Hoàn thiện công tác kế toán tiêu thụ & xác định kết quả kinh doanh hàng hoá tại Xí nghiệp dịch vụ sửa chữa bảo hành - Pdf 97

LỜI MỞ ĐẦU
Tiêu thụ hàng hóa, phân tích tình hình doanh thu và kết quả sản xuất
kinh doanh là vấn đề thường xuyên được đặt ra đối với tất cả các đơn vị trong
nền kinh tế quốc dân. Nếu như trước đây trong cơ chế quản lý kinh tế cũ vấn
đề này được nhà nước “lo” cho các đơn vị kinh tế hầu như toàn bộ: sản xuất
cái gì? Bán ở đâu với giá cả như thế nào? và lỗ thì nhà nước bù, lãi thì nhà
nước thu về thì trong cơ chế quản lý kinh tế mới rất nhiều doanh nghiệp đã
gặp khó khăn và không ít các đơn vị đã đi đến chỗ phải giải thể. Nguyên nhân
chính dẫn đến điều đó là sản phẩm sản xuất ra hay hàng hoá mua về không
tiêu thụ được hoặc xác định không chính xác kết quả sản xuất kinh doanh để
dẫn đến tình trạng: lỗ thật, lãi giả. Do đó, điều quan trọng và là sự quan tâm
hàng đầu của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường là làm thế nào để sản
phẩm hàng hoá của mình tiêu thụ được trên thị trường và được thị trường
chấp nhận đảm bảo thu hồi vốn, bù đắp các chi phi phí đã bỏ ra và có lãi.
Đặc biệt đối với các đơn vị kinh doanh thương mại. Để có kết quả kinh
doanh tốt thì họ phải trải qua một khâu cực kỳ quan trọng đó là khâu tiêu thụ
hàng hóa. Quả là không ngoa khi chúng ta nói rằng tiêu thụ hàng hóa mang ý
nghĩa sống còn đối với một doanh nghiệp. Tiêu thụ là một giai đoạn không
thể thiếu trong mỗi chu kỳ kinh doanh vì nó có tính chất quyết định tới sự
thành công hay thất bại của một chu kỳ kinh doanh và chỉ giải quyết tốt được
khâu tiêu thụ thì doanh nghiệp mới thực sự thực hiện được chức năng của
mình là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng.
Bên cạnh việc tổ chức kế hoạch tiêu thụ hàng hoá một cách hợp lý, để
biết được doanh nghiệp làm ăn có lãi không thì phải nhờ đến kế toán phân
tích doanh thu và xác định kết quả kinh doanh. Vì thế việc hạch toán doanh
thu và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp có một vai trò rất
quan trọng. Kế toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh là một trong
những thành phần chủ yếu của kế toán doanh nghiệp về những thông tin kinh
1
tế một cách nhanh nhất và có độ tin cậy cao nhất là khi nền kinh tế đang trong
giai đoạn cạnh tranh quyết liệt mỗi doanh nghiệp đều tận dụng hết những

