Tiểu luận triết học "Quá trình hội nhập kết
hợp với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ"
1
MỤC LỤC
Trang
LỜI GIỚI THIỆU 1
LỜI CẢM ƠN 2
CHƯƠNG I: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN 3
1. Phép biện chứng duy vật là khoa học về mối liên hệ phổ biến 3
1.1. Phép biện chứng duy vật 3
1.2. Nội dung của phép biện chứng duy vật 3
2. Một trong hai nguyên lý của phép biện chứng: Nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến
4
2.1. Khái niệm 4
2.2. Nội dung nguyên lý 4
2.3. Ý nghĩa của nguyên lý 4
3. Tại sao phải vận dụng phép duy vật biện chứng về mối lien hệ phổ biến vào
phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh
tế quốc tế
5
CHƯƠNG II: XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ. THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC.
7
I. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ 7
1.1. Thế nào là nền kinh tế độc lập tự chủ 8
1.2. Thực trạng nền kinh tế nước ta hiện nay 9
1.3. Khó khăn và thử thách khi xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ 12
2. Hội nhập kinh tế quốc tế 14
2.1. Thế nào là hội nhập kinh tế quốc tế 14
tế là hoàn toàn đúng đắn và chính xác. Hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng với nhau, bổ
sung cho nhau nhằm phát triển nền kinh tế nước ta ngày càng vững mạnh theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến tôi viết bài tiểu luận này với
mong muốn mọi người có một cách nhìn sâu sắc hơn, cặn kẽ hơn, toàn diện hơn về những
nguy cơ thách thức cũng như thời cơ khi chúng ta tham gia vào quá trình hội nhập kết hợp
với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, và ảnh hưởng qua lại giữa việc xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài tiểu luận tôi không thể trình bày tất cả các vấn
đề liên quan đến việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế mà
chỉ có thể đi sâu vào nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa chúng đồng thời đưa ra những
giải pháp, những kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện đường lối xây dựng nền kinh tế độc
lập tự chủ kết hợp với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
3
Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
Thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Anh đã tận tình giúp đỡ tôi
hoàn thành bài tiểu luận này.
Đồng cảm ơn thư viện trường Đại học Kinh tế
quốc dân đã giúp tôi thu thập các tài liệu liên quan đến
bài tiểu luận này.
4
CHƯƠNG I: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
1. PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT LÀ KHOA HỌC VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN.
1.1. Phép biện chứng duy vật
Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định bản chất vật chất, tính thống
nhất vật chất của thế giới, mà còn khẳng định các sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn tồn
tại trong sự liên hệ, trong sự vận động và phát triển không ngừng theo những quy luật vốn
có của nó. Làm sáng tỏ những vấn đề đó là nội dung cơ bản của phép biện chứng. Chính vì
vậy, Ph.Ănghen đã khẳng định rằng phép biện chứng là lý luận về mối liên hệ phổ biến, là
xã hội và tư duy. Mối liên hệ phổ biến mang tính chất bao quát, nó tồn tại thông qua những
mối liên hệ đặc thù của sự vật, nó phản ánh tính đa dạng và tính thống nhất của thế giới.
2.2. Nội dung nguyên lý:
- Triết học Mác khẳng định mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều nằm trong mối
liên hệ phổ biến, không có sự vật hiện tượng nào tồn tại một cách biệt lập mà chúng tác
động đến nhau ràng buộc quyết định và chuyển hoá lẫn nhau. Các mối liên hệ trong tính
tổng thể của nó quy định sự tồn tại vận động, biến đổi của sự vật. Khi các mối liên hệ thay
đổi tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi sự vật.
2.3. Ý nghĩa của nguyên lý
2.3.1. Cơ sở khoa học của quan điểm toàn diện:
- Trong nhận thức và hoạt động phải xem xét sự vật trong tính toàn vẹn của nhiều
mối liên hệ, nhiều mặt, nhiều yếu tố vốn có của nó kể cả các quá trình, các giai đoạn phát
triển của sự vật cả trong quá khứ hiện tại và tương lai. Có như vậy mới nắm được thực chất
của sự vật. Khi tuân thủ nguyên tắc này chủ thể tránh được sai lầm cực đoan phiến diện
một chiều.
- Không được đồng nhất và san bằng vai trò của các mối liên hệ của các mặt sự vật.
