CHƯƠNG 2: Vị Thế Trong Phân Tích
Chi-Phí Lợi Ích
Allen S. Bellas và Richard O. Zerbe
Bước đầu tiên trong phân tích chi phí lợi ích là xác định xem ai là đối tượng có vị
thế trong phân tích. Có nghĩa là ai là người có quyền hưởng lợi cũng như ai là
người có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm chi trả cho các chi phí. Vấn đề vị thế
quyết định góc nhìn của phân tích. Nó có thể có tác động lớn đến các tính toán lợi
ích chi phí.
Trong lý thuyết kinh tế, ai cũng đều có vị thế: nên đưa phúc lợi xã hôị của tất cả
những ai là đối tượng điều chỉnh của một chính sách vào phân tích bất kể họ sống
ở đâu, họ giàu hay nghèo, đã được sinh ra hay sẽ sinh ra ở đâu. Sở dĩ như vậy là
bởi lý thuyết kinh tế không được gắn kết tốt với những tính toán thể chế, nhất là
các tính toán luật pháp. Các vấn đề về vị thế thường xuất hiện trước hết là trong
quá trình đo lường các ý kiến, thứ hai là trong các ước tính thực tế.
Các vấn đề vị thế thực tế nhất thiết phải là các vấn đề chính trị. Chúng cũng là
những vấn đề liên quan đến tư pháp. Phần lớn các phân tích chi phí lợi ích thường
được tiến hành trên vị thế quốc gia. Kết quả là chúng không tính đến vị thế của
người nước ngoài. Song nhìn từ góc độ mang tính địa phương nhiều hơn cũng xuất
hiện một vấn đề tương tự. Hãy tưởng tượng một tình huống thực tế trong đó một
cơ quan hay chính quyền thành phố triển khai một dự án. Nếu một CBA được tiến
hành trên vị thế của cơ quan đó, có thể là chỉ có các thành viên của cơ quan đó
hoặc lợi ích của cơ quan đó có vị thế trong phân tích. Lúc đó, chỉ có chi phí và
doanh thu của cơ quan đó là cần phải tính đến. Nếu thay vào đó, CBA được tiến
hành ở góc độ toàn thành phố thì các cư dân của thành phố đó cũng như chính
quyền thành phố đó có vị thế. Một cách lý tưởng, nên có một vị thế mang tính toàn
cầu hay phổ thông. Có như vậy, lợi ích của người dân trong thành phố đó, các
thành phố lân cận hay ở một nơi nào đó mới được tính đến. Song điều này thường
là không thực tế hay không nhất quán với lợi ích của người tiến hành phân tích.
Xuất phát điểm tiến hành phân tích CBA (hay ai có vị thế) nên được nêu một cách
rõ ràng và áp dụng một cách nhất quán trong suốt quá trình nghiên cứu. Giả dụ
như hãy tưởng tượng rằng một thị trấn đang xem xét việc xây dựng một bệnh viện.
Hãy tưởng tượng rằng chính phủ Hungari muốn nhà máy được xây dựng và đóng
góp 100 triệu đôla cho chính phủ Áo để hỗ trợ chi phí xây dựng. Nhìn từ góc độ
toàn cầu, khoản chi trả này là một sự chuyển nhượng. Nó không phải là chi phí
hay lợi ích của dự án. Tuy nhiên, với một nghiên cứu CBA mà trong đó chỉ có
chính phủ Áo là có vị thế sử dụng thì khoản tiền này sẽ được tính như là lợi ích mà
dự án đem lại. Nếu nghiên cứu CBA được tiến hành dưới góc nhìn của người
Hung thì khoản tiền đó được tính như là chi phí của dự án.
Vấn đề vị thế sử dụng thường được áp dụng không đúng trong phân tích các dự án
phát triển kinh tế nhằm trợ giúp những vùng nghèo đói. Tiền cho các dự án này có
thể được lấy từ các khoản thu thuế ở nơi khác và có lẽ được dùng để thuê nhân
công của vùng đó. Nếu tiền thuế được trả cho các cư dân địa phương dưới dạng
tiền lương, tiền lương đó có thể được tính như lợi ích mà dự án đem lại. Đây là
một cách tính toán sai lầm.Chừng nào những người đóng thuế còn có vị thế sử
dụng thì chừng đó các khoản chi trả lương này còn là những khoản chuyển
nhượng chứ không phải là chi phí hay lợi ích của dự án.