I. Khái niệm tiêu thụ và ý nghĩa của việc tiêu thụ hàng hoá.
1. Khái niệm tiêu thụ hàng hoá.
Tiêu thụ hàng hoá là giai đoạn tiếp theo của quá trình sản xuất. Trong
giai đoạn này, giá trị sản phẩm, hàng hoá được thực hiện qua việc Doanh
nghiệp chuyển giao hàng hoá, sản phẩm hoặc cung cấp các lao vụ dịch vụ cho
khách hàng và được khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán.
Tiêu thụ nói chung bao gồm:
-Tiêu thụ ra ngoài đơn vị là việc bán hàng cho các đơn vị khác hoặc
cho các cá nhân trong và ngoài Doanh nghiệp.
-Tiêu thụ nội bộ: Là việc bán hàng cho các đơn vị trực thuộc trong
cùng một công ty, tổng công ty ...hạch toán toàn ngành.
Về bản chất, tiêu thụ chính là quá trình quan hệ trao đổi thông qua các
phương tiện thanh toán để thực hiện giá trị sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ. Quá
trình tiêu thụ chỉ được hoàn thành khi cả hai điều kiện dưới đây được đảm
bảo:
Thứ nhất: Đơn vị xuất giao hàng hoá cho đơn vị mua. Đơn vị bán căn
cứ vào các hợp đồng kinh tế đã được ký kết để giao hàng cho khách hàng.
Đơn vị bán có thể giao hàng bán trực tiếp hoặc gián tiếp.
Thứ hai: Khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán tiền hàng.
3
Đây là hai giai đoạn có quan hệ mật thiết với nhau. Giai đoạn thứ nhất
phản ánh một mặt quá trình vận động của hàng hoá nhưng chưa đảm bảo phản
ánh được kết quả của việc tiêu thụ, chưa có cơ sở để đảm bảo quá trình bán
hàng đã được hoàn tất. Chỉ khi kết thúc giai đoạn thứ hai quá trình tiêu thụ
mới coi là hoàn thành.
Quá trình tiêu thụ hàng hoá có các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu như các
nghiệp vụ về xuất hàng hoá, thanh toán với người mua, tính ra các khoản
doanh thu bán hàng, tính vào doanh thu bán hàng các khoản chiết khấu hàng
bán, giảm giá hàng bán chấp nhận cho người mua khoản doanh thu hàng bán
bị trả lại và các loại thuế phải nộp nhà nước để xác định chính xác doanh thu

toán tiền mua hàng với bên cung cấp. Theo hình thức này đơn vị bán buôn
không phát sinh các nghiệp vụ về mua bán hàng mà chỉ được hưởng thủ tục
phí do bên cung cấp hoặc bên mua trả.
* Bán buôn hàng qua kho: Là bán buôn hàng hoá mà hàng hoá được
xuất phát ra từ kho bảo quản của doanh nghiệp, theo phương thức này gồm 2
hình thức sau:
- Theo hình thức giao hàng trực tiếp tại kho thì bên mua căn cứ vào hợp
đồng đã ký kết uỷ nhiệm người của đơn vị mình trực tiếp đến nhận hàng tại
kho của đơn vị bán buôn. Chứng từ bán hàng là” Hoá đơn kiêm phiếu xuất
kho”. Một liên của chứng từ giao cho người nhận hàng, hai liên gửi về phòng
kế toán làm thủ tục thanh toán tiền bán hàng. Số hàng đã giao nhận xong được
gọi là tiêu thụ.
- Theo hình thức chuyển hàng chuyển đi cho người mua, đơn vị bán
buôn căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết với bên mua tiến hành chuyển
hàng cho bên mua bằng phương tiện vận chuyển tự có hoặc thuê ngoài. Số
hàng gửi đi vẫn thuộc quyền sở hữu của đơn vị bán buôn, chỉ khi nào đơn vị
bán buôn nhận được tiền bán hàng hoặc bên mua xác nhận đã nhận được hàng
và chấp nhận thanh toán mới được coi là tiêu thụ.
* Bán hàng theo phương thức gửi hàng đại lý, ký gửi: Bên bán xuất
giao cho các đơn vị, cá nhân làm đại lý. Số hàng gửi giao cho đại lý vẫn thuộc
5
quyền sở hữu của đơn vị, chỉ khi nào nhận thông báo của các đại lý thì số
hàng gửi đại lý mới chính thức coi là tiêu thụ.
* Phương thức bán lẻ: Bán lẻ là hình thức bán hàng trực tiếp cho người
tiêu dùng, hàng hoá sẽ không tham gia vào quá trình lưu thông, thực hiện
hoàn toàn giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá. Theo phương thức này có
các hình thức sau:
- Phương thức bán hàng thu tiền trực tiếp: Người bán hàng trực tiếp thu
tiền của người mua hàng và giao hàng cho khách hàng. Hết ca, hết ngày bán
hàng, nhân viên bán hàng phải nộp tiền cho thủ quỹ và lấy giấy nộp tiền bán

