Tài liệu Phân Tích Chi Phí và Lợi Ích - CHƯƠNG 4: Vận dụng Giá cả Thị trường để Định giá Đầu-vào - Pdf 97

CHƯƠNG 4: Vận dụng Giá cả Thị
trường để Định giá Đầu-vào
Allen S. Bellas và Richard O. Zerbe
Đầu-vào là các dịch vụ và hàng hoá sử dụng trong dự án. Ví dụ như bê tông và lao
động dùng trong việc xây một con đập, vật liệu xây dựng dùng trong việc tiến
hành một dự án xây nhà công cộng hay đất đai dùng để xây sân-gôn của thành
phố. Phần lớn trong số các dịch vụ, hàng hoá này được đem ra bán hay thuê trên
một dạng thị trường nào đó. Mức giá được trả trên các thị trường này là thước đo
chuẩn xác của giá trị dịch vụ, hàng hoá được trao đổi, cho thuê. Tuy nhiên, chúng
ta gặp phải một số thách thức khi lấy mức giá thị trường để xác định giá trị của
đầu-vào. Cần phải tính đến các loại thuế, tác nhân ngoại sinh và các bóp méo thị
trường khác một cách chính xác. Nếu bất kỳ đầu-vào nào có được không phải
thông qua mua bán, trao đổi trực tiếp, tự nguyện mà thông qua một hình thức
khác, chúng cần phải được định giá khác với mức giá thị trường.
Việc dùng đầu-vào trong một dự án có ba ngụ ý sau. Thứ nhất, mức giá thị trường
của đầu-vào có thể tăng do cầu đầu-vào đó tăng. Thứ hai, người tiêu dùng khác
của đầu-vào đó có thể có kết cục là phải sử dụng ít hơn đầu-vào đó do dự án đã lấy
đi một lượng nhất định đầu-vào đó ra khỏi thị trường. Thứ ba, các nhà sản xuất
đầu-vào đó có thể tăng lượng sản xuất để đáp ứng lượng cầu bổ sung của dự án.
Mức độ cắt giảm cầu hay gia tăng lượng sản xuất phụ thuộc vào độ co dãn tương
ứng của cung và cầu.
Việc mức tiêu dùng một đầu-vào suy giảm và lượng sản xuất một đầu-vào gia tăng
đều là chi phí của một dự án. Mức tiêu dùng tư một đầu-vào suy giảm được coi
như chi phí của một dự án vì các cá nhân sẽ tiêu dùng ít hơn mức họ mong đợi
một hàng hoá hay một dịch vụ. Việc mở rộng sản xuất cũng là một chi phí vì
người ta phải chuyển các đầu-vào sản xuất từ các hoạt động khác sang việc mở
rộng sản xuất loại đầu-vào này.
Nghiên cứu chi phí đầu-vào một cách chuẩn xác có thể được tóm lược thành hai
quy tắc sau đây:
· Mức giảm lượng tiêu dùng tư một đầu-vào phải được đo lường dựa trên mức sẵn
sàng chi trả của người tiêu dùng khác cho đầu-vào đó.

địa phương có dư khả năng cung cấp điện thì cung điện sẽ có độ co dãn rất lớn.
Bởi vậy, cách để đáp ứng cầu bổ sung về điện là mở rộng quy mô sản xuất.
Hình 4-1

