn có hai đầu voi trắng trên
hai cột ở cửa ra vào.
Trong Chánh điện có một pháp toạ để pháp sư giảng pháp và hai tủ Tam tạng
Thánh điển Pàli tiếng Thái. Phía trái còn đặt một cái chuông bằng đồng. Phía dưới
hai tủ Tam tạng là hai thùng phước sương.
Ở ngoài Chánh điện, phía trái là tăng xá hai tầng mới được xây lại vào năm
2000 – 2001, khi dãy nhà cũ dùng làm tăng xá bị hư hỏng nghiêm trọng sau trận lũ
1999. Trận lũ lịch sử này đã làm hư hại chùa.Hiện nay cạnh nhà Tăng xá còn có
công trình kỷ niệm trận lũ lịch sử này. Công trình do bác sĩ Lý Văn Kim(USA)

3. Đóng góp của chùa Tăng Quang đối với đời sống văn hoá – xã hội.
Tăng Quang là ngôi chùa Phật Giáo Nguyên Thuỷ đầu tiên ở Huế. Cho đến
nay chùa mới 54 tuổi, thời gian đó chưa phải là dài, tuy vậy, những đóng góp của
ngôi chùa đối với đời sống văn hoá – xã hội tại Huế nói chung và với Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam nói riêng đã có nhiều thành tựu.
3.1.Nghi thức:
Tôn giáo gắn liền với nghi thức. Nghi thức của chùa Tăng Quang mà các tu sĩ
thường sử dụng là nghi thức Phật giáo Nam Tông – đơn giản nhưng trang trọng và
tôn nghiêm, nếu chỉ một lần đến cúng dường chúng ta sẽ cảm nhận được điều đó.
Khi Phật tử cúng dường, chư tăng có lời động viên, khích lệ tu hành tinh tấn trau
dồi Phước thiện, làm lành tránh dữ, lấy nhân quả làm gốc. Sau đó Chư Tăng tụng
kinh chúc phúc, và Phật tử hồi hướng phước báu.
Cũng như các chùa Nam Tông khác ở Việt Nam, các tu sĩ chùa Tăng Quang
tụng kinh song ngữ Pàli - Việt.
Như vậy về mặt nghi lễ, chùa Tăng Quang đã góp phần mới mẻ và phong phú
thêm cho sinh hoạt tín ngưỡng của Phật Giáo tại cố đô Huế.
3.2.Lễ hội:
Lễ hội Phật giáo Nguyên Thuỷ thường căn cứ trên kinh điển và lịch sử cuộc
đời, lịch sử hoằng pháp của Đức Tôn sư. Lễ hội của Phật Giáo Nguyên Thuỷ không
hoàn toàn giống với lễ hội Phật giáo bình thường. Tại chùa Tăng Quang, có một số
lễ hội trong năm như sau:
Rằm tháng giêng là ngày kỷ niệm đại hội Thánh Tăng và tưởng niệm năm đức
Phật 80 tuổi.
Rằm tháng tư là đại lễ Tam hợp: Bồ Tát đản sanh, đức Phật thành đạo và đức
Phật niết bàn.
Rằm tháng sáu có nhiều ý nghĩa: Bồ Tát giáng trần, Bồ Tát xuất gia… ngày
này cũng là khởi điểm mùa an cư kiết hạ của Chư Tăng Nam Tông.
Lễ hội dâng y Kathina kéo dài một tháng từ 16-9 âm lịch đến 15-10 âm lịch
theo truyền thống Phật Giáo Nguyên Thuỷ. Tuy nhiên, chùa Tăng Quang chọn
ngày 17-9 âm lịch làm lễ dâng y, đây là một lễ hội lớn trong năm của chùa.