tiêu dùng về một giá trị sử dụng nhất định được thỏa mãn và giá trị hàng hoá
được thực hiện. Bên cạnh chức năng điều hoà cung cầu trên thị trường, tiêu
thụ còn góp phần quan trọng việc tạo ra luồng tiền - hàng chu chuyển liên tục
trong nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy các quan hệ thanh toán trong phạm vi
doanh nghiệp, nghành kinh tế và trong toàn bộ nền kinh tế.
Đối với mỗi doanh nghiệp, tiêu thụ là một quá trình có ý nghĩa quyết
định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên thị trường. Hàng hoá
mua về không tiêu thụ được sẽ làm cho tiền vốn của doanh nghiệp không
được quay vòng sinh lợi, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp và thu nhập của người lao động. Và nếu tình trạng đó kéo dài
liên tục thì doanh nghiệp không tránh khỏi sự phá sản. Nếu việc tiêu thụ được
thực hiện nhanh chóng và có hiệu quả thì doanh nghiệp có thể sớm đưa vốn
trở lại để tiếp tục đầu tư mua hàng hoá, phát huy được hiệu quả của đồng vốn,
tăng khả năng nắm bắt những cơ hội của thị trường từ đó khả năng tối đa hoá
lợi nhuận cũng được nâng cao.
II. Vai trò và nhiêm vụ của kế toán tiêu thụ hàng hoá.
1. Vai trò của kế toán tiêu thụ hàng hoá.
7
Kế toán là một công cụ quản lý tích cực nhất trong mỗi doanh nghiệp.
Cũng như mọi khâu khác, việc tổ chức công tác kế toán bán hàng, kế toán xác
định kết quả kinh doanh hàng hoá có một vai trò đặc biệt quan trọng. Thật vậy
chỉ có thể dựa vào thông tin kế toán cung cấp mới đảm bảo tính chất trung
thực, đáng tin cậy của các số liệu phản ánh về tình hình thực hiện kế hoạch
kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời nó phản ánh một đầy đủ kịp thời
tình hình nhập xuất tồn kho hàng hoá, số hàng hoá gửi bán, số hàng hoá tiêu
thụ, số hàng hoá bị trả lại do kém phẩm chất, số hao hụt mất mát thông quá
trình bảo quản vận chuyển ...Từ đó có biện pháp quản lý cụ thể, đạt hiệu quả
cao.
Đưa hàng hoá vào trong lưu thông, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của mọi
khách hàng là mục đích kinh doanh của doanh nghiệp. Tổ chức tốt công tác

Việc hạch toán chi tiết tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả tiêu thụ
trong Doanh nghiệp được thực hiện trên các căn cứ sau đây:
- Căn cứ vào loại hình, tính chất kinh doanh của Doanh nghiệp để xác
định đối tượng chi tiết. Tuỳ theo tình hình thực tế tại mỗi Doanh nghiệp mà
đối tượng hạch toán chi phí có thể là từng loại sản phẩm, hàng hoá hay kho
hàng, quầy hàng.
- Căn cứ vào tính trọng yếu của mỗi loại hoạt động, mỗi loại hàng hoá
đối với vấn đề kinh doanh của Doanh nghiệp.
- Căn cứ vào khả năng kế toán thực tế của Doanh nghiệp.
Để tiến hành hạch toán chi tiết quá trình tiêu thụ kế toán căn cứ vào các
loại chứng từ cơ bản sau:
- Phiếu xuất kho.
- Hoá đơn bán hàng.
- Hoá đơn kiểm soát xuất nhập khẩu.
- Hoá đơn GTGT.
Công tác hạch toán chi tiết tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả kinh
doanh hàng hoá có nghiệp vụ theo dõi chặt chẽ tình hình tiêu thụ đối với các
đối tượng hạch toán chi tiết đã chọn. Đồng thời còn cung cấp thông tin đầy
đủ, kịp thời về quá trình tiêu thụ của các đối tượng chi tiết (hàng hoá, kho
9
hàng, quầy hàng ..) nhằm phục vụ cho công tác quản lý của Doanh nghiệp,
tính toán chính xác kết quả tiêu thụ của từng đối tượng chi tiết, đánh giá đúng
hiệu quả tiêu thụ đối với từng đối tượng cụ thể, từ đó có thể điều chỉnh sao
cho hợp lý.
I. Kế toán tiêu thụ hàng hoá theo phương pháp kê khai thường xuyên.
1. Thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng.
Tiêu thụ hàng hoá thực chất là sự kết hợp chặt chẽ của hai mặt: xuất
hàng cho người mua và thực hiện thanh toán với người mua. Trong đó giao
hàng và thanh toán không nhất thiết phải được thực hiện cùng một lúc. Những
sản phẩm, hàng hoá doanh nghiệp đã gửi cho người mua về phương diện pháp

