Môn: CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM
Đề tài: Dân tộc thuộc nhóm Môn- Khmer ở Trường Sơn- Tây Nguyên.
Bài Làm:
Do trình độ phát triển kinh tế- xã hội chênh lệch nhau lại ở các khu vực khác nhau vì vậy
có thể chia các dân tộc thuộc nhóm Môn- Khmer thành 3 nhóm: nhóm dân tộc Khmer, nhóm các
dân tộc ở Trường Sơn- Tây Nguyên và nhóm các dân tộc ở miền núi Tây Bắc và Thanh- Nghệ.
Nhóm Môn - Khmer, có 21 dân tộc: Ba Na, Brâu, Bru - Vân Kiều, Chơ-ro, Co, Cơ-ho, Cờ-
tu, Giẻ-triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ-mú, Mạ, Mảng, M'Nông, ơ-du, Rơ-măm, Tà -Ôi, Xinh-
mun, Xơ-đăng, Xtiêng.
Sự phân bố:
Vùng cư
trú
Các dân
tộc
Tên gọi khác Dân
số(1999)
Địa bàn cư trú
Vùng núi
bắc
Trường
Sơn
Bru- Vân
Kiều
40.000 ng Quảng Trị, Thừa Thiên
Huế
Tà Ôi Tôi Ôi, Pa Cô, Ba Hi, Pa Hi. 26.000 ng Quảng Trị
Cơ Tu Ca Tu, Gao, Hạ, Phương, Ca-
tang
65.100 ng
Quảng Nam
Vùng
Đồng Nai, Tây Ninh
Mạ Châu Mạ, Mạ Xốp, Mạ Tô,
Mạ Krung, Mạ Ngắn
33.338 ng
Lâm Đồng, Đồng Nai
Co Cor (kor), Col, Cùa, Trầu 29.771 ng
(2003)
Quảng Ngãi, Quảng Nam
Gỉe-
Triêng
Đgiéh, Ta Reh, Giảng Rây,
Pin, Triêng, Treng, Ta Liêng,
Ve, La-Ve, Bnoong, Ca Tang
30.243 ng
Kon Tum, Quảng Nam
Chơ ro Đơ-Ro, Châu Ro 15.000 ng Đồng Nai
Brâu và
Rơ Măm
312 ng
Về hình thái kinh tế chủ yếu là làm rẫy, làm vườn và làm ruộng. Công cụ sản xuất đơn
giản, cuốc là công cụ chủ yếu trong canh tác, ngoài ra còn có dao, cào cỏ, rìu, gậy chọc lỗ tra hạt,
xà gạt, xà bách Những công cụ đuổi chim, thú rất nghệ thuật: bù nhìn, sáo gió, đàn nước bằng
tre nứa…do làm xen canh trên đất rẫy, các dân tộc ở đây không chỉ trồng lúa mà còn trồng các
loại hoa màu: vừng, đậu, bầu, bí, cà, ớt…cộng thêm các rẫy bắp, khoai đã đem lại cho cư dân đủ
nhu cầu về lương thực và nhu yếu phẩm hàng ngày. Đặc biệt, dân tộc Co có cây quế Quảng là đặc
sản truyền thống ở Trà My. Quế ở vùng người Co có chất lượng và năng suất cao được các địa
phương trong nước và nhiều nơi trên thế giới biết tiếng. Hàng năm quế đem lại nguồn thu đáng
kể cho người Co.
Ruộng chờ mưa là hình thức phát triển của rẫy ( Ba Na, Mạ, Chơ Ro) kĩ thuật cao hơn,
công cụ tiên tiến hơn, thời gian sử dụng đất lâu hơn. Một số dân tộc Cơ Ho, Xơ Đăng, Gỉe-
làng, đó là trụ sở của làng, nơi các bô lão tề tựu bàn việc công, nơi dân làng hội họp, nơi thanh
niên chưa vợ và trai góa vợ ngủ đêm, nơi tiến hành các nghi lễ phong tục của cộng đồng, nơi tiếp
khách lạ vào làng.