[1] Những chuyển nhượng
này có thể được mong đợi vì những lý do khác. Tuy nhiên, cần phải nêu rõ những
lý do này trong phân tích CBA.
Ví dụ:
Xác định giá trị lao động cho việc khôi phục cây cối bị chặt phá ở hai
bên đường
Một dự án được đề xuất xây dựng với mục tiêu phủ xanh lại các con đường bị đốn
chặt cây hai bên nhằm ngăn chặn tình trạng xói mòn đất và cải thiện chất lượng
nước suối ở khu vực xung quanh. Do việc đốn gỗ gần đây trong vùng có giảm nên
vùng dự án có tỷ lệ thất nghiệp cao. Một phụ nữ đại diện cho người dân trong
vùng cho biết tiền công trả cho người dân địa phương làm việc cho dự án là lợi ích
mà dự án đem lại và nên được tính là lợi ích. Liệu ý kiến của chị có đúng không?
Câu trả lời phụ thuộc vào việc phân tích CBA của dự án được tiến hành dưới góc
Vị thế sử dụng đóng vai trò quan trọng ở đây. Nếu phân tích từ góc độ một dự án
toàn quốc, thì khoản tài trợ $10 đôla của chính phủ sẽ chỉ đơn giản là một khoản
chuyển nhượng. Nó không có tác động gì lớn đến lợi nhuận ròng của dự án. Tuy
nhiên, nếu phân tích từ góc độ một dự án của thành phố thì khoản tiền này lại là
lợi ích của việc lựa chọn dự án xây đường sắt hạng nhẹ. Lúc đó, tổng lợi ích ròng
của dự án tăng lên $45tỷ đôla. Điều này khiến cho dự án xây đường sắt hạng nhẹ
được mong đợi hơn so với dự án tăng cường dịch vụ xe buýt dù cho xét từ góc độ
quốc gia thì dự án này có ưu thế hơn.
2.2 Gộp Lợi ích và Chi phí
Xuất phát điểm quyết định sẽ đưa chi phí nào vào trong phân tích. Ở mức độ đơn
giản nhất, phân tích sẽ bao gồm những thiệt hại mà những người có vị thế sử dụng
trong dự án phải gánh chịu hay những lợi ích mà họ được hưởng. Tuy nhiên, việc
phân biệt đâu là lợi ích và chi phí trở nên khó khăn hơn tuỳ thuộc vào xuất phát
điểm chính xác của nghiên cứu.
Hãy hình dung rằng một phòng quản lý công viên và giải trí thành phố đang cân
nhắc xem có nên xây dựng và vận hành một sân gôn hay không. Người ta có thể
biết tương đối rõ ràng các mức chi phí song không dễ gì quyết định được đâu là lợi
ích được đưa vào trong chi phí. Một phân tích được tiến hành với xuất phát điểm
chung chung sẽ cố gắng tính toán những giá trị mà người chơi gôn sẽ được nhận
nếu có thêm một sân gôn nữa trong khu vực. Lợi ích này có lẽ là giảm bớt tình
trạng quá tải ở các sân gôn, nhiều lựa chọn hơn và độ thuận tiện cao hơn cho
người chơi. Một phân tích từ góc độ thành phố sẽ cố gắng tính lợi ích mà dự án
sân gôn mang lại bằng cách cộng độ thụ hưởng gia tăng mà những người chơi gôn
trong thành phố có được với doanh thu mà những người chơi gôn đến từ nơi khác
thu được. Một phân tích bó hẹp trong phạm vi một phòng chuyên về giải trí sẽ chỉ
tính đến doanh thu mà sân gôn sẽ tạo ra mà bỏ qua giá trị của bất kỳ lợi ích nào
phí thuê sân mà người chơi gôn phải trả. Mỗi một cách tiếp cận sẽ mang lại một
kết quả khác nhau. Nhưng cách tiếp cận nào cũng có thể đúng với điều kiện vị thế
sử dụng tính đến phải đúng.