+ Kết chuyển trị giá vốn thực tế của hàng hoá tồn kho cuối
kỳ. Từ TK 611 sang (phương pháp kiểm kê định kỳ)
Bên có ghi: + Trị giá vốn thực tế của hàng hoá xuất kho.

+ Số điều chỉnh giảm khi tăng giá.
+ Kết chuyển trị giá vốn thực tế của hàng hoá tồn kho đầu kỳ
sang TK 611 (phương pháp kiểm kê định kỳ)
Số dư nợ: phản ánh trị giá vốn thực tế của hàng hoá tồn kho cuối kỳ
TK 156 Hàng hoá: Gồm 2 tài khoản cấp hai
- TK 1561: Trị giá mua hàng hoá.
- TK 1562: Chi phí mua hàng hoá.
*TK 157 Hàng gửi đi bán: Tài khoản này phản ánh số hiện có và tình
hình biến động của trị giá vốn hay giá thành của hàng hoá, thành phẩm gửi
bán. Số hàng này chưa được xác định là bán.
Kết cấu TK 157:
Bên nợ ghi:
+ Trị giá vốn thực tế của hàng hoá, thành phẩm gửi bán ký gửi.
+ Trị giá lao vụ, dịch vụ đã thực hiện với khách hàng nhưng
chưa được chấp nhận thanh toán.
11
+ Kết chuyển trị giá vốn thực tế của hàng hoá, thành phẩm gửi
bán chưa được khách hàng chấp nhận thanh toán cuối kỳ (phương pháp kiểm
kê định kỳ).
Bên có ghi:
+ Trị giá vốn thực tế của hàng hoá, thành phẩm dịch vụ gửi bán
đã được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.
+ Trị giá hàng hoá, thành phẩm dịch vụ khách hàng trả lại hoặc
không chấp nhận thanh toán.
+ Kết chuyển trị giá thành phẩm hàng hoá đã gửi đi chưa được
khách hàng thanh toán đầu kỳ.

+ Kết chuyển kết quả tiêu thụ (lỗ)
3. Hạch toán tổng hợp tiêu thụ hàng hoá theo các phương thức tiêu thụ.
Phương thức bán hàng có ảnh hưởng trực tiếp đối với việc sử dụng các
tài khoản kế toán, phản ánh tình hình xuất kho thành phẩm, hàng hoá. Đồng
thời có tính quyết định đối với việc xác định thời điểm bán hàng, tình hình
doanh thu bán hàng và tiết kiệm chi phí bán hàng để tăng lợi nhuận.
Sau đây chúng ta xem xét trình tự hạch toán một số phương thức tiêu
thụ cụ thể:
3.1. Phương thức bán hàng trực tiếp:
Căn cứ vào hợp đồng mua bán đã ký kết, bên mua cử cán bộ đến nhận
hàng tại kho của doanh nghiệp. Khi nhận hàng xong, người nhận hàng ký vào
hoá đơn bán hàng xác nhận và hàng đó được xác định là tiêu thụ và hạch toán
vào doanh thu.
Sơ đồ 1:
(3)
TK 911
TK155, 156 TK 632 TK521,531,532 TK111,112,131
(1) (7)
TK 511
TK 641 (4) (2)
13
(8)
TK 333

(5)
TK 642
(9)
(6)
TK 421
(10a)

Giá bán theo phương thức này bao giờ cũng cao hơn giá bán thông
thường, được hạch toán vào thu nhập hoạt động tài chính vì đó là tiền lãi
do khoản trả chậm, trả nhiều lần.
Sơ đồ 3:
TK 911
TK 155,156 TK 632 TK 511 TK 111, 112, 131