Nhà ở của người Tà Ôi theo lối truyền thống hiện nay rất hiếm, kiểu nhà truyền thống được
người Tà Ôi gọi là doang. Khi chọn được một mảnh đất ưng ý với các tiêu chí như sau: đất bằng
phẳng, gần nguồn nước, gần chỗ ở người dân cùng làng, chủ nhà tiến hành việc xem các thần có
cho phép mình ở chỗ đất đó hay không. Nhà người Tà Ôi được dựng ở phía chếch Mặt Trời, khi
Mặt Trời lên cao ánh sáng chiếu thẳng vào hướng cửa nhà là không tốt. Nhà được làm theo lối cổ
truyền có chiều dài 5,40 m chiều rộng 4,20 m, tổng diện tích của nhà là 22,68 mét vuông. Trên
một đơn vị diện tích mặt bằng đó bố trí các công năng của nhà như sau: Hai đầu hồi nhà phía
đông và phía tây là phía cửa ra vào với cầu thang (kpong) đi lên, cửa chính có chiều cao 1m30
chiều rộng 70 cm. Phía tây có một bếp lửa hình vuông có chiều rộng 1m vuông làm chỗ nấu
nướng, trên bếp có để một gác để ngô, sắn và các loại thức ăn. Đối diện với bếp lửa là chỗ nằm
của ông chủ nhà có dải một chiếc chiếu làm nơi nằm ngủ. Nhà có 3 cửa sổ (a loang a be) có chiều
cao dài 93 cm chiều rộng 66 cm. Nhà ở có 6 cột chính (non) các xà gắn kết với cột chính theo
nguyên tắc ngòam, khi dựng nhà người Tà ôi cũng dựng những cột chính này đầu tiên. Sau đó là
các xà dọc liên kết tạo thành khung nhà. Tiếp theo là các bộ kèo cột, các đòn tay (ploi). Mái nhà
được lợp tranh, vách nhà (ner) được đan bằng lồ ô đập dập đan vào nhau
Ngày nay làng của đồng bào Bru- Vân Kiều ở nhiều nơi đã có xu hướng ở nhà trệt.
Trang phục: Bộ nữ phục truyền thống của các dân tộc này gồm có chiếc váy tấm bằng sợi
bông dệt. Váy tấm là một vuông vải rộng hình vuông hay hình chữ nhật dùng để quấn quanh thắt
lưng, che nửa thân dưới. Váy dài ngắn là tùy thuộc vào tập quán, phong cách riêng của từng dân
tộc. Các dân tộc này còn phổ biến một kiểu áo nữ cổ truyền là áo cánh ngắn chui đầu, không có
ve cổ và đường biên của các bộ phận như cổ, vai nách, cửa tay, gấu áo đều có đường viền bằng
chỉ màu nổi trên nền vải tối. Cách trang trí những hoa văn trên nền vải đi đôi với hoa văn trên
thân váy tạo nên sự hài hòa, duyên dáng và độc đáo riêng của từng dân tộc. Đàn ông đóng khố
trong lúc lao động và sinh hoạt hàng ngày. Vào dịp lễ hội hay tiếp đãi khách thì họ sử dụng khó
dài để tua trang trí bằng hạt cườm, thêu hoa văn tinh tế.
Các dân tộc này thường để tóc dài rồi cắt ngang, búi tó chải gọn. Tóc búi được cài trâm
bằng đồng hoặc bằng xương hay ngà voi. Đồ trang sức bằng đồng, bạc đêo ở cổ, tay, chân.
chính, nhưng người chồng không bị phân biệt đối xử, họ sống tôn trọng nhau. Cha mẹ về già
thường ở với con gái út.
Hôn nhân: một vợ một chồng. Nguyên tắc quan trọng trong hôn nhân là ngoại hôn một
chiều theo dây chuyền. Ngoài ra còn tồn tại hình thức: hôn nhân anh em chồng, hôn nhân chị em
vọ (Ê đê, Mnông, Cơ Tu), con trai có thể lấy vợ lẽ của bố, cháu có thể lấy vợ của chú khi chú
mất. Con trai cô lấy con gái cậu rất được ưa thích. Hôn nhân mang tính chất mua bán.
Các dân tộc Ba Na, Xơ Đăng, Hrê đều ở trong một hình thái xã hội như nhau, bước quá độ
từ cư trú nhà vợ sang cư trú nhà chồng. Phổ biến cư trú luân chuyển (cha mẹ qua đời mới ở hẳn
một chỗ.
Con trai, con gái Bru-Vân Kiều được tự do yêu nhau và cha mẹ thường tôn trọng sự lựa
chọn bạn đời của con. Trong lễ cưới của người Bru-Vân Kiều, bao giờ cũng có một thanh kiếm
nhà trai trao cho nhà gái. Cô dâu khi về nhà chồng thường trải qua nhiều nghi lễ phức tạp: bắc
bếp, rửa chân, ăn cơm chung với chồng
Thanh niên nam nữ Tà Ôi tự do tìm hiểu nhau qua tục đi "sim" tình tự nơi chòi rẫy. Họ trao
vật làm tin cho nhau, rồi nhà trai nhờ người mai mối. Sau lễ cưới, cô dâu trở thành người nhà
chồng. Việc kết hôn giữa con trai cô với con gái cậu được khuyến khích, nhưng nếu trai họ A đã
lấy vợ ở họ B, thì trai họ B không được làm rể họ A mà phải tìm vợ ở họ C.