Phải phản ánh đúng vai trò của từng mặt, từng mối liên hệ. Phải rút ra được những mối liên
hệ bản chất nhất chủ yếu của sự vật khi tuân thủ nguyên tắc này con người sẽ tránh được
sai lầm nguỵ biện và chiết trung.
2.3.2. Cơ sở khoa học của quan điểm lịch sử cụ thể
- Mọi sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất tồn tại vận động phát triển bao giờ
cũng diễn ra trong những hoàn cảnh cụ thể, trong không gian và thời gian xác định.
6
- Điều kiện: Không gian và thời gian có ảnh hưởng tới đặc điểm tính chất sự vật.
Cùng là một sự vật nhưng ở trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau sẽ có những tính
chất khác nhau.
Yêu cầu:
Khi nghiên cứu xem xét sự vật hiện tượng phải đặt nó trong hoàn cảnh cụ thể, trong
không gian thời gian xác định mà nó đang tồn tại vận động và phát triển đồng thời phải
phân tích vạch ra ảnh hưởng của điều kiện hoàn cảnh của môi trường đối với sự tồn tại của
tất yếu không, hội nhập có phải là hoà tan hay không, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
như thế nào cho phù hợp với tình hình hiện nay, phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế… Tất cả những vấn đề đó chỉ có thể giải đáp khi chúng ta hiểu rõ hơn về vấn đề
chúng ta đang nghiên cứu dựa trên nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Từ đó ta có thể thấy
rõ hơn tâm quan trọng của phép biện chứng mối liên hệ phổ biến.
Ở chương II, chương III chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu rõ hơn, cặn kẽ hơn về mối liên
hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở phép
biện chứng về mối liên hệ phổ biến.
8
CHƯƠNG II: XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC
1. XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ
Có ý kiến cho rằng, trong điều kiện “toàn cầu hóa” nền kinh tế, mở cửa hội nhập mà
lại đặt vấn đề xây dựng kinh tế độc lập tự chủ là thiếu nhạy bén, không thức thời, thậm chí
là bảo thủ, tư duy kiểu cũ. Thế giới bây giờ là một thị trường thống nhất, cần thứ gỡ thỡ
mua, thiếu tiền thỡ đi vay, sao lại chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ (?!)
Nói như vậy mới nghe qua thỡ thấy cú vẻ cú lý, nhưng nếu suy ngẫm kỹ thỡ thấy
khụng cú cơ sở khoa học, vỡ nú quỏ ư giản đơn và phiến diện. Chúng ta biết rằng, độc lập
tự chủ là một xu thế phát triển của thế giới. Trong điều kiện “toàn cầu hóa”, liên doanh,
liên kết rất đa dạng và phức tạp như hiện nay lại càng phải giữ vững tính độc lập tự chủ.
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ không chỉ xuất phát từ quan điểm, đường lối
chính trị độc lập tự chủ mà cũn là đũi hỏi của thực tiễn, nhằm bảo đảm độc lập tự chủ vững
chắc về chính trị, bảo đảm phát triển bền vững và có hiệu quả cho chính ngay nền kinh tế,
cho việc mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế. Khi đó cú độc lập tự chủ về chính trị thỡ nội
dung cơ bản của độc lập tự chủ của một quốc gia là có xây dựng được nền kinh tế độc lập
tự chủ hay không. Đây là kinh nghiệm của nước ta và cũng là kinh nghiệm của nhiều nước
trong khu vực và trên thế giới. Vả chăng, nước ta phát triển kinh tế để đi lên chủ nghĩa xó
hội, bối cảnh quốc tế cú nhiều diễn biến phức tạp, cỏc lực lượng chống đối chủ nghĩa xó
hội thường xuyên tỡm cỏch ngăn cản và chống phá sự nghiệp xây dựng chế độ xó hội chủ
nghĩa ở nước ta. Nếu không xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ thỡ dễ bị lệ thuộc, bị
mức cần thiết cho nhu cầu phỏt triển kinh tế, củng cố quốc phũng - an ninh.
1.2. Thực trạng nền kinh tế nước ta hiện nay
Trước hết phải kể đến mức tăng trởng cao.
