Tài liệu LỊCH SỬ VÀ ĐẶC ĐIỂM NGHỀ HÁT CHÈO VIỆT NAM - Pdf 97

LỊCH SỬ VÀ ĐẶC ĐIỂM NGHỀ HÁT
CHÈO VIỆT NAM

"Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy
Hội chèo làng Ðặng đi qua ngõ
Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay"

Từ bao đời nay hát chèo đã trở thành một loại hình sinh hoạt văn hóa nghệ thuật
quen thuộc của người dân Việt Nam, nuôi dưỡng đời sống tinh thần dân tộc bởi cái
chất trữ tình đằm thắm sâu sắc. Trong kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian dân tộc,
chèo là một loại hình sân khấu kịch hát đậm đà tính dân tộc, với sự kết hợp nhuần
nhuyễn của hàng loạt yếu tố: hát, múa, nhạc, kịch mang tính nguyên hợp vô cùng độc
đáo.
Lịch sử nghề Hát chèo

Kinh đô Hoa Lư - Ninh Bình được coi là đất tổ của sân khấu chèo, và người
sáng lập là bà Phạm Thị Trân, một vũ ca tài ba trong hoàng cung nhà Đinh vào thế kỷ
10. Sau này loại hình nghệ thuật biểu diễn này đã được phát triển rộng ra đồng bằng
Bắc Bộ. Địa bàn phố biến từ Nghệ - Tĩnh trở ra.

Đồng bằng châu thổ sông Hồng luôn là cái nôi của nền văn minh lúa nước của
người Việt. Mỗi khi vụ mùa được thu hoạch, họ lại tổ chức các lễ hội để vui chơi và
cảm tạ thần thánh đã phù hộ cho vụ mùa no ấm. Từ thiên niên kỷ thứ nhất trước Công
nguyên, họ đã biết biểu diễn các vở chèo đầu tiên trên sân đình. Nhạc cụ chủ yếu của
chèo là trống chèo. Chiếc trống là một phần của văn hoá cổ Việt Nam, người nông dân
thường đánh trống để cầu mưa và biểu diễn chèo.


Trên đường xâm nhập ngày càng sâu vào mọi mặt sinh hoạt đời thường của bà
con thôn xóm, những người làm chèo đã nhanh chóng kịp thời chuyển địa điểm diễn
qua sân đình, từ lòng đình hoặc thềm đình quay ra ba phương sáu hướng, lấy đấy làm
Hồ Xuân Hương
khán trường ngoài trời rộng rãi phóng khoáng. Cứ thế, dần hình thành cả loạt nguyên
tắc kịch thuật linh hoạt độc đáo, mà nhiều nhà chuyên môn gọi là sân khấu ba mặt.

Quá trình tìm cách thể hiện các tích mới, nhân vật mới, tình huống mới, nghệ
nhân đã vay mượn các loại dân ca, dân vũ trò diễn dân gian và "chèo hoá" chúng dần
cho tới khi thành thủ pháp của vốn nghề nhà. Không loại trừ những cái mới không thể
không sáng tạo, ban đầu có thể còn vụng về, gồ ghề, sau được người này kẻ kia uốn
nắn sửa sang mà thành hay dần, đẹp dần, với sức diễn tả mạnh dần.

Dường như trong chèo cổ, cái cười ngày càng chiếm thời gian dài, càng chú ý
phản ánh những thói hư tật xấu của đời thường. Ðiều đó, làm cho tính xã hội của chèo
ngày mỗi nổi đậm về sau. Nổi bật hơn cả là lớp việc làng chỉ bằng nói thường, nói lối,
nói rao, "ngâm thơ", với đủ thành phần nhân sự của bộ máy chính quyền cơ sở đại
diện cho pháp luật, tập tục, đạo lý, tôn giáo, bị vạch mặt thật ê chề.

Song nhà nghề trân trọng gìn giữ, coi là mẫu mực cho nghề Tổ, còn là cả loại
hình tượng nhân vật nữ tốt có, chưa hẳn tốt có, chưa hẳn xấu cũng có, đặc biệt là số
nhân vật nữ vượt khỏi vòng kiềm toả của đạo lý phong kiến, như Thị Màu, đào Huế,
Suý Vân,