Mức độ thay đổi trong cách thức ứng dụng những quy tắc này tuỳ thuộc vào điều
kiện của các thị trường đầu-vào. Trước tiên, chúng ta sẽ xem xét các thị trường
hoạt động không có một sự bóp méo nào. Tiếp đó chúng ta sẽ quay sang tìm hiểu
một số bóp méo hay tính phi hiệu quả khác có thể khiến cho chi phí thực của đầu-
vào trở nên hoàn toàn khác biệt so với mức giá chi trả cho đầu-vào đó.
4.1 Khi các Thị trường Hoạt động Tương đối Hiệu quả
Nếu các thị trường hoạt động hiệu quả thì mức sẵn sàng chi trả của người tiêu
dùng phải xấp xỉ chi phí cận biên của sản xuất. Đơn giản, chúng sẽ là mức giá thị
trường của đầu-vào. Nó gợi chúng ta nhớ đến một thị trường không có thuế (hoặc
có nhưng không đáng kể), không có các nhân tố ngoại sinh và không có các công
ty với sức mạnh thị trường đáng kể nào, một thị trường mà cả nhà cung cấp và
người tiêu dùng đều được thông tin tốt. Những điều kiện này nhất quán với mô
hình cạnh tranh hoàn hảo đặc trưng. Song thị trường không nhất thiết phải cạnh
tranh hoàn hảo theo nghĩa khắt khe nhất của các nguyên tắc được áp dụng trong
phần này. Một điểm quan trọng cần tính đến ở đây là không có sự khác biệt đáng
kể nào giữa chi phí cận biên của sản xuất và mức giá mà người tiêu dùng chi trả.
Trong tình huống đơn giản nhất, việc quyết định xem mức độ gia tăng của sản
xuất và suy giảm của tiêu dùng không mấy quan trọng. Điểm quan trọng cần tính
đến là lượng đầu-vào mà dự án yêu cầu tương ứng với kích cỡ của thị trường liên
quan. Hay đó chính là việc liệu mức giá thị trường có khả năng thay đối dưới tác
động của dự án hay không. Điều này có nghĩa là liệu dự án sẽ tiêu thụ một lượng
nhỏ hay một lượng lớn đầu-vào?
Trường hợp Cơ bản: khối lượng tương đối lớn
Hình 4-1 cho ta sơ đồ cơ bản nhất của cầu gia tăng đối với đầu-vào trong một dự
án. Việc một dự án mua đầu-vào khiến cho giá tăng từ mức P
0

p
và giá trị bình quân của một đơn vị đầu-
vào là
. Vậy nên, tổng chi phí của đầu-vào này sẽ là tích của cả hai giá trị
này, tức là bằng
.[2] Ví dụ như nếu một dự án sử dụng một
lượng lớn lao động ở vùng sâu vùng xa của một nước đang phát triển. Dự án này
khiến cho mức lương trả cho lao động địa phương tăng từ $8.00/ngày lên
$10.00/ngày. Giá trị chuẩn gán cho lao động sử dụng trong dự án này sẽ là bình
quân của hai mức lương này, tức là $9.00/ngày.
Trong việc ước tính tác động mà các dự án lớn có đối với giá cả, một cách tiếp cận
là sử dụng cách ước tính độ co dãn giá của cầu và độ co dãn giá của cung đang
xét. Phần trăm giá tăng do tác động của dự án có thể được tính toán bằng cách sử
dụng phương trình dưới đây

trong đó
Q = tổng lượng hàng hoá trao đổi trên thị trường trước khi thực thi dự án
Q
DuAn
= lượng hàng sẽ được dự án tiêu thụ
PED = độ co dãn giá của cầu đối với đầu-vào
PES = độ co dãn giá của cung đối với đầu-vào
Ví dụ: Dự án Guacamole
Trong nỗ lực xúc tiến du lịch, một cộng đồng dân cư ở California muốn thiết lập
một vựa guacamole lớn nhất thế giới. Lãnh đạo thị trấn ước tính rằng việc này sẽ
tiêu tốn 20% lượng cung quả lê tàu (avocados) của khu vực Bắc Mỹ trong năm tới.
Các nhà kinh tế ước tính rằng độ co dãn giá của cung sản phẩm lê tàu là 0.3 và độ
co dãn của cầu hàng hoá này là -1.2. Để tính được % mức giá gia tăng dưới tác
động của dự án thì công thức tính sẽ là


