!
!"""#
$$
1.1Cho vay dưới chuẩn 2
1.2Mua bán khống 3
1.3Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ 3
1.4Khủng khoảng niềm tin 3
2/ THEO DỊNG SỰ KIỆN KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ: 4
2.1 Tồn cảnh cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ 4
2.1.2 Năm 2008 với những mốc đáng nhớ sau: 6
2.2 Cuộc khủng hoảng đã lan khỏi nước Mỹ: 7
3/ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ MỸ ĐẾN NỀN
KINH TẾ THẾ GIỚI: 12
3.1 KINH TẾ MỸ ĐI VỀ ĐÂU? 12
3.1.2 Thị trường chứng khốn Mỹ: 16
3.2 TÁM ẢNH HƯỞNG LỚN CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ 17
3.3 TÁC ĐỘNG ĐẾN KHU VỰC Á CHÂU 20
Cuộc khủng hoảng lần này khơng phải là q bất ngờ với giới tài chính Mỹ nói
riêng và thế giới nói chung. Nó là kết quả của một chuỗi những rủi ro liên tiếp
mà chính các tổ chức tài chính, ngân hàng ở Mỹ tạo ra cho chính mình.
Có thể tóm lại một số ngun nhân chính, mà thực chất là hệ quả của nhau – đã
dẫn đến cuộc khủng hoảng tất yếu này ở Mỹ.
%&%'()*#+
Các ngân hàng đầu tư Mỹ đã sử dụng nghiệp vụ chứng khốn hóa (securitisation) để
biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động
sản (MBS, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường.
Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà khơng trả được các khoản vay
mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín
dụng bất động sản làm tài sản đảm bảo. Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát
mại tài sản càng tăng làm giá bất động sản càng giảm. Điều này có nghĩa giá trị tài
không làm những gì mà nó đáng ra phải làm - chẳng hạn như tạo ra các sản phẩm để
giúp người Mỹ quản lý được những rủi ro nguy hiểm nghiêm trọng của mình, như là
giữ lại được nhà khi mức lãi suất cho vay tăng cao hoặc khi giá nhà rớt giá”.
%&561
Theo GS. Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng bắt đầu tư sự sụp đổ thảm khốc của
niềm tin. Các ngân hàng đánh đố lẫn nhau về mức độ cho vay cũng như tài sản.
Những giao dịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấu những trượt giá
giá trị tài sản thực của ngân hàng. Đây là một trò chơi mà con người ta khi bắt đầu
cảm nhận thấy mùi của sự thua lỗ và nhìn vào hệ thống tài chính, khi đó thua lỗ xuất
hiện, cả thị trường xuống dốc và tất cả mọi người đều bị thua lỗ.
Thị trường tài chính xoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó đã bị
xói mòn, xuống cấp. Sự sụp đổ của Lehman là biểu tượng đánh dấu mức độ tin cậy
đã xuống một mức thấp mới và dư âm của nó sẽ còn tiếp tục.
,789:;<=>?6@68A=8:B=8C8DE
Hệ thống tài chính ngân hàng của Mỹ cuối năm 2007 và năm 2008 đột nhiên lâm
vào một trong những cuộc khủng hoảng chưa từng có. Hàng trăm tỷ USD đã tiêu
tan. Sự lây lan vẫn chưa chấm dứt, hậu quả vẫn chưa lường hết.
,&%
Cuộc khủng hoảng tài chính về cho vay thế chấp dưới chuẩn ở Mỹ đã diễn ra từ lâu
và bộc lộ rõ nhất trong 2 năm 2007 và 2008, biểu hiện rõ nhất ở tính thanh khoản
trên hệ thống ngân hàng và tín dụng toàn cầu. Cuộc khủng hoảng trải qua nhiều
giai đoạn khác nhau, lộ rõ cả những điểm yếu tràn lan trong khuôn khổ luật lệ và
hệ thống tài chính toàn cầu.
,&%&%F1.G
Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ tình trạng bong
bóng của thị trường nhà đất ở Mỹ (tình trạng này
diễn ra khoảng năm 2005 - 2006) với những
khoản vay dưới chuẩn có nguy cơ rủi ro cao và
các khoản thế chấp có lãi suất điều chỉnh. Từ vài
năm trước đó, giá nhà tăng cao cùng với việc
bố phá sản.
