BÀI IV
ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở MIỀN BẮC
VÀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954-1975)
I. ĐƯỜNG LỐI CHIẾN LƯC CÁCH MẠNG CỦA CẢ NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN
MỚI
1. Đặc điểm nước ta sau tháng 7-1954
Sau khi ký kết Hiệp đònh Giơ-ne-vơ 1954 về Đông Dương, nhiệm vụ của nhân dân
ta trong thời kỳ đầu là đấu tranh đòi đối phương phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp
đònh vừa ký, trong đó có hai điều cơ bản là:
- Quân viễn chinh Pháp phải rút khỏi miền Bắc từ vó tuyến 17 trở ra trong thời gian
300 ngày.
- Các nhà cầm quyền ở hai miền Nam-Bắc mở hội nghò hiệp thương để tổ chức tổng
tuyển cử thực hiện thống nhất đất nước trong thời gian hai năm.
Mặc dù Pháp rất ngoan cố, nhưng do tinh thần kiên quyết của nhân dân ta, nên đến
ngày 10-10-1954 tên lính Pháp cuối cùng đã rút khỏi Hà Nội và ngày 16-5-1955,
toàn bộ quân đội viễn chinh Pháp đã phải rút khỏi miền Bắc. Ta đã tiếp quản toàn
bộ những khu vực quân Pháp rút đi đúng thời hạn. Tình hình chính trò-xã hội trên
miền Bắc đã nhanh chóng được ổn đònh, tạo tiền đề đưa miền Bắc từng bước quá độ
lên chủ nghóa xã hội.
Miền Bắc nước ta đã được giải phóng, nhưng sự nghiệp thống nhất đất nước chưa
thực hiện được.
Lợi dụng sự thất bại của đế quốc Pháp, đế quốc Mỹ đã nhảy vào miền Nam gạt
Pháp để thay chân, thực hiện âm mưu biến miền Nam thành thuộc đòa kiểu mới và
căn cứ quân sự của Mỹ.
Thực hiện âm mưu trên, trước khi Hiệp đònh Giơ-ne-vơ được ký kết, ngày 7-7-1954,
Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn làm Thủ tướng Chính phủ bù nhìn thay Bửu
Lộc. Ngày 17-7-1955, theo chỉ đạo của Mỹ, Diệm tuyên bố không hiệp thương tổng
tuyển cử thống nhất đất nước.
Ngày 23-10-1955, Chính phủ bù nhìn đã tổ chức cái gọi là “trưng cầu dân ý” để phế
truất Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống.
Đứng trước thảm họa đất nước bò chia cắt lâu dài. Tình hình đó đặt ra cho Đảng ta
Cuộc cách mạng xã hội chủ nghóa ở miền Bắc giữ vai trò quyết đònh nhất đối với sự
phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự sự nghiệp thống nhất nước
nhà.
Cuộc cách mạng dân tộc-dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ một vò trí rất quan
trọng. Nó có tác dụng “quyết đònh trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam
khỏi ách thống trò của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất
nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc-dân chủ nhân dân trong cả
nước”
1
Hai chiến lược cách mạng khác nhau tiến hành đồng thời ở hai miền có mối
liên hệ gắn bó mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau cùng phát triển và đều hướng
vào mục tiêu chung trước mắt của cả nước là thực hiện hòa bình thống nhất nước
nhà.
Đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà là nhiệm vụ thiêng liêng của nhân dân cả
nước ta. Đó là một quá trình đấu tranh gian khổ, phức tạp và lâu dài nhằm chống đế
quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng ở miền Nam.
1
Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội III, tập I, Nxb. Chính trò Quốc gia, Hà Nội, tr.34.
Download tài liệu này tại :
2
Thực tiễn lòch sử nước ta chứng minh rằng đường lối trên đây đã phản ánh đúng quy
luật vận động cách mạng ở nước ta trong giai đoạn 1954-1975, đồng thời phù hợp
với xu thế phát triển chung của thời đại. Vì vậy cách mạng nước ta đã phát huy được
sức mạnh tổng hợp của cả nước và của thời đại để chiến thắng đế quốc Mỹ xâm
lược, giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc.
II. ĐẢNG LÃNH ĐẠO CUỘC CÁCH MẠNG VÀ CHIẾN TRANH CÁCH
MẠNG Ở MIỀN NAM
1. Thời kỳ 1954-1960: Từ thế giữ gìn lực lượng chuyển dần sang thế tiến công, đánh
3
Thực hiện chủ trương chuyển hướng của Đảng, hàng trăm tổ chức quần chúng công
khai, trong đó có các ủy ban đấu tranh đòi hòa bình được thành lập ở miền Nam.
Phong trào đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử, chống bầu cử lừa bòp, chống
cướp đất, dồn dân, chống khủng bố, chống bắt lính v.v… được phát triển mạnh mẽ ở
cả nông thôn và đô thò.