có khả năng sẽ quay trở lại mức cân bằng dài hạn. Đây chính là cung dài hạn co
dãn hoàn toàn, tức là về mặt dài hạn giá cả sẽ không hề tăng.
Quá trình chuyển đổi từ ngắn hạn sang dài hạn cần một khoảng thời gian bao lâu
còn tuỳ thuộc vào đặc thù của từng ngành. Mỗi người cũng lại có cách nhìn khác
nhau đối với vấn đề này. Nếu công ty có đủ năng lực sản xuất dư thừa hay nếu có
thể nhanh chóng tạo ra khả năng mở rộng sản xuất, thời gian chuyển đổi có thể là
rất ngắn. Nếu công ty không có đủ năng lực sản xuất dư thừa hay không thể nhanh
chóng thiết lập năng lực mở rộng sản xuất (có thể như trường hợp sản xuất thép
hay lọc dầu) cần phải có một khoảng thời gian kéo dài hàng năm trời mới đạt được
mức dài hạn.
Ví dụ: Dự án Trồng đào
Một dự án nghiên cứu trong nhiều năm sẽ sử dụng một lượng đào tương đương
với khoảng 10% thị trường địa phương hiện tại để trồng đào cho thu hoạch ít nhất
là hai mươi năm sau. Một cây đào cần khoảng 5 năm để bắt đầu đậu quả. Nếu giá
đào nhìn chung là khoảng $150/trái và độ co dãn giá của cầu đối với sản phẩm đào
được ước tính là -1.4, mức giá nào sẽ được sử dụng để định giá sản phẩm đào
được dùng trong dự án?
Nhân tố đầu tiên cần tính đến là liệu có thị trường quốc tế cho sản phẩm đào hay
không? Nếu có thì các nhà cung cấp nước ngoài có thể có khả năng điều chỉnh sản
xuất để đáp ứng lượng cầu bổ sung của dự án mà không tạo ra một sự tăng giá
đáng kể nào. Trong trường hợp này mức giá chi phối trên thị trường thế giới sẽ là
mức giá vận dụng thích hợp (mức giá này vào khoảng $150 với điều kiện không
có rào cản thương mại).
Nếu không có thị trường thế giới cho sản phẩm đào và không có thặng dư trong thị
trường nội địa, chúng ta có thể giả định rằng độ co dãn giá cung ngắn hạn là 0.
Công thức trên cho chúng ta kết quả sau

hay mức giá tăng khoảng 7% từ $150 lên $160.50. Giá trị thích hợp gắn cho đầu-
vào đào sẽ là trung bình của hai con số này, tức là $155.25. Mức giá này chỉ thích
hợp về mặt ngắn hạn hay trong khoảng thời gian 5 năm đầu tiên của dự án. Sau đó,

vẫn là những nguyên tắc chỉ đường, việc áp dụng các nguyên tắc đó sẽ trở nên
phức tạp hơn đôi chút khi có các bóp méo thị trường.
Định giá đầu-vào khi có thuế
Phần lớn các đầu-vào dự án đều có khả năng phải chịu một loại thuế nào đó. Lao
động phải chịu thuế lương, vật liệu xây dựng phải chịu thuế bán hàng. Có thể có
những loại thuế liên quan đến việc chuyển nhượng đất đai hay xây dựng sử dụng
trong một dự án. Tuy có thể dùng mức giá thị trường để đo lường chi phí của các
đầu-vào bị đánh thuế song việc tính toán là phức tạp hơn đôi chút. Một điểm cần
tính đến là mức độ cần phải đưa thuế vào chi phí đầu-vào. Điều thứ hai cần tính
đến là tác động tương đối của dự án lên tổng sản lượng và tiêu dùng tư của đầu-
vào. Có nghĩa là khi dự án mua các đơn vị đầu-vào thì bao nhiêu trong tổng lượng
đầu-vào được mua đó có được từ tăng sản lượng, bao nhiêu có được từ giảm tiêu
dùng tư?
Để thực hiện những mục tiêu chương này đưa ra, giả định rằng chính phủ thu thuế
có vị thế trong phân tích. Ẩn ý ở đây là chi trả thuế chỉ đơn thuần là chuyển
nhượng của người nộp thuế cho chính phủ và không được tính là chi phí hay lợi
ích. Một quan điểm khác có thể là chính phủ thu thuế không có vị thế. Một ví dụ
của tình huống này là phân tích chi phí-lợi ích được tiến hành dưới góc nhìn của
các cư dân của một bang. Bất kỳ chi trả nào cho chính quyền Liên bang có thể
được coi là chi phí, thậm chí ngay cả khi được coi một cách chuẩn xác hơn như
chuyển nhượng từ người nộp thuế cho nhà nước sang chính quyền Liên bang. Một
ví dụ khác là phân tích chi phí-lợi ích của một chương trình viện trợ. Chương trình
này gửi đồ cứu tế đến cho người dân của một nước có chính quyền áp bức, không
được lòng dân. Chính quyền đó sẽ đánh thuế hàng hoá viện trợ. Nếu coi chính
quyền là tham nhũng, thù địch hay là một thế lực bất chính thì bất kỳ khoản thuế
nào cũng có thể được coi là các chi phí. Nếu chính quyền không có vị thế, cần phải
sửa đổi phân tích sao cho chi trả thuế là một chi phí.
Hai quy tắc chỉ ra trước đó trong chương này hàm ý rằng nên đưa thuế liên quan
đến đầu-vào vào trong giá trị của mức tiêu dùng tư bị cắt giảm chứ không phải là
giá trị của sản lượng gia tăng. Người tiêu dùng tư sẽ mua thêm các đơn vị đầu ra