Sinh đẻ: một số dân tộc Cơ Tu, Giẻ- Triêng, Mạ làm nhà ngoài rừng hay gần nhà cho phụ
nữ sinh đẻ. Người Brâu, Rơ Măm, Mnông phụ nữ được ở một gian riêng trong nhà. Trong tuần
đầu người mẹ phải ăn kiêng và cấm người lạ vào nhà, hơn một tuần sau đứa bé được đưa về nhà,
gia đình làm lễ nhận đứa bé làm thành viên chính thuwasc và làm lễ đặt tên. Sau một thời gian,
gia đình làm lễ thổi tai, xâu tai, cầu mong con cái khỏe mạnh.
Tang ma: tùy theo cái chết, tuổi tác và địa vị xã hội, tùy theo từng dân tộc, nghi lễ tang ma
khác nhau. Khi trong nhà có người mất, người thân báo cho họ hàng và dân làng biết. Thân nhân
lau mặt và mặc bộ quần áo mới cho người đã khuất. Người chết được đội khăn, đeo con dao nhỏ
dùng lúc sống (nam) hoặc đeo theo cườm vòng cổ, vòng tai(nữ). Người chết được đặt nằm trên
sàn, dưới lót chiếu đặt cạnh bếp lửa.
Dân làng kéo đến chia buồn mang theo lương thực, thực phẩm để giúp tang chủ và làm quà
cho người chết (trang sức, tẩu thuốc, quần áo). Những ngày có người chết cả làng ngừng sản
xuất, túc trực ở nhà tang chủ. Tang chủ giết gà cúng linh hồn người chết. Người Ba Na, Xơ Đăng,
đak), Thần chỗ ở gia đình (giàng an teng), Thần nhà dài (giàng đanh), Thần hổ (giàng
avó)), chi phối hầu hết các mặt trong cuộc sống của họ.
Trước đây, người M'nông theo tín ngưỡng đa thần, đặc biệt là các vị thần nông nghiệp và
các vị chư thần giống như các vị thần của người Cơ Ho, người Mạ. Đạo Thiên chúa và nhất là
đạo Tin lành đã thâm nhập và phát triển vào vùng người M'nông.
Ma lai là hiện tượng mê tín dị đoan nguy hiểm nhất ở các dân tộc này, người có ma lai
được các siêu linh ác phù hộ hay mang lại những điều rủi cho người, mùa màng và gia súc. Tục
trả nợ máu khá phổ biến trước đây ở bắc Tây Nguyên. Đây là nguyên nhân dẫn tới tục săn đầu
người.
Ma (brau briêu) đây là loại ma rừng có thể phù hộ cho người sống tuy nhiên cũng có thể
gây ra ốm đau bệnh tật. Theo người Tà Ôi thì ma brau briêu có thể sai khiến được hổ, rắn, muông
thú để làm hại người.
Các nghi thức tôn giáo và lễ hội: các dân tộc tiến hành các lễ thức tôn giáo để cầu mong
cuộc sống và mùa màn được tươi tốt. Một trong những lễ thức quan trọng là việc đưa hồn lúa lên
nương được tổ chức vào ngày lẻ. Trong nghi thức người ta chỉ tôn trọng số lẻ và dùng tay phải.
Nghi lễ cuối cùng là lễ rước hồn lúa về kho rất được coi trọng và kèm theo nhiều cấm kị.
Để đón năm mới, từng gia đình chuẩn bị lễ đâm trâu, cầu mong một năm phúc lành. Cả
làng sửa sang máng nước, dọn dẹp đường sa, sữa chữa nhà rông chuẩn bị mở hội vui chơi ròng rã
hàng tháng. Hàng năm khi mùa màng đã thu hoạch xong (thường là tháng 12 dương lịch), người
Cơ-ho tổ chức ăn tết. Lễ tết kéo dài từ 7-10 ngày. Sau Tết, người ta mới được ăn lúa mới và thực
hiện các công việc cần làm như làm nhà, chuyển làng
Âm nhạc, hội họa, điêu khắc: các dân tộc có một nền âm nhạc rất phong phú, đặc sắc gắn
bó chặt chẽ với các lễ hội dân gian. Nhạc cụ: mõ, trống, kèn, sáo, đàn tơ rưng…Nhạc cụ Tây
Nguyên là sản phẩm tinh thần của các dân tộc.
Người Bru-Vân Kiều yêu văn nghệ và có vốn văn nghệ cổ truyền quý báu. Nhạc cụ có
nhiều loại: trống, thanh la, chiêng núm, kèn (amam, ta-riềm, Khơ-lúi, pi), đàn (achung, pơ-kua ).
Đồng bào có nhiều làn điệu dân ca khác nhau: chà chấp là lối vừa hát vừa kể rất phổ biến; "sim"
là hình thức hát đối với nam nữ. Các thiếu nữ Brâu thường chơi Krông pút là nhạc cụ gồm 5-7
ống lồ ô dài ngắn không đều nhau đem ghép với nhau, tạo âm thanh bằng đôi bàn tay vỗ vào nhau
ngoài miệng ống. Dân ca của người Tà Ôi có các điệu Ka-lơi, Ba-boih, Rơin và đặc biệt là điệu