Tổng sản phẩm trong nớc (GDP) trong thời kỳ 1991-2000 đã tăng bình quân hàng
năm là 7,4%, theo đó tổng giá trị GDP đạt gấp đôi năm 1990, GDP theo đầu ngời tăng 1,8
lần.
Nông nghiệp đạt tốc độ tăng trởng khá và toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Giá trị sản l-
ợng toàn ngành tăng bình quân hàng năm 5,6%. Trong đó nông nghiệp tăng 5,4%, thuỷ sản
tăng 9,1%, lâm nghiệp tăng 2,1%.
Nổi bật nhất là sản 1ợng lơng thực tăng bình quân mỗi năm 1,1 triệu tấn. Sản lợng l-
ơng thực năm 2000 đạt 34 triệu tấn, đa mức lơng thực bình quân đầu ngời từ 294,9 kg năm
1990 lên trên 436 kg năm 2000. Việt Nam từ nớc nhập khẩu lơng thực hàng năm, trở thành
nớc xuất khẩu gạo thứ hai thế giới.
Sản lợng của một số cây công nghiệp trong thời kỳ 1999-2000 đã tăng khá cao: cà
phê tăng 4,7 lần, cao su 4,5 lần, chè tăng 2 lần, mía tăng 3 lần, bông tăng 9,7 lần.
Sản lợng thuỷ sản tăng bình quân trong 10 năm là 8,85%: Giá trị sản lợng công
nghiệp tăng bình quân trong 10 năm qua là khoảng 12,8 – 13%/năm
Công nghiệp chế biến đã có tốc dộ tăng trởng khá và đã chiếm tới 60,6% giá trị toàn
ngành công nghiệp năm 1999.
10
Dầu khí có tốc độ tăng trởng cao nhất trong toàn ngành công nghiệp. Sản lợng dầu
thô năm 2000 đã tăng gấp 6 lần so với năm 1990.
Sản lợng điện phát ra năm 2000 so với năm 1990 đã tăng gấp 3 lần, sản lợng thép
cán gấp 16 lần, xi măng gấp 5,3 lần, phân hoá học 4,2 lần, giầy dép da 14,9 lần, giầy vải
4,9 lần, bột giặt 4,6 lần, đờng 3,6 lần, bia 7,3 lần
Giá trị sản phẩm công nghiệp xuất khẩu tăng trung bình hàng năm là 20%.
Các ngành dịch vụ đã tăng trởng nổi bật trong các ngành thơng mại, du lịch, bu
chính viễn thông.
Giá trị hàng hóa bán ra trên thị trờng trong nớc năm 1999 đã gấp 11,3 lần năm 1990.
Khách du lịch quốc tế từ 1992 đến 1997 đã tăng bình quân hàng năm là 26,5%. Mật
xuất khẩu, các lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội.
Trong thời kỳ 1991-2000, vốn đầu t cho nông nghiệp và nông thôn tăng bình quân
hàng năm là 22,9%, vốn đầu t phát triển cho kết cấu hạ tầng giao thông vận tải, thông tin
liên lạc đã tăng bình quân hàng năm là 24,5%, vốn đầu t phát triển cho các ngành công
nghiệp tăng bình quân hàng lăm là 27,1%, vốn đầu t cho lĩnh vực khoa học công nghệ giáo
dục, đào tạo, y tế và văn hoá đã tăng bình quân hàng năm là 23,6%.
Thứ ba, các vấn đề xã hội bức xúc đã có những chuyển biến tích cực.
Mức sống của dân c cả thành thị và nông thôn nhìn chung đã đợc cải thiện một bớc
rõ rệt thể hiện trên các mặt: GDP theo đầu ngời: trong 10 năm qua đã tăng 1,8 lần thu nhập
bình quân mỗi ngời 1 tháng đã tăng 3,2 lần. Số học sinh đi học các cấp học khác nhau từ
tiểu học đến đại học đã tăng khoảng 2,3 - 4,3 lần trong 10 năm qua; chỉ số HDI đã đợc
nâng lên từ thứ 122/174 nớc năm 1995 lên 110/174 nớc năm 1999.