nhà chức trách thu thuế.
[4]
Hình 4-2 mô tả tác động của một dự án lớn lên thị trường một đầu-vào bị đánh
thuế. Với chi phí cận biên của sản xuất không tính gộp cả thuế thì đường cung ban
đầu được biểu diễn bởi phương trình S=MC. Tác động của thuế là làm cho đường
cung dịch chuyển sang đường S
t
, ngang với chi phí cận biên của sản xuất cộng với
thuế. Tác động của dự án được biểu hiện như một sự gia tăng của cầu cho đầu-vào.
Cầu tăng làm tăng mức giá từ P
0
lên P
1
và giảm lượng hàng hoá được bán ra trên
thị trường. Phía bên phải của vùng bôi thẫm thể hiện chi phí của việc mở rộng sản
xuất đầu-vào được định giá theo chi phí cận biên của sản xuất loại trừ thuế. Phía
bên trái của vùng bôi thẫm thể hiện mức cắt giảm tiêu dùng tư được định giá theo
giá trị cận biên, mức giá bao gồm thuế.
Để tính được giá trị của đầu-vào, phải nhân mức sản lượng gia tăng với trung bình
của các mức giá trước và sau dự án loại trừ thuế và phải nhân mức cắt giảm trong
tiêu dùng tư với trung bình của mức giá trước và sau dự án bao gồm thuế.
Phần khó nhất của quá trình định giá có thể là quyết định xem bao nhiêu lượng
đầu-vào mà dự án đã tiêu dùng có thể được bù đắp bằng sản lượng gia tăng, bao
nhiêu lượng đầu-vào có thể được bù đắp thông qua tiêu dùng tư.
Chìa khoá để quyết định điều này là một số kiến thức về độ co dãn cung và cầu
của mặt hàng được xét. Có thể dễ dàng có được chúng từ những dự đoán trước đây
mà các nhà kinh tế đã đưa ra. Danh sách các nguồn lực ở cuối quyển sách có thể
đưa ra những dự đoán về độ co dãn cung và cầu cho các mặt hàng mà bạn quan
tâm.
Nếu có được các dự đoán về độ co dãn cung và cầu thì có thể dự đoán được thay

hợp cho tiêu dùng tư bị cắt giảm sẽ là $825 và giá trị tương ứng cho sản lượng
tăng sẽ là $725 và tổng chi phí của bê tông dùng cho việc xây đập sẽ là