Để giữ gìn lực lượng và duy trì hoạt động trong điều kiện kẻ thù khủng bố dã man,
các đảng bộ ở miền Nam đã sắp xếp lại tổ chức và rút vào hoạt động bí mật.
Trước tình hình đó, Đảng ta nhận đònh rằng: chính sách phát xít hóa của Mỹ-Diệm
một mặt gây khó khăn to lớn cho cách mạng miền Nam, song mặt khác, đó là thể
hiện thế yếu của kẻ thù. Chính sách đó, khoét sâu thêm mâu thuẫn giữa Mỹ-Diệm
với nhân dân miền Nam: “Tức nước ắt sẽ vỡ bờ”, nhân dân miền Nam nhất đònh sẽ
vùng lên đánh đổ chúng. Nhiều nơi quần chúng lấy vũ khí chôn giấu từ năm 1954,
cướp súng đòch, dùng vũ khí tự tạo để tự vệ, chống lại khủng bố, tiêu diệt những tên
phản động, ác ôn.
Tháng 10-1957, tại chiến khu D, đại đội 250 – đơn vò vũ trang đầu tiên được thành
lập. Đến cuối năm 1957, ở Nam bộ có 37 đại độ vũ trang, ở Liên khu V nhiều đội vũ
trang cũng được thành lập. Sự xuất hiện lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang hỗ
trợ phối hợp với đấu tranh chính trò đã tạo nên sức mạnh mới trong cuộc chiến đấu
một mất một còn của nhân dân miền Nam chống Mỹ-Diệm.
Tháng 1 năm 1959, Hội nghò lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa
II) đã thông qua Nghò quyết về đường lối cách mạng miền Nam. Tư tưởng chỉ đạo
cực kỳ quan trọng của Nghò quyết là nhân dân miền Nam phải dùng con đường cách
mạng bạo lực để tự giải phóng mình, ngoài ra, không còn con đường nào khác.
Phương hướng phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là chuẩn bò để tiến lên
khởi nghóa giành chính quyền. Phương thức khởi nghóa được dự kiến là “dựa vào lực
lượng chính trò của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh
đổ chính quyền thống trò của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách
mạng của nhân dân”. Tiến lên khởi nghóa giành chính quyền trong một quá trình
Thắng lợi của phong trào “đồng khởi” của quần chúng miền Nam là bước nhảy vọt
có ý nghóa lòch sử của cách mạng miền Nam, đồng thời cũng là cột mốc đánh dấu sự
thất bại đầu tiên và có ý nghóa chiến lược đối với chính sách xâm lược thực dân mới
của Mỹ.
2. Thời kỳ 1961-1965 : Đảng lãnh đạo nhân dân ta đánh bại chiến lược “chiến tranh
đặc biệt” của đế quốc Mỹ.
Do thất bại nặng nề trong chiến tranh “đơn phương”, đế quốc Mỹ phải đối phó bằng
cách chuyển sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam. Chiến lược “chiến
tranh đặc biệt” là một trong ba loại chiến tranh xâm lược trong chiến lược “phản
ứng linh hoạt” của Tổng thống Ken-nơ-đi. Trong chiến lược chiến tranh này, Mỹ đã
tăng cường lực lượng ngụy quân và khả năng cơ động của chúng với các phương tiện
chiến tranh hiện đại do Mỹ trực tiếp chỉ huy trong các cuộc hành quân nhằm đẩy
mạnh quốc sách “ấp chiến lược” nhằm dồn dân, tách lực lượng cách mạng ra khỏi
nhân dân để bình đònh miền Nam. Với những thủ đoạn trên, Mỹ-Diệm hy vọng sẽ
nhanh chóng làm thay đổi tương quan lực lượng để dễ bề tiêu diệt cách mạng miền
Nam.
Đánh giá tình hình và phân tích một cách khoa học so sánh lực lượng giữa ta và đòch
ở miền Nam từ sau ngày “đồng khởi”, Bộ Chính trò của Đảng ta trong những cuộc
họp tháng 1 năm 1961 và tháng 2 năm 1962 đã đề ra chủ trương chỉ đạo chính xác
là: tiếp tục giữ vững tư tưởng chiến lược tiến công, đưa đấu tranh vũ trang phát triển
lên song song với đấu tranh chính trò, tiến công đòch trên cả ba vùng chiến lược: đô
thò, nông thôn đồng bằng và nông thôn rừng núi, thực hiện phương châm đánh đòch
Download tài liệu này tại :
5
bằng ba mũi giáp công, tức là tiến công phối hợp bằng ba mặt: quân sự, chính trò và
binh vận.