(1) (5) (4) (2) (2a)
TK 333(1)
15
(3)
TK 711
(2b)
1. Xuất hàng bán trả góp.
2. Doanh thu hàng bán thông thường.
2a. Thu tiền hàng.
2b. Giá bán giá vốn thông thường.
3. Nộp thuế.
4. Kết chuyển doanh thu thuần.
5. Kết chuyển giá vốn hàng bán.
3.4. Phương thức bán lẻ:
Phương thức này áp dụng đối với các cửa hàng quầy bán lẻ thành
phẩm. Bán lẻ sản phẩm là việc bán lẻ trực tiếp cho người tiêu dùng, giao
hàng và thu tiền ngay của khách hàng. Đồng thời doanh nghiệp xác định
doanh thu bán hàng.
3.5. Phương thức bán hàng nội bộ:
Bán hàng nội bộ là việc mua bán sản phẩm hàng hoá lao vụ, dịch vụ,
giữa đơn vị chính với các đơn vị trực thuộc, hay giữa các đơn vị trực thuộc
với nhau trong cùng một công ty, tổng công ty, tập đoàn, xí nghiệp….
Ngoài ra, còn bao gồm các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ xuất biếu tặng,

- Hàng hoá đã gửi đi hoặc dịch vụ đã thực hiện, khách hàng không chấp
nhận, kế toán phản ánh nghiệp vụ nhập lại kho.
Nợ TK 156: Hàng hoá.
Có TK 157: Hàng gửi đi bán.
Sơ đồ 5:

TK155, 156 TK 157 TK 632
XKTP, hàng hoá gửi Kết chuyển trị giá vốn
đi bán Hàng đã bán
TK 331
TK 155,156
Hàng hoá mua bán thẳng Hàng gửi đi không
được chấp nhận
3.7. Phương pháp kế toán xuất kho hàng hoá, phành phẩm để bán theo phương
thức bán hàng trực tiếp.
- Căn cứ vào phiếu xuất kho, giao hàng trực tiếp cho khách hàng, kế
toán ghi:
Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán.
Có TK 155: Thành phẩm.
Có TK 156: Hàng hoá.
18
- Trường hợp doanh nghiệp thương mại dịch vụ mua bán hàng giao tay
ba, kế toán ghi:
Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán.
Có TK 331: Phải trả cho người bán.
- Trường hợp doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hoàn thành nhưng
không nhập kho mà chuyển bán ngay, kế toán ghi:

Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán.
Có TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.

thương mại theo phương pháp kiểm kê định kỳ thì kế toán doanh nghiệp
giống như phương pháp kê khai thường xuyên và chỉ khác phương pháp kê
khai thường xuyên kế toán hàng tồn kho.
- Kế toán kết chuyển trị giá của hàng hoá tồn đầu kỳ.
Nợ TK 611(6112): Mua hàng.
Có TK 151: Hàng mua đang đi đường.
Có TK 156: Hàng hoá.
Có TK 157: Hàng gửi đi bán.
- Đối với hàng hoá mua vào trong kỳ.
Nợ TK 611(6112): Mua hàng.
Nợ TK133: Thuế GTGT đầu vào.
Có TK 111, 112: Tiền mặt, TGNH.
Có TK 331: Phải trả cho người bán.
- Kết chuyển trị giá hàng hoá tồn kho cuối kỳ.
Nợ TK 151: Hàng mua đang đi đường.
Nợ TK 156: Hàng hoá.
Nợ TK 157: Hàng gửi đi bán.
Có TK 611(6112): Mua hàng.
- Cuối kỳ, tiến hành kiểm kê để tính ra trị giá hàng hoá xuất bán được
xác định là tiêu thụ trong kỳ.
Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán.
Có Tk 611: Mua hàng.
- Kết chuyển hàng tồn kho cuối kỳ:
Sơ đồ 6:
20
TK151,156,157 TK 611 TK 632 TK 911 TK 511 TK 131,
111
K/c hàng tồn kho
đầu kỳ Trị giá hàng K/c giá vốn K/c DT Doanh thu