Tỷ lệ tăng dân số năm 1988 là 2,28% đã giảm xuống còn 1,53% năm 2000; năm
1998 Việt Nam đã đợc Liên hợp quốc tặng giải thởng về công tác dân số.
Công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân đã có nhiều tiến bộ. Năm 1990 tỷ lệ trẻ d-
ới 5 tuổi bị suy dinh dỡng là hơn 50% tỷ lệ chết của trẻ em dới 1 tuổi là 46%, dới 5 tuổi là
69,5%, tuổi thọ trung bình là 64, chiều cao trung bình của thanh niên là 1,6m. Đến năm
1998 các chỉ tiêu tơng ứng trên đây đã đợc cải thiện rõ rệt: 38,9%; 39%, 48,5%, 68 tuổi;
1,62m.
Số hộ đói nghèo đã giảm rõ rệt từ 30,0% năm 1992 xuống còn 10,6% năm
2000 - 2. Đến cuối năm 1998 cả nớc đã có 15
tỉnh thành phố có tỷ lệ hộ đói nghèo dới 10%; 21 tỉnh có tỷ lệ đói nghèo khoảng 11 - 19%.
1.3. Khó khăn và thử thách khi xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
Cơ bản nền kinh tế Việt Nam hiện nay lạc hậu về khoa học kỹ thuật nhiều chục năm
so với các nước công nghiệp phát triển. Sản xuất, xuất khẩu của ta chủ yếu gồm các nông
khoáng sản thô và các mặt hàng công nghiệp thứ cấp, khi sản xuất phải nhập khẩu máy và
vật tư phụ tùng, nông nghiệp lệ thuộc vào phân bón, xăng dầu, thuốc sâu, nông cơ; công
nghiệp lệ thuộc vào máy vật tư, linh kiện rời. Các nông khoáng sản thô như gạo, cao su, cà
phê, hàng thuỷ sản, than đá - dầu thô, và các mặt hàng thứ cấp khác: hàng may mặc và giầy
dép là những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu Việt Nam vấp phải sự cạnh tranh rất mạnh của
năng thanh toán quốc tế, đặc biệt là các trang trải nhập khẩu thông thường và lúc bấy giờ
sẽ xảy ra khủng hoảng tài chính, tiền tệ.
Thứ tư: hội nhập quốc tế giúp Việt Nam tranh thủ kỹ thuật, khoa học, vốn quốc tế.
Tuy nhiên các công ty nước ngoài chỉ đầu tư ở Việt Nam nếu họ có lợi. Như vậy, chúng ta
ở trong thế yếu, chỉ có khả năng hạn chế họ bớt lợi mà thôi, nhưng nếu đầu tư mà chỉ thu
được lợi ít, họ sẽ ngưng hay giới hạn lượng đầu tư. Kinh nghiệm chó thấy, trong thập niên
90, những thiết bị được đầu tư ở Việt Nam, thường là những thiết bị cũ, thị phần các doanh
13
nghiệp Việt Nam giảm nhanh trong khi thị phần các công ty có vốn nước ngoài tăng
nhanh, nhiều công ty phía Việt Nam có phần hùn khoảng 30% nhờ phần đóng góp mặt
bằng, nhà đất đã chuyển thành công ty có vốn nước ngoài 100%do nhiều lý do, trong số có
lý do phía nước ngoài đề nghị tăng vốn nhưng bên Việt Nam không có khả năng đáp ưúng.
Nếu tình hình này tiếp tục, người nước ngoài sẽ làm chủ dần dần hầu hết các doanh nghiệp
lớn ở Việt Nam, khi ấy, sẽ khó giữ được độc lập tự chủ kinh tế quốc gia.
Sự phối hợp 4 nguy cơ trên có khả năng đưa đến tình hình mất độc lập tự chủ kinh tế,
tài chính, tiền tệ, gây ra tình cảnh lệ thuộc vào nước ngoài. Đồng chí TBT đã xác định là
độc lập tự chủ kinh tế là nền tảng cơ bản bảo đảm sự bền vững của độc lập tự chủ về chính
trị, do đó cần phải có biện pháp xây dựng nền kinh tế tự chủ và chủ động trong việc hội
nhập vào kinh tế quốc tế.
14
2. HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
2.1. Thế nào hội nhập kinh tế quốc tế:
Ngày nay hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi châu lục, chi phối đời
sống kinh tế mọi quốc gia. Hội nhập kinh tế quốc tế là hiện tượng xảy ra trong quan hệ
giữa các quốc gia. Cách hiểu phổ biến nhất hiện nay về hội nhập kinh tế là xoá bỏ sự khác
biệt kinh tế giữa những nền kinh tế thuộc các quốc gia khác nhau.