Để tăng cường sự chỉ đạo của Trung ương Đảng đối với cách mạng miền Nam,
Trung ương Cục miền Nam đã được thành lập vào tháng 1-1961. Đồng chí Nguyễn
Văn Linh được cử làm Bí thư Trung ương Cục. Đảng bộ miền Nam được kiện toàn
Bò thất bại trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ vội vã đổ quân viễn
chinh ồ ạt vào miền Nam với quy mô ngày càng lớn để tiến hành “chiến tranh cục
bộ”, nhằm cứu cho ngụy quân-ngụy quyền Sài Gòn đang trên đà sụp đổ. Đồng thời,
Download tài liệu này tại :
6
đế quốc Mỹ còn liều lónh gây chiến tranh phá hoại bằng lực lượng không quân và
hải quân ở miền Bắc nhằm ngăn chặn sự chi viện to lớn của miền Bắc đối với miền
Nam, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghóa xã hội ở miền Bắc và hòng làm lung
lay quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam, từ đó buộc ta phải kết
thúc chiến tranh theo điều kiện do Mỹ đưa ra.
Để chống lại cuộc “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, Ban chấp hành Trung ương Đảng
đã họp các Hội nghò lần thứ 11 (3-1965) và lần thứ 12 (12-1965) để đánh giá tình
hình mới, và đề ra nhiệm vụ để lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn
kết, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền
Bắc, thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà.
Trên cơ sở phân tích tình hình trong nước và tình hình quốc tế, so sánh tương quan
lực lượng giữa ta và đòch cả thế và lực, Trung ương Đảng nhận đònh: mặc dầu đế
quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, nhưng so sánh lực
lượng giữa ta và đòch vẫn không thay đổi lớn, cuộc chiến tranh trở nên gay gắt, ác
liệt, nhưng nhân dân ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững thế chủ động trên chiến
trường; cuộc “chiến tranh cục bộ” mà Mỹ đang tiến hành ở miền Nam vẫn là cuộc
chiến tranh xâm lược thực dân mới. Cuộc chiến tranh đó được đề ra trong thế thua,
thế thất bại và bò động, vì thế nó chứa đựng đầy mâu thuẫn về chiến lược; đế quốc
Mỹ không thể nào cứu vãn được tình thế nguy khốn, bế tắc của chúng ở miền Nam.
Từ sự phân tích và nhận đònh trên, Trung ương Đảng chỉ rõ: chống Mỹ, cứu nước là
nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc từ Nam chí Bắc. Kiên quyết đánh bại cuộc
chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, nhằm bảo vệ
miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà.
thứ nhất (1965-1966) và thứ hai (1966-1967) đều đã lần lượt bò thất bại. Mặc dù số
quân Mỹ và ngụy ngày càng tăng, chúng vẫn không sao xoay chuyển được cục diện
chiến tranh.
Cuộc phản công chiến lược mùa khô thứ hai, số quân Mỹ tăng lên 38 vạn so với 20
vạn ở mùa khô trước, cùng với 5 vạn quân chư hầu và 54 vạn quân ngụy. Thế
nhưng, tất cả các cuộc hành quân quy mô lớn của đế quốc Mỹ đều bò quân và dân
miền Nam bẻ gãy. Từ chiến lược phản công chúng phải chuyển sang chiến lược
phòng ngự, cố thủ trong suốt mùa mưa 1967 để đề phòng các trận đánh lớn của quân
ta.
Vào cuối năm 1967, cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ đã được đẩy đến đỉnh cao, số
quân viễn chinh đổ vào miền Nam đã lên 48 vạn, thế nhưng Mỹ vẫn không sao thực
hiện được những mục tiêu chính trò và quân sự đã đề ra.
Bộ Chính trò của Đảng trong cuộc họp tháng 12-1967 nhận đònh rằng những thất bại
và khó khăn của đòch cùng với những thắng lợi to lớn của ta vừa giành được cả về
quân sự lẫn chính trò, về chiến thuật lẫn chiến lược và sự phát triển vững mạnh cả
về thế và lực của ta đã mở ra cho cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam những
triển vọng to lớn. Từ đó, Bộ Chính trò trong Hội nghò tháng 12 năm 1967 đã ra một
Nghò quyết lòch sử, chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang thời kỳ mới,
thời kỳ tiến lên giành thắng lợi quyết đònh bằng phương pháp tổng công kích, tổng
khởi nghóa. Yêu cầu trước mắt của tổng công kích và tổng khởi nghóa là giáng cho
đòch những đòn tiến công quyết đònh, làm thay đổi cục diện chiến tranh, làm lung
lay hơn nữa ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải thay đổi chiến lược,
phải xuống thang chiến tranh. Nghò quyết đó của Bộ Chính trò đã được Hội nghò toàn
thể lần thứ 14 của Trung ương Đảng thông qua tháng Giêng năm 1968.