Trong phần lớn các trường hợp thì không thể có được những con số ước tính về độ
co dãn có thể tin tưởng được. Dưới đây là một số chỉ dẫn trong trường hợp thiếu
các con số dự đoán đáng tin cậy. Thứ nhất, nếu các nhà cung cấp trên thị trường có
thừa năng lực và năng lực này có thể dễ dàng được khai thác thì độ co dãn cung
thậm chí là độ co dãn cung ngắn hạn có thể là co dãn hoàn toàn. Điều này có nghĩa
là tất cả lượng đầu-vào mà dự án cần có thể chỉ đơn thuần có được từ sản lượng
gia tăng của các công ty sẵn sàng tăng cường sản xuất và bán ra bổ sung. Nếu
năng lực sản xuất bổ sung này có chi phí cận biên bằng năng lực được sử dụng
trước đó, giá thị trường không thuế sẽ là mức chi phí thích hợp để áp dụng cho
đầu-vào bổ sung. Nếu năng lực sản xuất dư thừa này có chi phí cận biên cao hơn
các quá trình sản xuất thông thường chút ít thì nên lấy mức chi phí cận biên cao
hơn làm chi phí đầu-vào. Thứ hai, nếu có hạn chế đối với tiềm năng cho sản lượng
gia tăng song người tiêu dùng lại có những mặt hàng khác thay thế, tức là cầu của
họ có độ co dãn lớn thì lượng đầu-vào cần có có thể có được từ khoản tiêu dùng tư
bị cắt giảm. Trong trường hợp này, nên định giá đầu-vào dựa trên mức sẵn sàng
chi trả của người tiêu dùng, tức là có bao gồm thuế đánh vào hàng hoá. Thứ ba,
nếu năng lực dư thừa và khả năng thay thế hàng hoá của người tiêu dùng tư là hạn
chế thì sẽ là hợp lý khi đơn thuần giả định là một nửa lượng đầu-vào cần được đáp
ứng bởi sản xuất gia tăng và một nửa được đáp ứng bằng cắt giảm tiêu dùng tư. Ít
nhất là nó hợp lý cho đến khi có thể khai thác được năng lực sản xuất mới. Với giả
định này, một nửa lượng đầu-vào gia tăng sẽ bị đánh thuế và một nửa còn lại thì
không. Trong trường hợp nào thì người phân tích cũng phải nắm chắc về các giả
định được dùng.
Giả định Cực đoan 1: Cung Co dãn Tuyệt đối
Một giả định cực đoan là cung của đầu-vào là co dãn hoàn toàn. Tuy nhiên, giả
định này không nhất thiết phải là một giả định không thực tế. Nói một cách khác,
giả định này tuyên bố rằng, dự án sẽ không gây ra bất kỳ một sự suy giảm nào

khoản chuyển nhượng và chi phí lao động phù hợp được dùng là

Tuy nhiên, nếu phân tích được tiến hành trên quan điểm của cơ quan thực hiện dự
án, thuế thu nhập có thể được coi là các chi phí. Mức tiền công đầy đủ $20.00/giờ
sẽ là chi phí áp dụng cho lao động.
dụ: Một dự án tiêu dùng mặt hàng xăng
Một dự án liên quan đến việc vận hành một số phương tiện tiêu thụ xăng. Dự đoán
chuẩn xác nhất là dự án sẽ dùng 10,000 galông xăng. Mức giá xăng hiện tại là
$1.50 một galông trong đó bao gồm tiền thuế là $0.40/galông.
Nếu xăng được cung cấp trên thị trường lớn, mang tính cạnh tranh và nếu mức
năng lực dư thừa đủ để cho phép đáp ứng mức cầu gia tăng với chi phí bổ sung
không đáng kể thì mức cầu của dự án sẽ được đáp ứng bằng việc mở rộng sản
xuất. Trong trường hợp này giá trị đúng gắn cho lượng xăng được tiêu thụ sẽ là chi
phí cận biên của sản xuất. Nếu ngành công nghiệp xăng là cạnh tranh một cách
hợp lý thì mức giá trước thuế $1.10 phải là mức xấp xỉ chuẩn nhất của chi phí cận
biên của xăng được dùng trong dự án và sẽ bằng $1.10 x 10,000 = $11,000.