Có điều, nếu Thị Màu chỉ là nhân vật đối tỷ cốt
làm bật rõ sự nhẫn nhục của Thị Kính lần nữa, để đức
độ nàng khả dĩ đủ mức lên toà sen thành Phật Quan Âm;
nhân vật đào Huế tuy chẳng ai nói là "phản diện" nhưng
cũng không được nhà Nho "ưa", vẫn chỉ là chi tiết phụ,
mà nếu có lược đi cũng không hại gì đến kết cấu và chủ

dựng trên cơ sở trò nhại và hát múa" như một nhà nghiên cứu đã viết là chưa thỏa
đáng. Thực ra, chèo từ loại Giáophát triển thành có tích, có nhân vật, từ đấy du nhập,
chuyển biến các loại hát bỏ bộ (trong sinh hoạt hát Xoan, hát Dậm, hát Dô, ), các loại
hát nói(trong hát ả đào, hát văn, hát xẩm, ), kết hợp với số động tác trong múa(hát)
chèo đò, múa (hát) cửa đình(các khuôn múa bàn tay, múa lượn ngón, múa cánh tay),
múa mâm đên, múa qnạt, múa cờ, ; với cả những trò nói mặt, trò trình nghềvốn rất
phổ biến trong những hội làng, đánh dấu từng mức trình độ sáng tạo và thưởng ngoạn
nghệ thuật của đồng bào từng vùng.

Như vậy, chèo sân đình hình thành ngôn ngữ nghệ thuật ngay khi thành hình và
phát triển kịch chủng, là đã lưu ý nhiều đến số lớp trò chuyên dùng, xếp cạnh số lớp
trò đa dùng, trong đó, âm nhạc giữ vai trò rất quan trọng. Nói cách khác, những gì làm
người xem phân biệt chèo với các kịch chủng cùng nằm trong loại hình kịch hát dân
tộc (Việt) như tuồng, kể thêm cải lương, chưa nói ôpêra, ôpêrét hay kịch nói, những
cái lọt vào tai, hiện ra trước mắt người xem (dù là tâm tư tình cảm nhân vật hay không
gian thời gian xẩy ra sự biến) chính là âm nhạc, gồm cả nhạc gõ, nhạc khí và làn điệu
qua nghệ thuật biểu diễn của nhà nghề.

Do phải phụ thuộc hoặc chịu ảnh hưởng nhiều ít của những biến thiên văn hóa
xã hội mỗi thời kỳ lịch sử mà từ Lý Trần về trước, nhạc dân gian và nhạc cung đình
hòa hợp gần như là một; sang đời Hậu Lê có lúc nhạc cung đình hướng ngoại cố giữ vị
trí chủ lưu, song không bao lâu cũng chịu bất lực để "tục nhạc" (trong đó có nhạc
chèo) bùng lên, ùa tràn vào các lễ nghi triều miếu, bất chấp mấy lần vua Lê chúa Trịnh
ra sắc chỉ cấm đoán ngăn chặn, như từng chép ở Ðại Việt sử lý, Vũ trung tuỳ bút. Tới
thế kỷ XIX, nhà Nguyễn có lúc muốn thâu tóm tất cả những gì thuộc lễ nhạc về một
mối, lập hẳn một Thự, rồi một ban Hiệu Thư chuyên lo mà cũng chỉ cản trở chuyện đó
phần nào. Bởi chèo sân đìnhnhờ bám chắc vào đời sống đông đảo bà con và các Hội
làng, nên dù ở hoàn cảnh nào cũng được nhân dân bù trì khích lệ mà tồn tại và lớn dần
đến ngày nay.


3. Múa hát chèo thuyền cạn
4. Múa hát kể thập ân.

Kết thúc chương trình hát chèo chải hê thường là hát quan họ.

Điều thú vị là chèo Chải Hê ban đầu nhằm diễn xướng trong các đám tang hiếu
của người cao tuổi, về sau, nhu cầu giải trí, giao lưu văn nghệ càng lên cao, nó có thêm
những bài hát chèo thuyền và hát huê tình tươi tắn, sinh động. Xưa kia, làng Lũng
Giang có đến ba phường chèo Chải Hê tại ba xóm Chùng, Chinh, Đông, thường hát thi
với nhau.

Đặc điểm của chèo Việt

Không giống tuồng chỉ ca tụng hành động anh hùng của các giới quyền quý,
chèo miêu tả cuộc sống bình dị của người dân nông thôn. Khát vọng sống thanh bình
giữa một xã hội phong kiến đầy bất công. nhiều vở chèo còn thể hiện cuộc sống vất vả
của người phụ nữ sẵn sàng hy sinh bản thân vì người khác. Nội dung của các vở chèo
lấy từ những truyện cổ tích, truyện Nôm; được nâng lên một mức cao bằng nghệ thuật
sân khấu mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc. Trong chèo, cái thiện luôn thắng
cái ác, các sỹ tử tốt bụng, hiền lành, luôn đỗ đạt, làm quan còn người vợ thì tiết nghĩa,
cuối cùng sẽ được đoàn tụ với chồng. Các tích trò chủ yếu lấy từ truyện cổ tích, truyện
Nôm; ca vũ nhạc từ dân ca dân vũ; lời thơ chủ yếu là thơ dân gian. Lối chèo thường
diễn những việc vui cười, những thói xấu của người đời như các vai: Thầy mù, Hương
câm, Đồ điếc, Quan Âm Thị Kính. Ngoài ra chèo còn thể hiện tính nhân đạo, như
trong vở Trương Viên.