Thực hiện chủ trương trên của Đảng, đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1 năm 1968, vào
dòp tết Mậu Thân, thừa lúc đòch sơ hở và hoàn toàn bất ngờ, các lực lượng vũ trang
Download tài liệu này tại :
8
và nhân dân miền Nam cùng lúc tấn công và nổi dậy ở Sài Gòn và 64 căn cứ của
chính sách rất thâm độc của Mỹ nhằm “dùng người Việt Nam đánh người Việt
Nam” để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới ở miền Nam.
Thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, từ năm 1969, đế quốc Mỹ một
mặt buộc phải rút quân ra khỏi miền Nam để sắp xếp lại lực lượng cho phù hợp với
yêu cầu điều chỉnh của “học thuyết Níchxơn” trên phạm vi thế giới. Mặt khác,
chúng rất ngoan cố không chòu rút hết quân ngay, mà rút nhỏ giọt, tận dụng số quân
2
Bộ chính trò Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam , Kết luận về Tổng kết cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước (ngày 25/5/1994)
Download tài liệu này tại :
9
Mỹ còn lại rất lớn trên chiến trường cùng với quân ngụy được gấp rút tăng lên hơn
một triệu, để tiếp tục kéo dài cuộc chiến tranh ở miền Nam: chúng còn tăng cường
mở rộng chiến tranh sang Lào và Căm Pu Chia, mở rộng “Việt Nam hóa chiến
tranh” thành “Đông Dương hóa chiến tranh”.
Sự phản kích ác liệt của đòch trong các chiến dòch bình đònh cấp tốc, xây dựng lại cơ
sở hạ tầng của chủ nghóa thực dân mới ở nông thôn đã gây cho ta nhiều khó khăn
tổn thất trong hai năm 1969-1970.
Tháng 1 năm 1970 Trung ương Đảng họp hội nghò toàn thể lần thứ XVIII để đònh ra
những chủ trương mới nhằm chống lại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của
đế quốc Mỹ.
Thực hiện chủ trương chỉ đạo của Trung ương Đảng, trong những năm 1970-1971,
cách mạng miền Nam đã vượt qua khó khăn gian khổ, kiên trì xây dựng và phát
triển lực lượng tiến công đòch trên cả ba vùng chiến lược, đánh bại từng bước chiến
lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh”.
Tháng 3 năm 1970 quân và dân ta đã phối hợp với quân dân Căm Pu Chia đánh bại
cuộc hành quân quy mô lớn trên 10 vạn quân ngụy do Mỹ chỉ huy đánh sang Căm
Pu Chia nhằm cứu nguy cho Chính phủ Lon-non vừa mới được Mỹ dựng lên sau khi
các đòa bàn xung yếu Quảng Trò, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, tiêu diệt được
nhiều sinh lực đòch, tạo điều kiện cho nhân dân nổi dậy giành chính quyền làm chủ.
Trước tình hình đó, đế quốc Mỹ, đã điên cuồng đối phó bằng cách vội vã “Mỹ hóa”
trở lại cuộc chiến tranh ở miền Nam, đánh phá trở lại miền Bắc lần thứ hai bằng
những thủ đoạn chiến tranh có tính chất hủy diệt, tàn bạo; Song, chúng lại bò thất
bại, không sao cứu vãn nỗi tình thế. Chỉ trong vòng 5 tháng tiến công đòch (từ cuối
tháng 3 năm 1972 đến tháng 8 năm 1972) ta đã tiêu diệt 28 vạn quân đòch, tiêu diệt
và làm thiệt hại nặng 7 trong số 13 sư đoàn chủ lực của đòch. Được sự hỗ trợ của lực
lượng vũ trang, đồng bào miền Nam đã nổi dậy phá vỡ ách kềm kẹp của đòch trên
nhiều đòa bàn rộng lớn ở nông thôn, làm cho kế hoạch “bình đònh” của Mỹ-ngụy bò
thất bại nặng nề.
Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đã giành được thắng lợi to lớn và toàn diện.
Cùng với chiến thắng oanh liệt của quân và dân miền Bắc đã đập tan cuộc tập kích
chiến lược bằng pháo đài bay B52 của Mỹ trong 12 ngày đêm (từ 18 đến 30-12-
1972), nhân dân ta đã làm cho chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc
Mỹ bò thất bại nặng nề. Đầu năm 1973, Mỹ buộc phải chấm dứt vô điều kiện ném
bom miền Bắc lần thứ hai và phải ký Hiệp đònh Pa-ri ngày 27 tháng 1 năm 1973 về
“chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”.
Việc ký kết Hiệp đònh Pa-ri đánh dấu thắng lợi có ý nghóa quyết đònh của cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Nhân dân ta đã đè bẹp được ý
chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải rút hết quân đội viễn chinh và chư hầu
ra khỏi miền Nam nước ta. Tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân ta tiến lên “đánh
cho ngụy nhào” giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất Tổ quốc.