- Ngày 19/07: Chỉ số Dow Jones đóng cửa với mức 14.000 điểm, lần đầu tiên
trong lịch sử.
- Tháng 8: Khủng hoảng tín dụng toàn cầu, mà chính xác là chứng khoán dựa trên
các khoản nợ thế chấp dưới chuẩn, được phát hiện trong các danh mục vốn đầu tư
và quỹ trên khắp thế giới từ BNP Paribas cho đến Ngân hàng Trung Quốc. Nhiều
nhà cho vay ngừng cho vay tín dụng mua nhà. Cục dữ trữ liên bang đã cho các ngân
hàng vay 100 tỷ đô la với lãi suất thấp.
- Ngày 16/08: Tập đoàn tài chính Countrywide, đơn vị cho vay thế chấp lớn nhất
nước Mỹ, đã phải tránh phá sản bằng cách vay khẩn cấp 11 tỷ đô la từ một nhóm
các ngân hàng khác.
- Ngày 17/08: Cục dự trữ liên bang đã phải hạ mức hệ số chiết khấu 50 điểm cơ
bản từ mức 6.25% xuống 5.75%
- Ngày 14/09: Ngân hàng Northern Rock (Anh) đã gặp vấn đề nghiêm trọng về
khả năng thanh khoản liên quan đến khủng hoảng cho vay dưới chuẩn.
- Ngày 15–17/10: Liên minh các ngân hàng Mỹ được hỗ trợ bởi chính phủ thông
báo lập một siêu quỹ trị giá 100 tỷ đô la để mua lại các chứng khoán được đảm bảo
bằng tài sản thế chấp mà giá trị thị trường đã bị sụt giảm do khủng hoảng vay dưới
chuẩn. Chủ tịch Cục Dự Trữ Liên Bang Ben Bernake và Bộ trưởng Bộ tài chính Mỹ
đều đưa ra những cảnh báo về mối nguy hiểm của việc vỡ bong bóng bất động sản.
- Ngày 31/10: Cục Dự Trữ Liên Bang hạ lãi suất quỹ liên bang 25 điểm xuống
4.5%
- Tháng 11: Cục Dự Trữ Liên Bang bơm thêm 41 tỷ đô la cho các ngân hàng vay
với lãi suất thấp. Đây là lần xuất tiền lớn nhất của Cục Dự Trữ Liên Bang kể từ 19
tháng 9 năm 2001 (50.35 tỷ đô la).
,&%&,I1,JJO#F1.! #2'E
- Ngày 16/03: Bear Stearns bán lại cho JP Morgan Chase với giá 2 đôla một cổ
phiếu để tránh phá sản. Cục Dự Trữ Liên Bang phải cung cấp 30 tỷ đô la để trợ giúp
các khoản lỗ của Bear Stearn.
- Ngày 17/07: Các ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính trên thế giới đã báo cáo
S(%57T7,JJNE Lần đầu tiên trong hơn 1 thế kỷ, khách hàng ùn ùn kéo đến bủa
vây để đòi rút tiền ở một ngân hàng lớn tại Anh - Ngân hàng cho vay thế chấp
Northern Rock - ngân hàng lớn thứ 5 tại Anh.
S(%L7%J7,JJNE Citigroup - Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ - công bố
lợi nhuận Quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dự phòng lên
tới 6,5 tỷ USD. Giám đốc điều hành Citigroup Charles Prince từ chức vào ngày
4/11.
S(%N7%,7,JJN: Cuộc khủng hoảng tín dụng đã lan sang châu Úc với nạn nhân
là Tập đoàn Centro Properties, một chủ sở hữu của các phố buôn bán lớn ở Mỹ tại
Úc sau khi tập đoàn này đưa ra cảnh báo lợi nhuận giảm. Cổ phiếu Centro
Properties đã tụt giá 70% tại các giao dịch ở Sydney.
F*UV!."WXWY.Z'QQ.
* (%%7%7,JJOE Bank of America - ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi và
vốn hoá thị trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial sau khi
ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản cho vay khó
đòi quá lớn.