Vì thế nó thất bại trong việc lột tả sắc thái đạo đức của đối tượng được phân tích.
Liệu có thể dung hoà hai quan điểm này không?
Xuất phát điểm cho chúng ta một phương tiện. Nếu chúng ta tính tất cả các giá trị
thì chúng không chỉ tính đến độ thoả dụng xấu mà còn tính cả độ phản thoả dụng.
Đó không chỉ là những gì mà nạn nhân của lòng hận thù, sự hiểm ác, ghen tị hay tà
dâm phải gánh chịu mà còn là giá trị của sự ghê tởm mà xã hội nói chung dành
cho hành vi xấu xa đó. Việc phân biệt giữa hành động tốt và xấu không chỉ do
người phân tích quyết định mà còn tuỳ thuộc vào phép tắc, thông tục của xã hội.
Có thể lấy những phép tắc này đại diện cho kết quả của một cuộc điều tra mà trong
đó độ thoả dụng xấu cũng như độ thoả dụng tốt có tầm quan trọng như nhau. Một
khi hành vi giết người hay trộm cắp đã là phi pháp thì độ thoả dụng có được từ
việc trộm cắp hay giết người nhìn chung mang giá trị âm. Có thể lấy giá trị này để
phủ định giá trị đồ mà tên trộm ăn cắp được cũng như độ thoả dụng mà kẻ giết
người có được từ việc giết người.
Ví dụ:
Trộm cướp
Một công ty cung cấp độ thoả dụng yêu cầu khách hàng của mình phải ứng tiền
trước một tháng cho các dịch vụ được cung cấp. Trong nhiều trường hợp khi
khách hàng thôi không sử dụng dịch vụ của công ty nữa thì công ty sẽ nợ khách
hàng một khoản. Công ty sẽ trả lại khoản nợ này nếu khách hàng yêu cầu. Song
nếu khách hàng không yêu cầu, công ty sẽ không trả lại. Theo cách này, công ty đã
tích luỹ được vài triệu đô la tiền lời. Hành động này của công ty bị chính phủ phát
hiện và đưa ra toà xét xử. Công ty đồng ý chấm dứt hành vi đó. Vấn đề hiện tại là
liệu có yêu cầu công ty hoàn trả phí khống mà nó đã thu từ khách hàng hay không.
Một nhà kinh tế được công ty thuê lập luận rằng việc trả lại tiền không có ý nghĩa
gì trong phân tích chi phí lợi ích. Công ty sẽ phải mất 03 triệu đô la cho việc hoàn
trả lại này cộng thêm chi phí của việc hoàn trả. Chi phí chiếm khoảng 10% tổng
lợi nhuận hay 300,000 đô la. Vậy là phân tích chi phí lợi ích cho thấy công ty
không nên hoàn trả lại số tiền này vì nó sẽ mất 300,000 đô la. Khoản tiền 3 triệu
tác động và CBA là xuất phát điểm. Phân tích tác động kinh tế giới hạn vị thế sử
dụng với những doanh nghiệp nằm trong một khu vực nhất định tương đối hẹp.
Một phân tích CBA chính xác nên thừa nhận rằng sự có mặt của nhà hát đã thay
thế cho những chi tiêu cho các hoạt động giải trí khác. Thêm vào đó, chuyện xuất
hiện nhà hát khiến cho nhiều khách hàng đến với hàng quán trong vùng đó hơn có
thể đồng nghĩa với việc hàng quán ở một nơi khác nào đó có ít khách hàng hơn.
Nói một cách khác, các doanh nghiệp tại địa điểm có nhà hát chỉ đơn giản lấy đi
công việc làm ăn của các doanh nghiệp ở các vùng lân cận. Việc mở rộng phân
tích sao cho tất cả các doanh nghiệp trong thành phố hay khu vực đều có vị thế sử
dụng hầu như không thể tạo ra tác động ròng nào của một tiện ích mới cho dù tác
động kinh tế vùng có thể là rất lớn.