2.2. Bối cảnh quốc tế và khu vực liên quan tới chủ trương hội nhập kinh tế quốc
tế ở nước ta:
Đại hội lần thứ VIII của Đảng đó xỏc định nhiệm vụ "mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị thế nước
ra đời của WTO, xuất hiện rất nhiều tổ chức tiểu vùng, khu vực, liên khu vực như các tam,
tứ giác phát triển, các khu vực mậu dịch tự do (AFTA, NAFTA), những tổ chức liên kết
toàn châu lục (EU) hoặc giữa cỏc chõu lục (APEC).
Các nước lớn, nhỏ đều dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, theo đuổi chính sách kinh
tế mở. Ngay những nước có tiềm năng và thị trường rộng lớn như Trung Quốc, Nga, Ấn
Độ, Mỹ và cả một số nước vốn "khép kín", theo mô hỡnh tự cung tự cấp cũng dần dần
mở cửa, từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Mặt khác, cộng đồng thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu : suy thoái môi
trường, bùng nổ dân số, nghèo đói, các bệnh tật hiểm nghèo, các vấn đề xó hội "xuyờn
quốc gia" , không một quốc gia riêng lẻ nào có thể giải quyết được mà cần phải có sự hợp
tác đa phương.
Tỡnh hỡnh trờn làm nảy sinh và thỳc đẩy xu thế hội nhập để phát triển. Trong xu thế
chung đó, các nước công nghiệp phát triển, trước hết là Mỹ, do có ưu thế về thị trường,
nắm được tiến bộ khoa học - công nghệ, có nền kinh tế phát triển cao, đó ra sức thao tỳng,
chi phối thị trường thế giới, áp đặt điều kiện đối với các nước chậm phát triển hơn, thậm
chí dùng những biện pháp thô bạo như bao vây, cấm vận, trừng phạt, làm thiệt hại lợi ích
của các nước đang phát triển và chậm phát triển. Trước tỡnh hỡnh đó, các nước đang phát
triển đó từng bước tập hợp nhau lại, đấu tranh chống chính sách cường quyền áp đặt của
Mỹ để bảo vệ lợi ích của mỡnh vỡ một trật tự kinh tế quốc tế bỡnh đẳng, công bằng. Điều
đó chứng tỏ xu thế hội nhập phản ánh cục diện vừa đẩy mạnh hợp tác, vừa đấu tranh khốc
liệt.
2.2.3. Ở khu vực Đông-Nam Á đó diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc.
Sau nhiều thập kỷ chiến tranh, đối đầu, Đông-Nam Á đó cú hũa bỡnh, tuy cũn tiềm
ẩn một số nhõn tố cú thể gõy bất ổn định, xu thế hợp tác để phát triển không ngừng gia
tăng. Mặc dù trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính trầm trọng thời gian 1997-1998,
song đây vẫn là khu vực có nhiều tiềm năng do vị trí địa - chính trị và địa - kinh tế của
mỡnh, dung lượng thị trường lớn, tài nguyên phong phú, lao động dồi dào, được đào tạo
tốt, có quan hệ quốc tế rộng rói.
Toàn bộ tỡnh hỡnh trờn đem lại nhiều thuận lợi to lớn, đồng thời cũng đặt ra nhiều
thách thức gay gắt đối với nước ta trong quá trỡnh phỏt triển đất nước nói chung và quá
đồng thời giảm đáng kể nợ nước ngoài.
Từ năm 1993, hằng năm đều có hội nghị các nhà tài trợ cho nước ta gồm một số
nước và một số định chế tài chính - tiền tệ quốc tế. Cho đến nay, các nhà tài trợ đó cam kết
dành cho nước ta gần 20 tỷ USD, chủ yếu là cho vay ưu đói với lói suất từ 0,75% đến 2,5%
tùy theo mỗi đối tác ; một phần là viện trợ không hoàn lại.
2.3.5. Tiếp thu khoa học và công nghệ, kỹ năng quản lý, góp phần đào tạo một đội
ngũ cán bộ quản lý và cỏn bộ kinh doanh năng động, sáng tạo.