S/J7%7,JJOE Ngân hàng lớn nhất Thuỵ Sĩ UBS công bố trích lập dự phòng 4 tỷ
USD, nâng tổng số tiền trích lập dự phòng lên 18,4 tỷ USD do những thất thoát
quan đến cuộc khủng hoảng cho vay cầm cố.
S%N7,7,JJOE Anh quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock.
S,O7,7,JJOE Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách các nạn nhân
của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị tài sản mất giá là 1,36 tỷ
euro.
S%MK%N7/7,JJOE Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư Mỹ JP Morgan
Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu.
S,T757,JJOE Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố một khoản thua lỗ
trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợ xấu
và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế thấp bất động sản.
S%%7N7,JJOE Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng IndyMac
Bancorp. Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước tới nay
hàng Goldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tập đoàn ngân hàng
đa năng, đánh dấu sự kết thúc mô hình ngân hàng đầu tư tại Phố Wall.
S,,7T7,JJOE Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 triệu USD để thâu tóm
hoạt động của Lehman tại châu Á. Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tại châu
Âu và Trung Đông. Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phần Morgan
Stanley.
S,/7T7,JJOE Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman Sachs; Cục
điều tra liên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và Lehman vì nghi ngờ
có sự gian lận trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ.
S,L7T7,JJOE Washington Mutual Inc. (WaMu), một trong những ngân hàng lớn
nhất Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp.
Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát WaMu và
sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho JPMorgan Chase &
Co. với giá 1,9 tỷ USD. Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu đã trở thành ngân
hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ.
Trong khi đó tại Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội đã đồng
ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD.
WaMu - một trong những ngân hàng lớn nhất Mỹ đã sụp đổ
cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp.
S,T7T7,JJOE Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị trường tài
chính Mỹ. Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow
Jones tụt giảm gần 780 điểm - mức giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay.
S%7%J7,JJOE Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD (tỷ lệ
74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm thuế
thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ USD);
tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ
100.000 USD lên 250.000 USD.
S/7%J7,JJOE Sau 3 giờ thảo luận và thuyết phục nhau, Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếu lần
thứ hai và thông qua dự luật giải cứu với tỷ lệ phiếu 262-171. Không đầy 2 giờ sau
đó, Tổng thống Mỹ đặt bút ký để chính thức chuyển kế hoạch thành đạo luật.
/78]^=\_88]`_=_\68_=8:\_=689a
b^c9a9689a89a=`dE
/&%68eDfghi
Y.Z'QQ!Pj '1Q'1!k(Gl(Fm'1ni
/&%&%*#Qop
Qq'"#i
Trên bình diện quốc tế, nước Mỹ
đã “ở vị thế thâm hụt cán cân
thanh toán nặng nề”. Sự sẵn có
của các quỹ nước ngoài cho phép
nước Mỹ giữ lãi suất ở một mức
tương đối thấp để duy trì tính thanh khoản nhưng cũng khiến cho toàn hệ thống trở
nên mong manh dễ đổ vỡ hơn một khi thâm hụt ngân sách liên bang phình ra quá
lớn.
Trong điều kiện như vậy, câu hỏi đặt ra là liệu Bắc Kinh có sẵn sàng cho nước Mỹ
vay 700 tỷ USD để khôi phục lại các tổ chức tài chính không. Bởi vì người dân Mỹ
đã bị thiệt hại quá nhiều từ cơn khủng hoảng, không thể là nguồn cung cấp số tiền
nói trên được. Nói cách khác, vấn đề của nước Mỹ là “chúng ta đã vay nợ quá
nhiều, giờ ta đã rơi vào khủng hoảng rồi, cần phải vay nợ tiếp để giải quyết tình
hình.”
Trong lúc này, nước Mỹ cần một chiến lược tốt hơn, nhưng phải tránh đặt ra quá
nhiều quy định không cần thiết, bóp nghẹt những sáng kiến cải cách mới mẻ vốn là
nhân tố giúp nền kinh tế Mỹ tăng trưởng trong những thập kỷ vừa qua.
Sau sự đổ vỡ của dot.com trong năm 2000-2001, khu vực công nghệ cao đã khôi
phục lại đà tăng trước. Điều tương tự cũng có thể được áp dụng cho khu vực tài
chính. Quan trọng là cần phải thận trọng, không nên có những hành động thái quá.
