Tài liệu Phân Tích Chi Phí và Lợi Ích - CHƯƠNG 5: Định Giá Đầu-Ra (output) Sử Dụng các Mức Giá Thị Trường doc - Pdf 97

CHƯƠNG 5: Định Giá Đầu-Ra (output)
Sử Dụng các Mức Giá Thị Trường

Allen S. Bellas và Richard O. Zerbe
Đầu-ra (output) là các hàng hoá và dịch vụ do một dự án tạo ra. Đầu-ra (output) có
thể là điện do một đập thuỷ điện tạo ra, các căn hộ trong một dự án nhà chung cư
hay các lợi ích vui chơi giải trí mà một sân gôn của thành phố tạo ra. Trong khu
vực tư nhân, hàng hoá dịch vụ được bán trên các thị trường mà mức giá được chi
trả là thước đo chuẩn xác giá trị của chúng. Nếu đầu-ra (output) của một dự án
được bán trên các thị trường cho những người trả giá cao nhất thì mức giá thị
trường có thể được dùng để định giá cho các đầu-ra (output) này. Tuy nhiên, có
một số thách thức trong việc sử dụng giá thị trường để định giá cho đầu-ra (output)
của dự án. Cần phải tính đến thuế, tác nhân ngoại sinh và những bóp méo thị
trường chuẩn khác một cách chính xác. Ngoài ra, đầu-ra (output) cũng cần phải
được phân phối qua các thị trường mở mà bất kỳ người nào muốn bán hàng hoá đó
tại mức giá thị trường được phép làm vậy và trong điều kiện cân bằng, lượng cung
bằng với lượng cầu. Nếu vì một lý do nào đó đầu-ra (output) được bán với mức
giá không phản ánh giá trị thực trên thị trường của đầu-ra (output) thì giá trị tiền
mặt có thể không phải là thước đo tốt đối với lợi ích của dự án.

Ví dụ: Phân phối Phi thị trường ở các Khu chung cưVí dụ như hãy hình dung một dự án xây nhà chung cư xây dựng một số căn hộ
giống với những căn hộ đang được cho thuê trong khu vực tư song lại được bán
với mức giá thấp hơn so với mức giá thị trường cho các hộ gia đình có thu nhập
thấp đang có nhu cầu mua nhà chung cư. Việc sử dụng những mức giá cho thuê
thấp hơn mức giá thị trường này đối với mỗi đơn vị nhà ở cho thuê có thể là không
chính xác vì các đơn vị này tương đương với những đơn vị nhà ở do khu vực tư
cung cấp. Giá trị của chúng cần phải được định giá ở mức tương đương với giá trị
của các căn hộ cho thuê tư nhân. Độ chênh lệch giữa mức giá cho thuê cao ở khu


· Mức giảm trong sản xuất tư của một đầu-ra cần được đo lường dựa theo chi phí
cận biên mà nhà sản xuất phải bỏ ra cho việc cắt giảm sản xuất.

Hình 5-1 minh hoạ những quy tắc này, đường cung và đường cầu ban đầu là S và
D. Dự án tăng cung đầu-ra từ S lên S'. Mức tăng trong tiêu dùng, Q
t
- Q
0
, được
định giá dọc theo đường cầu hay giá trị cận biên. Mức cắt giảm của sản xuất tư, Q
0

- Q
p
, được định giá dọc theo đường cung và đường chi phí cận biên. Tổng tiêu
dùng tăng và sản xuất giảm là tổng lượng đầu-ra (output) mà dự án tạo ra. Chương
này bàn đến việc áp dụng chuẩn xác những quy tắc này cho hàng loạt các tình
huống khác nhau.

Hình 5-1
Các kích cỡ tương ứng của sản xuất tư giảm và tiêu dùng tăng sẽ phụ thuộc vào độ
co dãn tương ứng của cung và cầu.

Nếu cầu là co dãn tương đối và cung là không co dãn tương đối thì đầu-ra (output)
tăng thêm do dự án tạo ra sẽ được dùng cho tiêu dùng gia tăng. Ví dụ như một dự
án làm tăng diện tích văn phòng công sở trong một khu vực sẽ khiến cho tổng diện

những nguyên tắc của phần này. Một điều quan trọng cần phải tính đến là không
có độ chênh lệch lớn giữa chi phí cận biên và mức giá chi trả bởi người tiêu dùng.