2.4 Vị thế Tương đối và Vấn đề Phân phối
Bởi vậy, chúng ta đã chỉ xem xét việc đưa vào hay loại bỏ vị thế sử dụng trong quá
trình thảo luận của chúng ta. Những người có vị thế trong một phân tích đều có
tầm quan trọng tương đương nhau. Tình huống này nhất quán với các điều kiện
Pareto hay Kaldor-Hicks tiềm năng (potential Pareto or Kaldor-Hicks ~KH). Các
điều kiện này chỉ rõ rằng một dự án là đáng mong đợi nếu như những người được
lợi từ dự án có khả năng dùng khoản lợi mà họ thu được để bồi thường cho những
người chịu thiệt hại. Diễn đạt một cách hơi khác đi một chút, điều kiện này có
nghĩa là một dự án là đáng để triển khai khi lợi ích lớn hơn chi phí cho dù có phân
phối lợi ích và chi phí như thế nào đi chăng nữa.
Đã có nhiều nỗ lực được thực hiện để đưa các cân nhắc phân phối vào trong phân
tích lợi ích chi phí. Tuy nhiên, chưa đi đến một cách tiếp cận chung nào. Cách tiếp
cận lý tưởng nhất là trong một nghiên cứu, những đối tượng khác nhau sẽ được
giao những vị thế ở mức độ khác nhau. Thế nên, khi áp đặt lên người này chứ
không phải người khác, các mức chi phí lợi ích có thể là khác nhau. Tầm quan
trọng khác nhau tương ứng với mỗi người được gọi là
sức nặng phân phối
(distributional weigths).
Một trong những lý do thông thường nhất lý giải việc gắn cho mỗi người một vị
ứng cho cư dân nông thôn hay cư dân thành thị. Việc làm thế nào để xác định sức
nặng của mỗi nhóm trong việc đánh giá dự án có thể được dành cho độc giả của
báo cáo.
Một kỹ thuật thứ hai có thể được dùng là gắn những sức nặng rõ ràng cho các
nhóm khác nhau chịu tác động của dự án. Có thể tính toán được cái được và cái
mất của mỗi nhóm. Sau khi nhân với sức nặng phân phối của mỗi nhóm, chúng sẽ
được cộng lại với nhau để có được lợi ích ròng gia quyền (weighted net benefit).
Xét ví dụ về một dự án sẽ buộc cư dân vùng lân cận A phải gánh chịu chi phí ròng
trong khi đem lại lợi ích ròng cho cư dân vùng lân cận B. Ví dụ này được thể hiện
tại bảng 2-1. Vì cư dân của vùng A giàu có hơn cư dân vùng B nên có sức nặng
phân phối ít hơn.
[2]
Bảng 2-1
Vùng lân
cận
Lợi ích
ròng
Sức nặng
Phân phối 1
Lợi ích ròng
Gia quyền
Sức nặng
Phân phối 2
Lợi ích ròng
Gia quyền
A -100 1 -100 1 -100
B +80 1.2 +96 1.4 +112
-20 -4 +12
Dưới điều kiện Kaldor-Hicks, dự án là không được mong muốn vì lợi ích ròng của
dự án mang giá trị âm. Tăng sức nặng tương đối gắn cho mỗi cư dân của vùng lân
Nếu như người đọc cho rằng đó là một phân bổ sức nặng tương đối hợp lý thì dự
án là đáng được mong đợi. Nếu bạn đọc cảm thấy rằng cách tính này gán quá
nhiều sức nặng cho cư dân vùng lân cận B thì theo ý kiến của người đọc nên phản
đối việc triển khai dự án.
Không có một cách tiếp cận nào trong những cách tiếp cận này là thoả đáng hoàn
toàn vì người ta vẫn chưa nhất trí được với nhau xem thế nào là sức nặng. Thật ra,
vẫn có thể triển khai một dự án mà lợi ích ròng tính được mang giá trị âm bằng
cách bổ sung thêm chuyển giao thu nhập từ người giàu sang người nghèo. Cho đến
lúc nào sức nặng phân phối lớn hơn được chuyển giao cho người nghèo và biến nó
thành một dự án tốt. Cách tiếp cận này có thể bị phản đối bằng lập luận cho rằng
thực ra tiến hành dự án có thể là một phương thức chuyển tiền không hiệu quả. Để
lý giải cho điều này, Harberger đã đưa ra giả thuyết rằng không được đưa ra sức
nặng phân phối nào lớn hơn sức nặng xác định bởi phương pháp chuyển tiền trực
tiếp ít tốn kém nhất. Đây là cách tiếp cận tốt hơn.