Khi có tác nhân ngoại sinh
Như đã nhắc đến trước đây, nên định giá sản lượng gia tăng theo chi phí cận biên
của việc mở rộng sản xuất. Nếu việc mở rộng sản xuất hay tiêu dùng thêm một
đầu-vào gây ra một tác động ngoại biên tiêu cực, nên đưa giá trị của thiệt hại ngoại
sinh vào chi phí của việc sản xuất thêm đầu-vào. Trong trường hợp này, chi phí
cận biên tư của việc sản xuất đầu-vào không tính đến chi phí xã hội đầy đủ của
đầu-vào. Lúc này, cần phải tính đến cả các thiệt hại ngoại sinh. Nói một cách rõ
ràng hơn, nếu một dự án giúp mở rộng sản xuất một đầu-vào và việc mở rộng sản
xuất này gây ra thiệt hại nhất định về ô nhiễm môi trường thì cần phải đưa giá trị
thiệt hại ô nhiễm gia tăng vào chi phí của đầu-vào.
Hình 4-3 mô tả tác động của một dự án đối với thị trường của một đầu-vào mà
việc sản xuất đầu-vào này tạo ra tác động ngoại ứng tiêu cực. Đường cung được
quyết định theo chi phí cận biên tư (Private Marginal Cost ~ PMC) của việc sản

các tác động này một cách định tính mà không áp dụng một giá trị tiền mặt cụ thể.
Một điểm khác cần phải tính đến là có thể áp đặt thuế với mục đích nhằm khắc
phục thiệt hại do tác động ngoại sinh gây ra (cái được gọi là thuế Pigouv ~
Pigouvian tax). Trong trường hợp như vậy, cần phải đưa thuế cả trong việc định
giá mức tiêu dùng tư bị cắt giảm và trong việc định giá sản xuất bổ sung vì thuế
đại diện cho các chi phí ngoại sinh liên quan đến chi phí của các nguồn lực không
được mua bán sử dụng trong việc sản xuất đầu-vào.
Ví dụ: Một dàn lọc dầu lớn sắp bị đóng cửa tạm thời để lắp đặt một thiết bị kiểm
soát ô nhiễm mới. Vụ đóng cửa sẽ khiến cho mức cung dầu của một vùng nhất
định trong nước giảm đi 20% trong vài tháng. Trong một khoảng thời gian ngắn
như vậy, cả cung và cầu đều là không co dãn một cách tương đối. Độ co dãn cầu
dự đoán chuẩn xác nhất là -0.2 và độ co dãn cung dự đoán chuẩn xác nhất là 0.4.
Mức giá xăng trung bình gần đây là $1.25/galông song mức giá này đã bao gồm cả
khoản thuế $0.50/galông. Cần phải định giá sản lượng bị mất như thế nào? Lưu ý
rằng trong trường hợp này, sản lượng bị mất đi là chi phí của dự án ngay cả khi
xăng không phải là một đầu-vào của dự án theo định nghĩa chính xác nhất.
Trong nghiên cứu này có một số vấn đề cần phải đề cập đến. Vấn đề thứ nhất là
xác định mức tăng giá thị trường có khả năng xảy ra. Dùng phương trình được giới
thiệu trước đây ta có

Giá thị trường tăng 33% có nghĩa là mức giá trong khoảng thời gian thực thi dự án
vào khoảng $1.66 bao gồm hay loại trừ thuế. Giá trị trung bình của mức giá trước
dự án và trong thời gian thực thi dự án sẽ là $1.455 và $0.9455.
Vấn đề thứ hai là mức chi phí sản xuất cận biên cho xăng là bao nhiêu. Nếu thị
trường bán buôn mặt hàng xăng là thị trường cạnh tranh thì mức giá trước thuế có
thể xấp xỉ ngang bằng với chi phí cận biên. Thế nên chúng ta giả định rằng chi phí
cận biên là $0.75 trước dự án và là $1.16 trong thời gian thực hiện dự án. Nếu thay
vào đó, các công ty lọc dầu có sức mạnh thị trường đáng kể, chi phí cận biên có
thể thấp hơn mức $0.75 rất nhiều. Có thể dự đoán mức chi phí này thông qua kiến
thức có được về ngành công nghiệp đó (các kỹ sư có thể có khả năng đưa ra được


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status