Trong tình huống đơn giản này việc xác định kích cỡ tương ứng của sản xuất tư
cắt giảm và tiêu dùng gia tăng là không mấy quan trọng. Một điểm quan trọng cần
tính đến là lượng đầu-ra (output) được dự án tạo ra tương ứng với kích cỡ của thị
trường liên quan và liệu giá thị trường có thể thay đổi do tác động của dự án hay
không. Điều này có nghĩa là dự án tạo ra một lượng đầu-ra (output) nhỏ hay lớn?

Trường hợp cơ bản: Lượng Đầu-ra (output) Tương đối lớn

Hình 5-1 cho ta biểu đồ cơ bản nhất của cung của đầu-ra (output) của dự án. Việc
bán đầu-ra (output) của dự án trên thị trường mở tăng cung từ S=MC lên S' khiến
cho mức giá giảm từ P
0
xuống mức P
1
và tăng tổng lượng đầu-ra (output) được
tiêu thụ từ Q
0
lên Q
t
. Mức giá suy giảm cũng có nghĩa là lượng đầu-ra (output) do
nhà sản xuất tư làm ra giảm từ Q
0
xuống Q
p
. Cung của họ được cho bởi đường
cung ban đầu. Như mô tả ở trên, tổng giá trị của đầu-ra (output) dự án bằng tổng
mức sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng cho đầu-ra (output) tăng thêm (phía bên


Q = tổng lượng hàng được trao đổi trên thị trường trước khi có dự án

Q
dự án
= lượng hàng sẽ được một dự án tạo ra

PED = độ co dãn giá của cầu đầu vào (Price Elasticity of Demand)

PES = độ co dãn giá của cung đầu vào (Price Elasticity of Supply)

Ví dụ:

Một chương trình đào tạo nghề bao gồm việc thiết lập một nhà máy sản xuất xe
đạp để bán trong thị trường nội địa. Trung bình có 10,000 chiếc xe đạp được bán
ra thị trường xe đạp địa phương hàng năm. Lượng xe đạp dự án dự định sản xuất
ra mỗi năm là 1500 chiếc hay chiếm khoảng 15% thị phần địa phương. Các nhà
kinh tế ước tính rằng độ co dãn giá của cung trên thị trường xe đạp địa phương là
0.8 và độ co dãn của cầu tương ứng là -1.3. Vấn đề cần phân tích cho dự án là cần
gắn giá trị nào cho những chiếc xe đạp được sản xuất ra.

Công thức để tính phần trăm cắt giảm trong mức giá là
Thế nên, giá xe đạp có thể sẽ giảm xuống khoảng 7.1% do tác động của dự án.

Để vận dụng thông tin này trong việc định giá những chiếc xe đạp được sản xuất
ra, bạn cần phải biết được mức giá xe đạp trước khi có dự án.
[3] Hãy hình dung


Khoảng thời gian cần thiết để chuyển từ ngắn hạn sang dài hạn tuỳ thuộc vào tính
chất từng ngành, tùy thuộc vào ý kiến của từng người. Một chỉ dẫn có thể là xét
lượng thời gian mà một doanh nhân cần có để quyết định gia nhập thị trường, tiến
hành những khoản đầu tư xác định cần thiết, bắt đầu đi vào hoạt động và tạo dựng
khả năng cạnh tranh. Hoặc là bạn có thể xét khoảng thời gian một công ty hiện
đang hoạt động thua lỗ cần để quyết định giải thể, thanh lý hàng tồn và đóng cửa
các cửa hàng. Ví dụ: Dự án sản xuất thuốc Aspirin của Chính phủ

Một dự án của chính phủ thiết lập một nhà máy lớn sản xuất thuốc aspirin. Không
có bản quyền sản xuất thuốc Asspirin nào có hiệu lực. Chúng được sản xuất đại trà
và bán cạnh tranh trên thị trường. Lượng thuốc sản xuất kỳ vọng sẽ chiếm khoảng
18% thị trường nội địa. Nếu mức giá cho một hộp 50 viên là $1 và độ co dãn giá
của cầu cho loại thuốc này là -0.4, thì phải dùng mức giá nào để xác định giá trị
của thuốc aspirin do dự án sản xuất?