Mặc dù đã bò thất bại nặng nề, phải ký Hiệp đònh Pa-ri, nhưng đế quốc Mỹ vẫn
ngoan cố, không chòu từ bỏ dã tâm xâm lược Việt Nam, tiếp tục tiến hành chiến
tranh để áp đặt chủ nghóa thực dân mới và chia cắt lâu dài đất nước ta.
Một trong những mục tiêu chiến tranh mà Mỹ-ngụy đề ra trong kế hoạch 3 năm
(1973-1976) là chiếm lại toàn bộ vùng giải phóng của ta, xóa bỏ hình thái “da báo”
ở miền Nam, nhằm biến miền Nam thành một quốc gia riêng biệt, lệ thuộc vào Mỹ.
Ngay sau khi Hiệp đònh Pa-ri được ký kết, dưới sự chỉ huy của Mỹ, chính quyền tay
đầy đủ về quân sự, chính trò, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ
quốc”. Từ nhận đònh đó, Bộ Chính trò đề ra “quyết tâm chiến lược giải phóng miền
Nam với kế hoạch hai năm 1975-1976” mà tinh thần là: năm 1975 tranh thủ bất ngờ
tấn công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện để đến năm 1976 tiến hành tổng công
kích-tổng khởi nghóa, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Ngoài kế hoạch nói trên, Bộ
Chính trò còn dự kiến một phương án khác là “nếu thời cơ đến, vào đầu hoặc cuối
năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975”.
Chấp hành quyết đònh trên, ngày 10 tháng 3 năm 1975, quân dân ta tiến công thò xã
Buôn Mê Thuột, tiến lên giải phóng Tây Nguyên và tiếp đó, ngày 26 tháng 3 năm
1975 giải phóng Huế và giải phóng Đà Nẵng vào ngày 29 tháng 3 năm 1975. Quân
ngụy đứng trước nguy cơ sụp đổ hoa
øn toàn, còn Mỹ thì tỏ ra bất lực, dù chúng có can
thiệp thế nào cũng không thể cứu nguy cho quân ngụy được.
Download tài liệu này tại :
12
Ngày 31 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trò đã có nhận đònh cực kỳ quan trọng: “Từ
giờ phút này, trận quyết chiến cuối cùng của quân dân ta đã bắt đầu nhằm hoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và thống nhất Tổ quốc” và
hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn trong tháng 4 năm 1975.
Chiến dòch Hồ Chí Minh lòch sử mở màn ngày 26 tháng 4 năm 1975 và kết thúc toàn
thắng vào ngày 30-4-1975. Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975,
quân dân ta đã tiêu diệt và làm tan rã hơn một triệu quân ngụy, xóa bỏ bộ máy
chính quyền tay sai của Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, đưa sự nghiệp chống
Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.
5. Ý nghóa, nguyên nhân thắng lợi và kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước
a) Ý nghóa lòch sử và nguyên nhân thắng lợi
Đánh giá thắng lợi lòch sử của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, Báo cáo Chính trò tại
13
Thắng lợi đó cũng là kết quả của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghóa ở miền
Bắc, của đồng bào miền Bắc vừa chiến đấu vừa xây dựng, hoàn thành xuất sắc
nghóa vụ của hậu phương lớn và hết lòng hết sức chi viện cho tiền tuyến lớn miền
Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Thắng lợi đó là kết quả tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân Việt Nam, Lào, Căm
Pu Chia và kết quả của sự ủng hộ hết lòng và sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội
chủ nghóa anh em, sự ủng hộ nhiệt tình của phong trào công nhân và nhân dân tiến
bộ trên toàn thế giới cũng như của nhân dân Mỹ.
b) Những kinh nghiệm lòch sử
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm đã để lại nhiều bài học kinh
nghiệm hết sức quý báu.
Một là, giương cao cùng một lúc ngọn cờ độc lập, dân tộc và chủ nghóa xã hội.
Với đường lối đó, Đảng ta đã động viên được đến mức cao nhất lực lượng hùng hậu
của nhân dân cả nước, kết hợp tiền tuyến lớn với hậu phương lớn, kết hợp sức mạnh
của nhân dân ta với sức mạnh ba dòng thác cách mạng của thời đại tạo nên sức
mạnh tổng hợp để chiến đấu và chiến thắng giặc Mỹ xâm lược.
Hai là, Đảng ta hết sức coi trọng việc xây dựng lực lượng cách mạng ở miền Nam,
đi đôi với việc tổ chức xây dựng lực lượng chiến đấu trong cả nước.