Thương cho roi cho vọt, khu vực tài chính cần phải được uốn nắn một cách nghiêm
khắc, có vậy, nó mới có thể khôi phục như ban đầu và tiếp tục vai trò quan trọng
của mình đối với nền kinh tế cũng như sự phát triển trong tương lai của đất nước.
;'2 pX-rV 23V2 V[VG
IV/2007: 9,83 tỷ
Bán cho ngân hàng Mỹ
(BoA) với giá 50 tỷ
Số lượng nhân viên:
60.000 người
Xếp thứ 32 trong
danh sách Global
2000 (các công ty
lớn nhất thế giới)
đô
Thua lỗ ròng quý
I/2008: 1,97 tỷ
đôla
mất giá tài sản
(2007): 16,7 tỷ
đôla
đôla
3
\=
Tổng tài sản: 1,05
nghìn tỷ đôla
Tổng vốn góp ổ phần
78,09 tỷ đôla
Số lượng nhân viên:
116.000 người
Xếp thứ 6 trong danh
sách Global 2000
(các công ty lớn nhất
thế giới)
Cổ phiếu mất giá
01/07/2008: Bán cho
ngân hàng Mỹ với giá
4,1 tỷ đôla
5 x'G>x'G2 Tổng tài sản: 350,4
tỷ đôla
Tổng vốn góp cổ
phần: 66,7 tỷ đôla
Số lượng nhân viên:
Thiệt haiij quý
IV/2007: 859
triệu đôla
Mất giá tài sản
(2007): 1,9 tỷ
30/05/2008: Bán cho JP
Morgan Chase với giá
1,1 tỷ đôla
15.500 người
Là công ty chứng
khoans lớn thứ 7 thế
giới
đôla
6 )('
Tổng tài sản: 32 tỷ
đô
Là tổ chức cho vay
và gửi tiết kiệm lớn
nhất ở Los Angeles.
Đồng thời là tổ chức
thế chấp lớn thứ 7 ở
Hoa Kỳ
triệu đôla
07/09/2008: FED kí
hợp đồng bỏ ra 1 tỷ đô
hỗ trợ cho Freddie Mac,
đổi lại giành quyền
kiểm soát các cổ phiếu
ưu đãi đặc biệt của
công ty này.
8 z'x'x
Tổng tài sản: 882,5
tỷ đôla
Tổng vốn góp cổ
phần: 44 tỷ đôla
Là tổ chức hàng đầu
trong thị trường thế
chấp dưới chuẩn của
Mỹ
Thua lỗ (2007):
2 tỷ đôla
Thua lỗ quý
II/2008: 2,3 tỷ
đôla
07/09/2008: cùng với
Freddie Mac bị FED
tiếp quản
9 xyxG( Tổng thu nhập (năm Cổ phiếu mất Nộp đơn phá sản theo
z''Q
GV
2006): 417 triệu đôla
Giá bán trên thị
đôla
Washington Mutual
là ngân hàng tiết
kiệm lớn nhất Mỹ
Thua lỗ 53 tỷ
đôla để từ tháng
6 và 17 tỷ đôla
trong 2 tuần gần
đây
26/09/2008: Chính phủ
tiếp quản và sau đó bán
lại cho JP Morgan
Chase & Co với giá 1,9
tỷ đôla
12 Z''
Là ngân hàng lớn thứ
6 ở Mỹ
Tổng tài sản: 327,9
tỷ đôla
Giá cổ phiếu của
Wachovia đã sụt
giảm tới 81,6%,
còn 1,84 USD/
cổ phiếu
Thua lỗ 9,7 tỷ
đôla trong nửa
đầu năm nay
30/09/2008: bị bán lại
hco Citi Group với giá
2,16 tỷ đôla
chính G20 tại Washington, cộng đồng quốc tế yêu cầu kêu gọi cải cách hệ thống tài
chính quốc tế.
1*€Q#'
Trong bối cảnh toàn cầu hóa mà khởi nguồn từ Mỹ, tác động của nó cũng mang tính
toàn bộ. Hơn nữa, khủng hoảng tài chính thế giới sẽ tiếp tục gây ảnh hưởng đến các
phương diện kinh tế thế giới.
a) Người ta bắt đầu hoài nghi về kinh tế Mỹ dựa trên nền tảng là mô hình tự do
thương mại.