Điều thứ nhất cần tính đến là liệu có một thị trường quốc tế cho thuốc aspirin hay
không. Nếu có, thì cung trong nước sẽ là rất co dãn và các nhà cung cấp chỉ đơn
thuần chuyên chở sản phẩm của mình sang nước khác. Trong trường hợp này, mức
giá $1 trước dự án sẽ là giá trị thích hợp.

Nếu không có thị trường quốc tế cho thuốc aspirin, chúng ta có thể giả định rằng
độ co dãn giá ngắn hạn bằng 0. Điều này có nghĩa là các nhà sản xuất trong nước
sẽ duy trì mức sản lượng của mình ít nhất là trong ngắn hạn. Công thức trên cho
chúng ta
chưa có sân gôn có thể đẩy mức giá cân bằng của một ván gôn xuống vì thị trường
thích ứng cho một ván gôn là thị trường quốc gia nhiều hơn là thị trường toàn cầu.

Trong một nền kinh tế vận hành tốt, có rất ít dự án có quy mô đủ lớn để có thể kỳ
vọng là có tác động đáng kể lên mức giá của phần lớn các thị trường. Thế nên,
trong phần nhiều trường hợp khi thị trường hoạt động hoàn toàn hiệu quả, có thể là
hợp lý khi lấy các mức giá trước dự án làm giá trị của đầu-ra (output).

5.2 Định giá đầu-ra (output) khi thị trường bị bóp méo hay hoạt động không
hiệu quả

Hàng loạt các bóp méo có thể tồn tại trên một thị trường. Những bóp méo này có
thể thay đổi việc xác định giá trị của các đầu-ra (output) của dự án. Phần còn lại
của chương này sẽ bàn đến việc định giá các đầu-ra (output) khi có bóp méo thị
trường bao gồm thuế, các tác nhân ngoại sinh và sự góp mặt của các công ty với
sức mạnh thị trường đáng kể. Tuy hai quy tắc định giá nêu trên vẫn là những
nguyên tắc chỉ đường, song việc áp dụng chúng trong trường hợp có các bóp méo
thị trường sẽ là phức tạp hơn đôi chút.

5.3 Định giá Đầu-ra (output) khi có các loại thuế

Một phần lớn hàng hoá và dịch vụ trong một nền kinh tế phải chịu các khoản thuế.
Ở Mỹ, lao động, xăng dầu và phần lớn các mặt hàng phi thực phẩm khác được tiêu
dùng đều phải chịu một loại thuế nào đó. Việc định giá các đầu-ra (output) của dự
án có chịu thuế là phức tạp hơn đôi chút so với những hàng hoá không thuế. Đối
với các hàng hoá có thuế, cần phải ước tính các kích cỡ tương ứng của những thay
đổi trong sản xuất và tiêu dùng vì cắt giảm trong sản xuất tư và tăng trong tiêu
dùng sẽ được định giá khác nhau.

Để đạt được mục đích đề ra trong chương này, giả định rằng chính phủ thu thuế có


Cần phải đưa thuế vào giá trị gắn cho lượng tiêu dùng gia tăng vì độ sẵn sàng chi
trả tư bao gồm thuế đánh vào mặt hàng đó. Ví dụ như hình dung một dự án sản
xuất một loại xăng nào đó. Nếu mức giá của xăng là $1.50 bao gồm $0.40 thuế thì
những ngưởi đang tiêu dùng một lượng xăng đó sẽ có giá trị cận biên là $1.50.
Tiêu dùng gia tăng có nghĩa là người tiêu dùng đang được hưởng nhiều hơn những
gì đúng ra họ được hưởng ở mức giá $1.50.

Cần đưa thuế vào giá trị gắn cho lượng cắt giảm sản xuất tư vì chúng không phải
là một phần của chi phí của các nguồn lực mà đáng lẽ ra đã được dùng để sản xuất
ra đầu-ra (output) đó. Nếu mức giá của xăng là $1.50 song mức giá này bao gồm
$0.40 thuế thì chi phí sản xuất cận biên của xăng (trong một thị trường khác nào
đó vận hành tốt và mang tính cạnh tranh) phải là khoảng $1.10. Nếu các nhà cung
cấp tư rút cục phải thu hẹp sản xuất do tác động của dự án, những nguồn lực tiết
kiệm được lúc đó sẽ có giá trị vào khoảng $1.10 một galông xăng thôi không sản
xuất nữa.