Lực lượng cách mạng đó là các đảng bộ miền Nam được tôi luyện thành các bộ
tham mưu dày dạn trên tiền tuyến lớn, là khối liên minh công-nông được Đảng dầy
công xây đắp trong suốt quá trình cách mạng dân tộc, dân chủ, là đội quân chính trò
quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân, hai lực lượng cơ bản hùng hậu trong
chiến tranh cách mạng, là Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cùng
với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã động viên, tập
hợp ngày càng rộng rãi, đông đảo các tầng lớp nhân dân, không phân biệt giai cấp,
tôn giáo, dân tộc vào cuộc kháng chiến, cứu nước, đồng thời tranh thủ được sự ủng
hộ ngày càng to lớn của nhân dân và chính phủ nhiều nước yêu hòa bình và công lý
trên thế giới, đi đôi với việc tổ chức lực lượng chiến đấu trong cả nước.
Ba là, Đảng ta đã tìm ra được phương pháp đấu tranh cách mạng đúng đắn, sáng tạo.
bại từng bước âm mưu và hành động của đòch, tạo điều kiện để tiến lên giành thắng
lợi cuối cùng. Một trong những bài học về chỉ đạo chiến lược mà Đảng ta rút ra là
trên cơ sở phương hướng chiến lược đúng, hãy làm đi, rồi thực tế sẽ cho phép ta hiểu
rõ sự vật hơn nữa.
III. ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở MIỀN BẮC
Trung thành với đường lối cách mạng đã vạch ra từ ngày Đảng mới ra đời – cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân thắng lợi sẽ chuyển sang cách mạng xã hội chủ
nghóa, Đảng ta đã đưa miền Bắc được hoàn toàn giải phóng tiến lên theo đònh hướng
xã hội chủ nghóa. Miền Bắc đi lên chủ nghóa xã hội trong một bối cảnh lòch sử hết
sức đặc biệt. Đó là:
- Đất nước tạm thời bò chia cắt và có chiến tranh với những hình thức và mức độ
khác nhau ở hai miền. Ở miền Bắc đã phải trải qua hai cuộc chiến tranh phá hoại có
tính chất hủy diệt bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ. Nhân dân ta vừa
phải xây dựng, lại vừa phải bảo vệ và phải ba lần khôi phục kinh tế, vừa phải bảo
đảm yêu cầu đời sống của nhân dân và yêu cầu chiến đấu bảo vệ miền Bắc, lại vừa
phải giành một phần ngày càng to lớn nhân lực và vật lực cho cuộc chiến đấu để
giải phóng miền Nam, thực hiện vai trò hậu phương lớn của cuộc chiến tranh.
- Trong công cuộc xây dựng chủ nghóa xã hội ở miền Bắc cũng như kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước trên cả nước, nhân dân ta đã được sự ủng hộ hết lòng và sự
viện trợ to lớn về mọi mặt của các nước xã hội chủ nghóa anh em (từ giữa những
năm 50 đến đầu những năm 70).
Download tài liệu này tại :
15
Bên cạnh mặt thuận lợi đó, còn có một số khó khăn và hạn chế do xảy ra sự bất
đồng, rạn nứt và đi đến chia rẽ sâu sắc giữa các nước xã hội chủ nghóa anh em, nhất
là giữa Liên Xô và Trung Quốc.
- Miền Bắc nước ta, đặc điểm lớn nhất là từ sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghóa
xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghóa. Không thể nắm bắt ngay được
những quy luật vận động đi lên chủ nghóa xã hội, nếu không phải trải qua một thời
Trên cơ sở thắng lợi của kế hoạch khôi phục kinh tế, Đảng đã tổ chức thực hiện kế
hoạch cải tạo xã hội chủ nghóa, bước đầu phát triển kinh tế-văn hóa (1958-1960) do
Download tài liệu này tại :
16
Hội nghò lần thứ 14 của Trung ương Đảng vạch ra. Đảng đã đặt vấn đề cải tạo xã
hội chủ nghóa đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và đối
với thành phần kinh tế tư bản tư doanh là nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, cần phải
tiến hành ngay để thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất.
Nhiệm vụ cải tạo và phát triển nông nghiệp được xem là trọng tâm. Để giải quyết
vấn đề phát triển nông nghiệp, lúc đó Đảng ta cho rằng giải pháp chiến lược thích
hợp nhất đối với nước ta là con đường hợp tác hóa, thực hiện hợp tác hóa trước khi
cơ giới hóa, và từ nền kinh tế nông nghiệp hợp tác hóa mà thúc đẩy việc cải tạo và
phát triển các ngành kinh tế khác.