17
Quỏ trỡnh hội nhập vào nền kinh tế quốc tế đó tạo cơ hội để Việt Nam tiếp cận với
những thành quả của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang phát triển mạnh mẽ trên
thế giới. Nhiều công nghệ và dây chuyền sản xuất hiện đại được sử dụng đó tạo nờn bước
phát triển mới trong các ngành sản xuất. Đồng thời, thông qua các dự án liên doanh hợp tác
với nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam đó tiếp nhận được nhiều kinh nghiệm quản lý
tiờn tiến.
2.3.6. Từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi
trường cạnh tranh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
Trong quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại, nhiều doanh
nghiệp đó nỗ lực đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao năng suất và chất lượng,
không ngừng vươn lên trong cạnh tranh để tồn tại và phát triển ; khả năng cạnh tranh của
nhiều doanh nghiệp đó được nâng lên ; đó cú hàng trăm doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn
ISO-9000. Một tư duy mới, một nếp làm ăn mới, lấy hiệu quả sản xuất và kinh doanh
làm thước đo, một đội ngũ các nhà doanh nghiệp mới năng động, sáng tạo có kiến thức
quản lý đang hỡnh thành.
2.4. Những mặt yếu kém và tồn tại khi Việt Nam tham gia vào quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế
Tuy nhiờn, qua quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế, chỳng ta cũng bộc lộ nhiều mặt
yếu kộm :
2.4.1. Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế đó được khẳng định trong nhiều nghị
quyết của Đảng và văn kiện của Nhà nước và trên thực tế đó được thực hiện từng bước,
động hội nhập kinh tế quốc tế. Có xây dựng được nền kinh tế độc lập tự chủ thì mới tạo
được cơ sở kinh tế, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chế độ chính trị độc lập, tự chủ. Độc lập tự
chủ về kinh tế là nền tảng vật chất để đảm bảo cho sự độc lập tự chủ, bền vững về chính
trị. Thực tế nhiều nước cho thấy không thể có độc lập tự chủ về chính trị nếu bị lệ thuộc về
kinh tế.
Có lẽ sau khi nghiên cứu kỹ đề tài chúng ta có thể nhận ra rằng không thể có độc
lập tự chủ khi không có hội nhập kinh tế quốc tế, giữa chúng có mối liên hệ biện chứng với
nhau. Chỉ có xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ chúng ta mới có đầy đủ tư cách và tự
lực để chủ động hội nhập đúng hướng và có hiệu quả và ngược lại chỉ có chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế chúng ta mới nhanh chóng bổ sung cho nội lực còn khiếm khuyết
thiếu hụt rút ngắn con đường phát triển nhằm không ngừng tự hoàn thiện mình để giữ vững
nền độc lập tự chủ. Hơn nữa chúng ta chủ động hội nhập chính là chúng ta chủ động bảo
vệ và quyết tâm bảo vệ bằng được mục tiêu độc lập tự chủ trong phát triển. Độc lập tự chủ
để mở cửa chủ động hội nhập để bảo vệ độc lập tự chủ. Mối quan hệ giữa xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế là mối quan hệ tương hỗ, có tính biện
chứng; hội nhập càng chất lượng thì độc lập tự chủ càng cao. Độc lập tự chủ càng cao thì
càng có điều kiện chủ động, tích cực hội nhập. Việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
19
hiện nay không hề mâu thuẫn với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hoá
kinh tế.
CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
1. ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ
1.1. Mục tiêu: phấn đấu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong phát triển kinh
tế thị trường và chủ động mở cửa hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới; tích cực
tham gia vào sự giao lưu, hợp tác, phân công lao động qốc tế, trên cơ sở phát huy tốt nhất
nội lực, lợi thế so sánh của quốc gia để cạnh tranh có hiệu quả trên thương trường quốc tế.
1.2. Một số điều kiện để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
Một là, có đường lối, chính sách độc lập tự chủ về phát triển kinh tế - xã hội theo
định hớng xã hội chủ nghĩa. Kinh nghiệm phát triển của thế giới rất phong phú, có giá trị
tham khảo đối với nớc ta, song không thể áp dụng máy móc, rập khuôn, giáo điều mà cần
hoàn chỉnh, nâng cấp, gắn với một cơ cấu công nghệ ngày càng tiến bộ, tạo ra và phát triển
năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ của đất nớc. Cho đến nay, việc tạo dựng một
cơ cấu kinh tế, trớc hết là cơ cấu ngành kinh tế và gây dựng một năng lực nội sinh về khoa
học và công nghệ nh thế để bảo đảm cho sự độc lập tự chủ vững chắc về kinh tế của nớc ta,
còn ở giai đoạn khởi đầu.