Cuộc khủng hoảng này đã bộc lộ đầy đủ những tác hại do thị trường không chịu tiếp
nhận sự quản lý và những thiếu sót của hệ thống kinh tế. Để ngăn chặn sự lây lan
của cuộc khủng hoảng, chính sách kinh tế của chính phủ Mỹ là quay trở lại từ tự do
thương mại sang nền kinh tế có sự can thiệp của nhà nước. Hiện nay, tần suất và
mức độ can thiệp vào thị trường của chính phủ Mỹ so với cuộc đại suy thoái của
những năm 30 là như nhau. Điều này cho thấy sự nghi ngờ về những tác động của
chủ nghĩa tư bản kiểu Mỹ, sự hấp dẫn của mô hình tự do thương mại đã bị giảm sút.
b) Tăng trưởng kinh tế thế giới gián đọan trong thời gian dài khiến cho các nước
rơi vào suy thoái kinh tế, kéo theo đó là khủng hoảng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế trong năm 2008 và hai năm sau bắt đầu chậm lại. Nhật Bản,
khu vực Châu Âu và Mỹ và hệ thống kinh tế thế giới thứ ba lần đầu tiên rơi vào suy
thoái sau thế chiến thứ 2. Theo thống kê, suy thoái kinh tế Mỹ trải qua 18 tháng, là
cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài nhất từ sau cuộc đại khủng hoảng.
c) Thị trường nguồn năng lượng bùng nổ sẽ có thể chấm dứt.
Theo báo cáo của ngân hàng Thế giới trong diễn đàn “Triển vọng kinh tế toàn cầu
năm 2009”, giá dầu và lương thực giảm mạnh, đặt dấu chấm cho việc tăng giá sản
phẩm nghiêm trọng.
d) Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế đang thúc đẩy việc điều chỉnh tiêu
dùng Mỹ nhiều năm qua.
Trung Quốc và các thị trường mới nổi cũng điều chỉnh phương thức tăng trưởng.
Nhưng cục diện thay đổi kinh tế toàn cầu cũng cần các nước như Ấn Độ, Nhật Bản,
Đức mở rộng tiêu dùng cá nhân.
lan rộng đến tất cả các châu lục nên cuộc khủng hoảng ở Mỹ chắc chắn sẽ tác
động đến kinh tế thế giới, kể cả Á châu&
Tuy nhiên tác động này không quá trầm trọng như cảm nhận của nhiều người. Hơn
nữa, từ cái nhìn trung và dài hạn về kinh tế Mỹ tương đối lạc quan như đã nói thì
nhiều nước Á châu cũng chỉ bị ảnh hưởng trong thời gian 1-2 năm trước mắt. Mặt
khác, với lượng dự trữ ngoại tệ rất lớn, nhiều nước Á châu sẽ có tiếng nói mạnh hơn
trong quan hệ với Mỹ và trong các diễn đàn quốc tế bàn về ổn định kinh tế thế giới.
G*#"}a•r*€Q#ƒ|Q4QrG*UX .
Chứng khoán ở Mỹ tụt dốc gây nên tâm lý bất an giữa những nhà đầu tư tại Á châu
và thị trường chứng khoán của những nước này cũng suy sụp theo. Tài sản của các
cá nhân đầu tư chứng khoán bị giảm sút làm giảm khả năng chi tiêu trong dân kéo
theo sự đình đốn trong sản xuất. Tuy nhiên hiệu quả này chỉ mạnh trong các nền
kinh tế tiên tiến trong đó thị trường chứng khoán đã phát triển đáng kể như Nhật,
Hàn Quốc và Đài Loan.
frG*U„ƒ+' *#a•,
Do Mỹ còn chiếm vị trí khá cao nên xuất khẩu và sản xuất của những nước này sẽ bị
đình trệ, tuy rằng những nền kinh tế lớn ở Á châu như Nhật và Trung Quốc trong
những năm gần đây đã giảm đáng kể độ tùy thuộc vào thị trường Mỹ. Chẳng hạn
vào năm 2002 thị trường Mỹ chiếm tới 27% xuất khẩu của Nhật nhưng đến năm
2007 chỉ còn độ 20%. Hiện nay Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất của
Nhật, không phải Mỹ. Đối với Trung Quốc từ năm 2007 thị trường xuất khẩu lớn
nhất cũng đã chuyển từ Mỹ sang EU. Dĩ nhiên tuy đã giảm, vị trí của Mỹ vẫn còn
cao và thị trường ở nước thứ ba (như Âu châu) bị ảnh hưởng của khủng hoảng ở Mỹ
thì xuất khẩu từ Á châu cũng gián tiếp bị ảnh hưởng.