Thực hiện chủ trương của Đảng, phong trào hợp tác hóa được đẩy mạnh vào năm
1958 và nhanh chóng thành cao trào. Chỉ sau hơn 2 năm, hợp tác hóa nông nghiệp
được đánh giá như hoàn thành về cơ bản, sớm hơn dự kiến ban đầu. Có 85,8% hộ
nông dân tham gia hợp tác xã, chủ yếu là hợp tác xã bậc thấp, chiếm 76% ruộng đất
của nông dân ở miền Bắc. Như vậy đến cuối 1960, trong nông thôn miền Bắc, quan
hệ sản xuất xã hội chủ nghóa đã được xác lập dưới hình thức hợp tác xã.
Phong trào hợp tác hóa phát triển nhanh, nhưng không vững, vì những điều kiện cần
thiết cho nó tồn tại chưa hình thành: cơ sở vật chất-kỹ thuật hầu như chưa có gì, sản
xuất hàng hóa chưa có, cán bộ quản lý thiếu và yếu, quần chúng chưa được chuẩn
bò… Hậu quả là làm cho các hợp tác xã trong buổi đầu thành lập không có đủ sức
sống, không đủ cơ sở để phát triển vững chắc.
Việc cải tạo xã hội chủ nghóa đối với thợ thủ công và những người buôn bán nhỏ
cũng diễn ra trong tình trạng tương tự: vội vàng, nôn nóng, mệnh lệnh, gò ép, không
tính đến yêu cầu xã hội và hiệu quả thực tế. Vào cuối năm 1960, đã có 88% thợ thủ
công miền Bắc gia nhập các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp bậc thấp và bậc cao;
45% người buôn bán nhỏ được tổ chức vào các hợp tác xã mua bán, gần 5 vạn người
sống ấm no, hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh
cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
Các biện pháp và con đường để đạt đến đònh hướng và mục tiêu trên là:
- Sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lòch sử của chuyên chính vô
sản để tổ chức tiến hành cách mạng xã hội chủ nghóa.
- Thực hiện cải tạo xã hội chủ nghóa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương
nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản tư doanh và đồng thời phát triển thành
phần kinh tế quốc doanh.
- Thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghóa bằng cách ưu tiên phát triển công
nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công
nghiệp nhẹ.
- Đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghóa về tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật.
- Yêu cầu đạt đến của công cuộc xây dựng chủ nghóa xã hội là biến nước ta thành
một nước xã hội chủ nghóa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, khoa học
tiên tiến.
Nhìn chung đường lối trên đây và cả những điều bổ sung về sau còn trên đại thể,
chưa rõ ràng và nhất là không thoát khỏi những mô hình sai trái, chệch hướng của
các nước xã hội chủ nghóa trên thế giới lúc đó. Trong thời kỳ này (và cho đến những
năm đầu khi cả nước đi lên chủ nghóa xã hội) tư duy lý luận của Đảng còn những
mặt non kém, lại thêm tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí… nên những sai lầm
lệch lạc trong quá trình tìm con đường đi lên chủ nghóa xã hội là không tránh khỏi.
3. Thời kỳ 1961-1965: Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
Đại hội lần III của Đảng đã vạch ra phương hướng nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm
(1961-1965) là “phấn đấu xây dựng bước đầu cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghóa
xã hội, thực hiện một bước c
ông nghiệp hóa xã hội chủ nghóa và hoàn thành công
Download tài liệu này tại :
18
cuộc cải tạo xã hội chủ nghóa, tiếp tục đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến
tiến những bước dài chưa từng có trong lòch sử dân tộc. Đất nước, xã hội, con người
đều đổi mới”
4
với chế độ chính trò ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốc phòng lớn
mạnh, miền Bắc đã trở thành căn cứ đòa vững chắc cho cách mạng cả nước.
4. Thời kỳ 1965-1975:
4
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 9, Nxb. Chính trò Quốc gia, Hà Nội, 2000.
Download tài liệu này tại :
19
Trước tình hình đế quốc Mỹ chuyển sang kế hoạch “chiến lược chiến tranh cục bộ”
ở miền Nam và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc (kể từ 5-8-1964), theo Nghò quyết
của Hội nghò lần thứ 11 và lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (năm
1965), miền Bắc bước vào thời kỳ chuyển hướng xây dựng kinh tế nhằm tiếp tục
xây dựng chủ nghóa xã hội cho phù hợp với tình hình mới. Các nhiệm vụ được vạch
ra là:
Một là: kòp thời chuyển hướng xây dựng kinh tế cho phù hợp với tình hình có chiến
tranh phá hoại, bảo đảm yêu cầu chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, tích cực chi viện
cho miền Nam, đồng thời vẫn phù hợp với phương hướng lâu dài của công cuộc
công nghiệp hóa xã hội chủ nghóa và chú ý đúng mức đến các yêu cầu về đời sống
của nhân dân.