- Có kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và một số ngành công nghiệp nặng then
chốt. Kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất cơ bản của nền kinh tế và xã hội. Chúng ta phải
chăm lo xây dựng từng bớc cả kết cấu hạ tầng kinh tế (giao thông, điện lực, bu chính viễn
thông, thủy lợi, cấp - thoát nớc ) và kết cấu hạ tầng xã hội (trờng học, bệnh viện, cơ sở
nghiên cứu khoa học, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao ) Yêu cầu về lĩnh vực này thật
sự to lớn, dù là ở mức tối thiểu, để tạo điều kiện tiền đề cho sự phát triển. Do đó, phải khẩn
trơng xây dựng có hiệu agóp phần đạt mục tiêu sớm vợt qua tình trạng kém phát triển.
Sức mạnh kinh tế của nớc ta chủ yếu và về lâu dài phải dựa vào sức mạnh của nền
công nghiệp. Trong nền công nghiệp này, cần thiết và có thể phát triển một số ngành công
nghiệp nặng có tính chất nền tảng để tạo sức mạnh công nghiệp quốc gia. Phải có cơ sở
công nghiệp then chốt để sản xuất t liệu sản xuất quan trọng đáp ứng nhu cầu trang bị cho
các ngành kinh tế và quốc phòng.
Ba là, giữ vững ổn định kinh tế tài chính vĩ mô, bảo đảm an ninh lơng thực, an toàn
năng lợng, môi trờng
Về kinh tế - tài chính: trong quá trình phát triển, cần luôn luôn duy trì các cân đối
kinh tế - tài chính vĩ mô thông qua công tác kế hoạch hóa đúng đắn và điều hành chặt chẽ,
nhạy bén các hoạt động ở tầm vĩ mô và có tính chiến lợc, xây dựng và vận hành một hệ
thống tài chính - tiền tệ lành mạnh. Một vấn đề cần đặc biệt coi trọng là phải có một lợng
21
dự trữ ngoại tệ cần thiết để bảo đảm an toàn cho các dịch vụ trả nợ đến hạn, dự phòng ứng
phó với những thâm hụt về cán cân thanh toán quốc tế và những biến động bất thờng của
thị trờng tài chính, tiền tệ trong nớc và ngoài nớc.
Về an ninh lơng thực quốc gia: nớc ta có dân số đông thứ hai khu vực Đông - Nam
Á, thứ 13 trên thế giới, gần 80% số dân c sống ở nông thôn và chủ yếu dựa vào sản xuất
nông nghiệp. Do đó vấn đề bảo đảm an ninh lơng thực trong cả nớc và trên từng vùng lớn
2.2.2. Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dõn ; trong quỏ trỡnh hội nhập
cần phỏt huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xó hội,
trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trũ chủ đạo.
2.2.3. Hội nhập kinh tế quốc tế là quỏ trỡnh vừa hợp tỏc, vừa đấu tranh và cạnh
tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh
hoạt trong việc xử lý tớnh hai mặt của hội nhập tựy theo đối tượng, vấn đề, trường hợp,
thời điểm cụ thể ; vừa phải đề phũng tư tưởng trỡ trệ, thụ động, vừa phải chống tư tưởng
giản đơn, nôn nóng.
2.2.4. Nhận thức đầy đủ đặc điểm nền kinh tế nước ta, từ đó đề ra kế hoạch và lộ
trỡnh hợp lý, vừa phự hợp với trỡnh độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng các quy định
của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia ; tranh thủ những ưu đói dành cho cỏc
nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp
sang kinh tế thị trường.
2.2.5. Kết hợp chặt chẽ quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế với yờu cầu giữ vững an
ninh, quốc phũng, thụng qua hội nhập để tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia,
nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnh giác với những mưu toan thông qua hội
nhập để thực hiện ý đồ "diễn biến hũa bỡnh" đối với nước ta.