Dựa vào cách tiếp cận của Harberger có thể vận dụng một cách tiếp cận khác.
Trong cách tiếp cận này tình cảm đối với người khác cũng được đo lường bằng
các mức giá trị giống như các loại hàng hoá khác. Một phương pháp chung duy
nhất của việc gắn các sức nặng là xác định giá trị của một số người theo độ sẵn
sàng chi trả cho người khác để có được phúc lợi xã hội cho mình. Cách tiếp cận
này là nhất quán với việc chuẩn bị cho phân tích chi phí cơ hội ban đầu. Thế nên,
tình cảm đạo đức đối với người khác cũng có vị thế. Cách tiếp cận này được gọi là
phép đo tổng thể (aggregate measure) hay AM. Một cách tiếp cận như vậy cũng
góp phần giải quyết một số vấn đề lợi ích chi phí.
2.5 Vị thế, sức nặng phân phối và các thế hệ con cháu
Có một vấn đề liên quan đến vị thế đầy thách thức. Đó là vấn đề chi phí lợi ích cho
thế hệ sau này mà một dự án có tác động lâu dài mang lại. Biện pháp khấu trừ liên
thời gian chuẩn mà ta đã bàn tới đâu đó trong bài khoá này có xu hướng khấu trừ
phần lớn chi phí lợi ích mãi sau này mới phát sinh.
[5] Kết quả của việc khấu trừ
kiểu này là nhất thiết phải từ chối vị thế cho các thế hệ tiếp nối chỉ vì họ không có
(Parfit, 1994). Kiểu lập luận này là lời biện minh đạo đức cho những gì mà tình
cảm của chúng ta nên có đối với các thế hệ con cháu chúng ta. Song đây không
phải là một lời tuyên bố có hiệu quả về việc nên sử dụng tỷ lệ chiết khấu nào, có
nên sử dụng hay không hay thậm chí là về những tình cảm đạo đức thích hợp. Giải
pháp được đề xuất của việc vận dụng tỷ lệ chiết khấu thấp hay không sử dụng tỷ lệ
chiết khấu là
tạm thời. Nếu được áp dụng một cách chung chung sẽ dẫn đến các
vấn đề đạo đức khác. Ví dụ như việc áp dụng các dự án đem lại lợi ích ít hơn cho
cả các thế hệ hiện tại và tương lai.
[7]
Trong Bảng 2-2, một cách tiếp cận chi phí lợi ích KH chuẩn cho ví dụ chất thải hạt
nhân giả định được so sánh với AM trong bốn kịch bản khác nhau: kịch bản 1, có
cả bù đắp và giảm nhẹ; kịch bản 2, có bù đắp; kịch bản 3, có giảm nhẹ vì chi phí
hành chính của bù đắp là quá lớn; và cuối cùng là kịch bản 4, không có bù đắp mà
cũng không có giảm nhẹ. Bù đắp được quyết định bởi thế hệ hiện tại vì thiệt hại
gây ra do thế hệ tương lai là $7 tỷ và chi phí cho giảm nhẹ là $4 tỷ. Một ví dụ của
giảm nhẹ có thể là tạo ra một vật chứa chất thải hạt nhân an toàn hơn hoặc chuyển
chất thải đó vào vũ trụ. Các kết quả được thể hiện bởi giá trị hiện tại ròng, NPV.
Bảng III. So sánh giữa KH và AM *, Các Giá trị Hiện tại của Được và Mất
[1] [2] [3] [4]
CHI PHÍ VÀ LỢI
ÍCH
Không có bù đắp
hay Giảm nhẹ
(PV Hàng tỷ)
Có bù đắp
(PV Hàng tỷ)
Có giảm nhẹ tác
động
Bù đắp là không