- Vào cuối niên độ kế toán, so sánh số dự phòng năm cũ còn lại với số
dự phòng cần lập cho liên độ kế toán tới, nếu số dự phòng còn lại lớn hơn số
dự phòng cần lập cho niên độ kế toán mới, kế toán tiến hành hoàn nhập số
chênh lệch lớn hơn bằng cách ghi giảm chi phí quản lý doanh nghiệp:
Nợ TK 139: Số dự phòng hoàn nhập.
Có TK 642(6426): Ghi giảm chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Căn cứ vào mức độ dự phòng phải thu khó đòi, kế toán ghi:
Nợ TK 642(6426): Ghi tăng chi phí quản lý doanh nghiệp.
Có TK 139: Trích lập bổ sung dự phòng phải thu khó đòi.
- Trong niên độ kế toán tiếp theo, khi thu hồi hay xoá sổ các khoản phải
thu đã lập dự phòng, sau khi trừ số tiền đã thu được, số thiệt hại còn lại sẽ
được trừ vào dự phòng; nếu còn lại mới tính vào chi phí quản lý doanh
nghiệp:
Nợ TK 111, 112…: Số tiền thu hồi được.
Nợ TK 139: Trừ vào dự phòng (nếu có).
Nợ TK 642 (6426): Số thiệt hại còn lại khi xoá sổ.
Có TK 131, 138…: Toàn bộ số nợ xoá sổ.
Đồng thời số xoá sổ ghi: Nợ TK 004 (chi tiết đối tượng).
- Đối với các đối tượng trước đây đã lập dự phòng nay thu hồi được,
phải hoàn nhập số dự phòng còn lại bằng bút toán:
Nợ TK 139: Hoàn nhập số dự phòng còn lại.
Có TK 642 (6426): Ghi giảm chi phí quản lý doanh nghiệp.
22
IV. Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng.
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được
trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông
thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Ở các doanh
nghiệp áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì doanh thu bán
hàng không bao gồm thuế GTGT còn ở các doanh nghiệp áp dụng phương
pháp tính thuế trực tiếp thì doanh thu bán hàng là trị giá thanh toán của số

+ Số giảm giá hàng bán và doanh thu của hàng bán bị trả lại
kết chuyển trừ vào doanh thu.
+ Kết chuyển doanh thu thuần về tiêu thụ
Bên có ghi:
+ Tổng số doanh thu bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ
+ TK511 cuối kỳ không có số dư và gồm 4 tiểu khoản:
TK5111: Doanh thu bán hàng hoá
TK5112: Doanh thu bán thành phẩm
TK5113: Doanh thu cung cấp dịch vụ
TK5114: Doanh thu trợ cấp trợ giá
* TK 512: Doanh thu bán hàng nội bộ.
Phản ánh doanh thu về bán sản phẩm, hàng hoá, lao vụ dịch vụ giữa
các đơn vị trong cùng công ty (là các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc).
Ngoài ra, tài khoản này còn sử dụng để theo dõi các khoản một số nội dung
được coi là tiêu thụ nội bộ khác như sử dụng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ
vào hoạt động sản xuất kinh doanh hay trả lương, thưởng... cho công nhân
viên chức. Kết cấu của TK này tương tự như TK511.
TK512 được chi tiết thành 3 tiểu khoản:
TK 5121: Doanh thu bán hàng hoá.
TK 5122: Doanh thu bán sản phẩm
TK 5123: Doanh thu cung cấp dịch vụ.
* TK521: Chiết khấu thương mại.
Dùng để phản ánh toàn bộ doanh thu bán hàng bị chiết khấu trong kỳ
của đơn vị. Về thực chất, tài khoản này chỉ sử dụng để theo dõi các khoản
24
chiết khấu thương mại chấp nhận cho người mua và được mở chi tiết cho từng
khách hàng và từng loại hàng bán. Theo quy định hiện hành, tài khoản 521
chưa có nội dung phản ánh.
TK521 cuối kỳ không có số dư.
* TK 531: Hàng bán bị trả lại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status