2.3. Một số nhiệm vụ cụ thể trong quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế
2.3.1 - Tiến hành rộng rói cụng tỏc tư tưởng, tuyên truyền, giải thích trong các tổ
chức đảng, chính quyền, đoàn thể, trong các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân để đạt
được nhận thức và hành động thống nhất và nhất quán về hội nhập kinh tế quốc tế, coi đó
là nhu cầu vừa bức xúc, vừa cơ bản và lâu dài của nền kinh tế nước ta, nâng cao niềm tin
vào khả năng và quyết tâm của nhân dân ta chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
2.3.2 - Căn cứ vào Nghị quyết của Đại hội IX, Chiến lược phát triển kinh tế - xó hội
2001 - 2010 cũng như các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia,
xây dựng chiến lược tổng thể về hội nhập với một lộ trỡnh cụ thể để các ngành, các địa
phương, các doanh nghiệp khẩn trương sắp xếp lại và nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao
hiệu quả và khả năng cạnh tranh, bảo đảm cho hội nhập có hiệu quả. Trong khi hỡnh thành
chiến lược hội nhập, cần đặc biệt quan tâm bảo đảm sự phát triển của các ngành dịch vụ
như tài chính, ngân hàng, viễn thông là những lĩnh vực quan trọng mà ta cũn yếu kộm.
Trong phát triển nguồn nhân lực theo những tiêu chuẩn chung nói trên, cần chú trọng đào
tạo đội ngũ cán bộ, quản lý và kinh doanh hiểu biết sõu về luật phỏp quốc tế và nghiệp vụ
chuyờn mụn, nắm bắt nhanh những chuyển biến trờn thương trường quốc tế để ứng xử kịp
thời, nắm được kỹ nǎng thương thuyết và có trỡnh độ ngoại ngữ tốt. Bên cạnh đó cần hết
sức coi trọng việc đào tạo đội ngũ công nhân có trỡnh độ tay nghề cao.
Cùng với việc đào tạo nhân lực cần có chính sách thu hút, bảo vệ và sử dụng nhân tài
; bố trí, sử dụng cán bộ đúng với ngành nghề được đào tạo và với sở trường năng lực của
từng người.
2.3.6- Kết hợp chặt chẽ hoạt động chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại.
24
Cũng như trong lĩnh vực chính trị đối ngoại, trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và hội
nhập kinh tế quốc tế cần giữ vững đường lối độc lập tự chủ, thực hiện đa phương hóa, đa
dạng hóa thị trường và đối tác, tham gia rộng rói cỏc tổ chức quốc tế. Cỏc hoạt động đối
ngoại song phương và đa phương cần hướng mạnh vào việc phục vụ đắc lực nhiệm vụ mở
rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Tích cực tham gia đấu
tranh vỡ một hệ thống quan hệ kinh tế quốc tế bỡnh đẳng, công bằng, cùng có lợi, bảo đảm
lợi ích của các nước đang phát triển và chậm phát triển.
Các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài cần coi việc phục vụ công cuộc xây
dựng và phát triển kinh tế của đất nước là một nhiệm vụ hàng đầu.
2.3.7 - Gắn kết chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế với nhiệm vụ củng cố an ninh
quốc phũng ngay từ khõu hỡnh thành kế hoạch, xõy dựng lộ trỡnh cũng như trong quá
trỡnh thực hiện, nhằm làm cho hội nhập khụng ảnh hưởng tiêu cực tới nhiệm vụ bảo vệ an
ninh quốc gia và an toàn xó hội ; mặt khỏc, cỏc cơ quan quốc phũng và an ninh cần cú kế
hoạch chủ động hỗ trợ tạo môi trường thuận lợi cho quỏ trỡnh hội nhập.
2.3.8 - Tích cực tiến hành đàm phán để gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) theo các phương án và lộ trỡnh hợp lý, phự hợp với hoàn cảnh của nước ta là một
nước đang phát triển ở trỡnh độ thấp và đang trong quá trỡnh chuyển đổi cơ chế kinh tế.
Gắn kết quá trỡnh đàm phán với quá trỡnh đổi mới mọi mặt hoạt động kinh tế ở trong
nước.
2.3.9 - Kiện toàn Uủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế đủ nǎng lực và thẩm