Hai là: phải tăng cường nhanh chóng lực lượng quốc phòng cho kòp với sự phát triển
tình hình có chiến tranh trong cả nước, ra sức tăng cường công tác phòng thủ, đánh
trả để bảo vệ miền Bắc. Cố gắng hạn chế tới mức thấp nhất sự thiệt hại do đòch gây
ra và gây thiệt hại cho đòch tới mức cao nhất. Nắm vững phương châm dựa vào sức
mình là chính, đồng thời chú trọng tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ
nghóa.
Ba là: ra sức chi viện cho miền Nam.
trào chống Mỹ, cứu nước, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, với niềm tin tưởng và quyết
tâm thắng Mỹ cao độ.
Sau bốn năm thực hiện chuyển hướng kinh tế, miền Bắc đã đạt được những thành
tích đáng tự hào trên các mặt chính trò, kinh tế, văn hóa, xã hội, chi viện đắc lực cho
tiền tuyến lớn miền Nam.
Công cuộc xây dựng chủ nghóa xã hội vẫn tiếp tục, làm cho miền Bắc ngày càng
thêm vững mạnh. Chuyển hướng kinh tế, tiếp tục sự nghiệp xây dựng chủ nghóa xã
hội trong hoàn cảnh có chiến tranh là nét đặc biệt, chưa có tiền lệ. Sản xuất nông
nghiệp không những không giảm sút mà vẫn có bước phát triển tiến bộ. Cơ sở vật
chất-kỹ thuật trong nước được tăng cường hơn so với trước chiến tranh; có 4.655 hợp
tác xã được trang bò cơ khí nhỏ; nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm cho toàn
xã hội vẫn đảm bảo.
Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp vẫn được duy trì mặc dù gặp nhiều
khó khăn gay gắt.
Đời sống nhân dân căn bản được ổn đònh. Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế vẫn
phát triển.
Do bò thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam-Bắc, đế quốc Mỹ phải chấm dứt không
điều kiện đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân kể từ ngày 1-11-1968.
- Từ năm 1969 đến 1975:
Đây là thời kỳ thực hiện chủ trương của Đảng về khôi phục kinh tế theo
những kế hoạch ngắn hạn từng năm, nhằm bình ổn sản xuất, cải thiện đời sống sau
chiến tranh phá hoại, tiếp tục công cuộc xây dựng miền Bắc và tăng cường lực
lượng cho miền Nam. Do đế quốc Mỹ ném bom đánh phá miền Bắc lần thứ hai (vào
ngày 18-12-1972), cuộc khôi phục kinh tế phải ngắt quãng một thời gian ngắn.
Giữa lúc nhân dân ta đang nỗ lực khôi phục kinh tế ở miền Bắc và đẩy mạnh
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam thì ngày 2-9-1969, Chủ tòch Hồ Chí
Minh qua đời, thọ 79 tuổi. Tổn thất này vô cùng lớn lao. Vónh biệt chúng ta, Người
đã để lại cho Đảng ta, toàn thể đồng bào và chiến só hai miền Nam-Bắc một bản Di
chúc lòch sử – những lời căn dặn cuối cùng, những tình cảm và niềm tin của Người
đối với chúng ta và các thế hệ mai sau.
7
và có một hệ thống giá trò
xã hội, đã phát huy được tính ưu việt trên nhiều mặt.:
Đảm bảo sản xuất phát triển và nâng cao trình độ sản xuất lên một bước .
Trình độ văn hoá chung của xã hội được nâng lên đáng kể.
Một đội ngũ trí thức đông đảo – cái vốn quý nhất trong công cuộc xây dựng
chủ nghóa xã hội đã được đào tạo. Mọi người trong xã hội đều có ăn, có mặc, con
cái mọi nhà đều được học hành.
Một lối sống mới đã trở thành phổ biến, người với người sống có tình nghóa,
đoàn kết thương yêu nhau. Những giá trò tinh thần của dân tộc được phát huy cao độ:
nhường cơm sẻ áo, hoạn nạn có nhau, tấm lòng hậu phương vì tiền tuyến, tinh thần
dám xã thân vì Tổ quốc…
6
Năm 1975, tỉ trọng thành phần kinh tế xã hội chủ nghóa trong tổng sản phẩm xã hội là 84,4% và trong thu
nhập quốc dân là 84,1%
7
Chỉ số phát triển tài sản cố đònh trong các ngành sản xuất vật chất nếu lấy năm 1960 = 1 thì năm 1962=2,1;
năm 1975 = 5,1. Tổng cục thống kê Việt Nam, Con số và sự kiện (1945-1989), Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr.80,
94.
Download tài liệu này tại :
22
Download tài liệu này tại :
23
Những nhu cầu thiết yếu của nhân dân được đảm bảo. Đói rách, dòch tễ
không xảy ra. Mức sống tuy còn thấp và khó khăn nhưng mọi người vẫn tin tưởng
vào tương lai.