Chèo luôn gắn với chất "trữ tình", thể hiện những xúc cảm và tình cảm cá nhân
của con người, phản ánh mối quan tâm chung của nhân loại: tình yêu, tình bạn, tình
thương.


hoặc những câu ca dao với khuôn mẫu lục bát rất tự do, phóng khoáng về câu chữ.

Chèo không có cấu trúc cố định năm hồi một kịch như trong sân khấu châu Âu
mà các nghệ sỹ tham gia diễn chèo thường ứng diễn. Do vậy, vở kịch kéo dài hay cắt
ngắn tuỳ thuộc vào cảm hứng của người nghệ sỹ hay đòi hỏi của khán giả. Không
giống các vở opera buộc các nghệ sỹ phải thuộc lòng từng lời và hát theo nhạc trưởng
chỉ huy, nghệ sỹ chèo được phép tự do bẻ làn, nắn điệu để thể hiện cảm xúc của nhân
vật. Số làn điệu chèo theo ước tính có khoảng trên 200.

Nhạc cụ

Chèo sử dụng tối thiểu là hai loại nhạc cụ dây là đàn nguyệt và đàn nhị, đồng
thời thêm cả sáo nữa. Ngoài ra, các nhạc công còn sử dụng thêm trống và chũm chọe.
Bộ gõ nếu đầy đủ thì có trống cái, trống con, trống cơm, thanh la, mõ. Trống con dùng
để giữ nhịp cho hát, cho múa và đệm cho câu hát. Có câu nói “phi trống bất thành
chèo” chỉ vị trí quan trọng của chiếc trống trong đêm diễn chèo. Trong chèo hiện đại
có sử dụng thêm các nhạc cụ khác để làm phong phú thêm phần đệm như đàn thập lục,
đàn tam thập lục, đàn nguyệt, tiêu v.v
Chèo hay là thế, độc đáo là thế, nhưng bộ môn nghệ thuật truyền thống này với
đặc điểm hiện diện là biểu diễn - các trình thức múa hát xung quanh một thân trò, bởi
thế cho nên, chèo được lưu truyền chủ yếu qua một trật tự hết sức tự nhiên: thày giáo
già- con hát trẻ. Thế hệ nghệ sỹ sau nối tiếp thế hệ trước, giữ nghề bằng cách truyền
nghề trực tiếp, bắt tay chỉ ngón, dạy từng cách diễn, cách hát. Phần kịch bản văn học
của chèo cổ cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay với một vài bản nôm, gần hơn là một vài
bản bằng chữ quốc ngữ in trong trời Pháp thuộc (nhưng những bản này lại không mấy
chính xác so với những lớp diễn của các nghệ nhân!). Thực tế này là một khó khăn,
thách thức lớn đối với công việc nghiên cứu, sưu tầm chèo cổ.

trên con đường phát triển của mình và luôn luôn đào thải những gì không phù hợp với
nó. Cái chất dân dã mộc mạc, nhắn nhủ duyên dáng, hài hước đã tạo dựng lên cái
xương cốt của chèo với phong vị riêng. Nó nghiêm chỉnh đấy nhưng cũng hài hước
ngay được. Cái bi tưởng đến tột cùng nhưng lại xóa ngay được bằng cái hài ý vị, thoắt
hư thoắt thực, có lúc nhân cái phi lí để làm rõ cái có lý, cứ thế dẫn người xem vào một
cuộc hành trình đầy bất ngờ và thú vị.

Trải qua trăm năm thời gian, con người đất Việt đã tạo nên xung quanh tâm hồn
mình một cơ tầng văn hoá với những vỉa trầm tích quý giá, đó chính là hàng trăm,
hàng nghìn câu ca dao, tục ngữ, dân ca, điệu hò… và nghệ thuật chèo truyền thống.
Chúng ta có thể tự tin để nói với nhau rằng- qua hệ thống các nhân vật tạo nên các tích
trò lý thú, nghệ thuật chèo đã mang lại cho con người Việt Nam truyền thống sự thanh
lọc tâm hồn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status