Trong tình hình đó, nội thu sẽ đóng vai trò quan trọng hơn. Mỹ cũng sẽ yêu cầu các
nền kinh tế lớn ở Á châu như Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc chuyển hướng chính
sách tăng nội thu. Đồng tiền các nước này, nhất là đồng nhân dân tệ sẽ lên giá.
Nội thu có lẽ không tăng đủ để bù vào chỗ giảm sút trong xuất khẩu nên tăng trưởng
kinh tế tại Á châu sẽ giảm tốc. Tuy nhiên không thể có chuyện suy sụp như ở Mỹ.
…€113 }€24Q1I"|rG
Các nhà đầu tư chính ở Việt Nam là Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan Ngay cả những
công ty chế tạo của Mỹ nếu có kế hoạch đầu tư vào Việt Nam cũng không vì cuộc
khủng hoảng này mà đình hoãn kế hoạch đó. Kinh nghiệm của thập niên 1990 cho
thấy kinh tế Nhật suy thoái hầu như không ảnh hưởng gì đến FDI của họ ở Trung
Quốc và Việt Nam. Kinh nghiệm của Intel tại Việt Nam cũng cho thấy công ty này
chậm triển khai kế hoạch đầu tư ở nước ta chủ yếu vì không bảo đảm được nguồn
nhân lực có trình độ cao cần thiết. Thành ra, để tiếp tục tiếp nhận FDI từ Nhật, Mỹ
và nhiều nước khác, Việt Nam cần hoàn thiện các điều kiện về nguồn nhân lực, cơ
sở hậu cần, xây dựng công nghiệp phụ trợ
fw'1r*€3ƒ•2( '|Q4Q€Qs
~„ƒ+&
Hiện nay Mỹ chiếm hơn 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Nhưng phần
lớn sản phẩm của ta xuất khẩu sang Mỹ là hàng may mặc, giày dép và hàng thủy sản
nên trước mắt chỉ những mặt hàng này gặp khó khăn. Dù Mỹ không gặp khủng
hoảng, việc tập trung xuất khẩu một số mặt hàng nhất định sang Mỹ dễ gây va chạm
với các nhà sản xuất bản xứ. Vấn đề của Việt Nam là phải nỗ lực chuyển dịch cơ
cấu các mặt hàng xuất khẩu theo hướng cao cấp hơn, đa dạng hơn. Trong thời gian
truớc mắt, Việt Nam nên củng cố sức cạnh tranh của các ngành công nghiệp để khi
kinh tế Mỹ hồi phục sẽ triển khai chiến lược xuất khẩu với nhiều mặt hàng đa dạng
hơn.
Việt Nam cũng cần rút ra các bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ. Nếu để
hệ thống tiền tệ phát triển tự phát với sự xuất hiện các công cụ tài chính càng tinh
vi, phức tạp thì càng khó quản lý. Thị trường chứng khoán phải được phát triển từng
bước và phải có đủ cơ chế công khai thông tin và việc thực thi các luật lệ phải có
tính minh bạch. Phát triển thị trường tài chính một cách vội vàng sẽ dễ phát sinh
khủng hoảng. Đối với Việt Nam hiện nay, mục tiêu tối thượng của hệ thống tiền tệ
là phải làm sao góp phần tăng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu sản xuất và xuất khẩu,
huy động vốn trong dân và giúp những doanh nghiệp tiếp cận với vốn. Thêm vào
đó, hệ thống tiền tệ phải hoàn toàn nằm trong khả năng quản lý, giám sát của Nhà
nước. Để được như vậy, phải ưu tiên củng cố hệ thống ngân hàng, làm cho ngân
đoạn hiện nay, các chính sách kinh tế của các thị trường mới nổi đều chủ yếu tập
trung giải quyết thị trường nội địa.
Các sách kinh tế của những nước này cũng chưa thật sự phát huy được hiệu quả,
người dân vẫn phải thắt lưng buộc bụng.
Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ vào cuối năm 2007 đã lan nhanh
và ảnh hưởng sâu rộng, trở thành cuộc khủng hoảng lớn nhất kể từ thời kỳ đại
suy thoái 1929-1933. Các tác động của cuộc khủng hoảng trên đã lan trên diện
rộng không chỉ hoạt động các ngân hàng, mà tất cả các nền kinh tế, các thị
trường bước vào thời kỳ suy thoái nghiêm trọng.
Một là, hệ thống tài chính bị đổ vỡ hàng loạt với số lượng các ngân hàng bị đổ vỡ,
sáp nhập, giải thể hoặc quốc hữu hoá tăng nhanh chóng. Từ ngày 15/9/2008 đến
6/1/2009, ở Mỹ đã có 14 ngân hàng, tính chung các nước như Mỹ, Châu Âu và Nhật
là 23 ngân hàng. Từ đầu năm 2008 đến 6/1/2009, chỉ tính riêng tại Mỹ con số này
đã lên tới 25 ngân hàng.
Hai là, thị trường chứng khoán suy giảm mạnh mẽ, chỉ tính riêng từ khi bắt đầu
khủng hoảng các thị trường chứng khoán toàn cầu suy giảm mạnh. Trong năm 2008,
cũng do tác động cuộc khủng hoảng nên thị trường chứng khoán tài chính toàn cầu
đã mất khoảng 17.000 tỷ USD. Thị trường chứng khoán các nước mới nổi giảm
54,72%, thị trường các nước phát triển giảm 42,72%. Mức sụt giảm cao nhất rơi vào
các nước Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc khoảng hơn 70%. Ma rốc và Israel là
những thị trường có diễn biến tốt nhất.
Tại một số thị trường lớn kể từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng (12/9/08) đến
12/1/2008 thì hầu hết chỉ số chứng khoán của các quốc gia đều giảm như Mỹ: chỉ số
Dow Jones giảm 25,81%, chỉ số Nasdas giảm 32,03%; chỉ số S&P 500 giảm
30,47%; chỉ số FTSE 100 của Anh giảm 18,29%; chỉ số Nikkey 225 của Nhật giảm
31,12% (chi tiết xem biểu 1)
ˆ%E;‰-"6k(từ ngày 12/9/08 đến 12/01/2009)
u.' ‘2. %,7JT7JO %,7%7JO
XI12#%,7T
’!ˆ1 ’“
r'!ˆ1 I1,JJN‹“Œ I1,JJO‹“Œ
Bang California +75% -33%*
Miền Đông nước Mỹ
(Boston)
-10% (lượng giao dịch BĐS giảm 19%)
Anh -13% so với tháng 3/2008
Latvia 20% -24%
Bốn là, cuộc khủng hoảng khiến cho giá cả của hầu hết các mặt hàng trên thế giới
đều sụt giảm mạnh. Giá dầu giảm mạnh do nhu cầu suy yếu trước bối cảnh kinh tế
toàn cầu rơi vào suy thoái, đồng USD hồi phục so với các đồng tiền chủ chốt khác,
hoạt động đầu cơ cũng phần nào giảm trước bối cảnh không sáng sủa của kinh tế thế
giới. Mức thấp nhất của giá dầu trong thời gian qua là 30,28USD/thùng vào ngày
23/12/2008, tình hình suy giảm nghiêm trọng kéo theo đó là hàng loạt các mặt hàng
khác cũng sụt giảm theo. Chỉ riêng giá vàng có diễn biến tăng trong thời kỳ trên là
do tâm lý của nhà đầu tư lựa chọn chuyển đổi sang kênh đầu tư an toàn hơn.
ˆ/E;‰-" "#(Từ 12/9/2008 đến 12/1/2009)
‘t %,7JT7JO %,7J%7JT
I12#%,7T
>.(w!. ’“
1. Giá hàng hoá
- Giá vàng 763.45 820.25 56.80 7.44
- Giá dầu mỏ 101.19 37.62 -63.57 -62.82
- Giá thép xây dựng 44680.00 30930.00 -13750 -30.77
- Giá ngũ cốc 457.40 349.10 -108.30 -23.68
- Giá cao su 420.00 228.25 -191.75 -45.65