KẾT LUẬN

Tăng Quang Tự là ngôi chùa đầu tiên của Phật Giáo Nam Tông xứ Huế. Chùa
là minh chứng cho sự thành công trên con đường truyền nhập đạo pháp của các vị
tiền sư, đặc biệt là đại đức Giới Nghiêm. Hiện nay, trụ trì chùa Tăng Quang là đại
đức Tánh Hiền, chùa hiện có 8 chư tăng. Ngôi chùa đã qua nhiều lần trùng tu sửa
chữa, về cơ bản chùa Tăng Quang đã được xây dựng khá hoàn chỉnh và vững chãi.
Tuy nhiên, qua quan sát thực tế thì hiện nay chùa Tăng Quang còn tồn tại một số
bất cập.
Thứ nhất , quang cảnh trước chùa là một hồ rộng cỏ dại mọc um tùm, không
lấy làm mỹ quan.
Thứ hai, chùa là nơi thờ tự Đức Phật Thích Ca - một yếu tố quan trọng trong
tâm linh mỗi người và là nơi tu tập của nhiều chư tăng, song Chánh điện cũng như
các công trình khác trong chùa được xây dựng ở vùng đất trũng trước đây nên còn
thấp, khả năng bị ngập lụt là rất cao.
Thứ ba, khu nhà dành để dạy ngoại ngữ và giảng pháp cho các em thiếu nhi
còn trang bị sơ sài chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng. Vì thế rất cần tấm lòng của
các tín đồ phật giáo để làm cơ sở vật chất của chùa ngày càng được cải thiện hơn.
Ngày nay, khi mà chúng ta đã có đủ tất cả những điều kiện để tìm về với
những giá trị văn hoá dân tộc, những yếu tố văn hoá mang tính tâm linh thì việc
quan tâm nâng cấp chùa Tăng Quang là việc làm rất cần thiết. Bởi lẽ, dù kiến trúc
của chùa chưa thật nổi bật, dù bề dày lịch sử có phần khiêm tốn so với các ngôi
chùa khác ở Huế, những ngôi Quốc Tự hàng trăm năm thì chùa Tăng Quang vẫn có
giá trị lớn với lịch sử Phật Giáo Nam Tông xứ Huế. Chùa là cơ sở đầu tiên và hết
sức quan trọng cho sự phát triển và lan toả hệ phái Nam Tông cố đô Huế. Chùa
không chỉ là nơi tu hành siêu phàm thoát tục mà còn là nơi để con người tĩnh tâm
cho tâm hồn thanh thản sau những lo toan bộn bề của cuộc sống bụi trần. Lời tụng
kinh tiếng Pàli dù không phải ai cũng dễ dàng lãnh thụ, xong mỗi lần quỳ dưới
chân Đức Phật ta thấy lòng nhẹ nhàng hơn. Tiếng chuông chùa là một âm thanh

4. Nguyễn Tài Thư( 1988 ), Lịch sử Phật Giáo Việt Nam, Khoa học xã hội.
5. Nguyễn Tối Thiện, Lịch sử truyền bá Phật Giáo Nguyên Thuỷ, Xuất bản
năm 1990.
6. Nguyễn Văn Sáu, Lịch sử Phật Giáo Nam Tông Việt Nam, ấn hành 1987.
7. Tỳ Kheo Thiện Minh, Phật Giáo Nam Tông cố đô Huế, Nguyệt san giác
ngộ, tháng 9/2002.
8. Tỳ Kheo Thiện Minh, Vài nét về sự phát triển của Phật giáo Nguyên
Thuỷ tại Việt Nam, Nguyệt san giác ngộ, số 88, tháng 7/2003.
9. Huyền Không văn bút, đặc san của Tăng ni sinh, số ra ngày 22-5-2002.
10. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Việt Nam (1999), NXB Giáo Dục tái
bản lần 2.
PHỤ LỤC ẢNH
Chùa Tăng Quang nhìn từ ngoài vào
Bảo tháp tôn trí xá lợi Đức Phật Thích Ca
Bệ thờ trong Chánh điện
Cổng Tam quan
Lễ dâng y Kathina
Tăng xá
Cứu trợ nhân dân mùa mưa lũ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status