Điều này quay trở lại hai quy tắc định giá đầu vào. Thay đổi trong tiêu dùng tư
được định giá ở mức giá có thuế vì mức sẵn sàng chi trả của cá nhân mỗi người
tiêu dùng bằng với mức giá có thuế. Thay đổi trong sản xuất tư được định giá ở
mức giá chưa thuế vì chi phí cận biên của việc mở rộng sản xuất là chi phí của
nguồn lực tiêu tốn để làm ra đầu vào chứ không phải là chi phí trả cho việc bán
đầu vào. Nếu các công ty sản xuất đầu-ra (output) đang tối đa hoá lợi nhuận và
cạnh tranh với nhau thì chi phí cận biên của họ phải xấp xỉ với mức giá chưa thuế.

Hình 5-2 mô tả tác động của một dự án lên thị trường của một đầu-ra (output) bị
đánh thuế. Đường cung ban đầu được quy định bởi phương trình S=MC, chi phí
sản xuất cận biên không bao gồm thuế. Tác động của thuế khiến cho đường cung
dịch chuyển từ S
t

Như trong bất kỳ phân tích nào, việc thuế được chi trả cho ai là vấn đề có ý nghĩa
quan trọng. Nếu chính phủ thu thuế không có vị thế trong phân tích thì cần phải
đưa thuế vào giá trị của sản lượng bị cắt giảm cũng như giá trị của tiêu dùng gia
tăng. Khoản thuế mà lẽ ra phải chi trả cho sản xuất tư bị cắt giảm được đưa vào
như lợi ích vì chi trả thuế sẽ rơi vào tay một bên không có vị thế. Thuế đánh vào
tiêu dùng gia tăng được tính đến vì mức giá có thuế là thước đo giá trị cận biên
hay mức sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng. Mặt khác, nếu chính phủ đánh thuế
không có vị thế (như trường hợp thường xảy ra giống như trường hợp nêu trên) thì
chi trả thuế đối với sản lượng đầu-ra (output) bị cắt giảm đơn thuần là một chuyển
nhượng và không được đưa vào trong chi phí của đầu vào.

Phần khó nhất trong quá trình này là quyết định xem phân chia đầu-ra (output) của
dự án như thế nào giữa cắt giảm sản xuất tư và tăng tiêu dùng.

Chìa khoá để quyết định là một số kiến thức nhất định về độ co dãn cung và cầu
cho loại hàng đang xét. Cách dễ dàng nhất để có được những con số này là lấy
chúng từ độ co dãn cung và cầu dự tính mà các nhà kinh tế đã thực hiện và một số
kiến thức về đặc tính của các nhà cung cấp trên thị trường. Danh sách các nguồn
lực ở cuối cuốn sách có thể có độ co dãn cung và cầu dự đoán cho những loại hàng
hoá mà bạn quan tâm.

Nếu có được độ co dãn cung và cầu dự đoán đáng tin cậy thì những thay đổi trong
lượng cung và lượng cầu tư có thể được ước tính thông qua những phương trình
sau:
trong đó
Mức giá cân bằng trước dự án và $132.00 và lượng cân bằng là 336,000 thùng.
Khi nguồn cung của dự án được bổ sung vào thị trường thì lượng cung tăng thêm
120,000 thùng nữa lên mức

Qs' = 3,000P - 60,000 + 120,000

Qs' = 3,000P + 60,000

dẫn đến mức giá cân bằng mới là $108.00 và lượng cân bằng mới là 384,000
thùng. Sản xuất tư lúc đó giảm xuống còn 264,000 thùng: 384,000 thùng trừ đi
120,000 do dự án cung cấp.
Thế nên, tổng tiêu dùng sẽ tăng từ mức 336,000 thùng lên 384,000 thùng, tăng
48,000 thùng. Lượng tăng này được định giá ở mức trung bình của mức giá trước
dự án là $132.00 và sau dự án là $108.00 cho tổng giá trị là

48,000 thùng x $120.00/thùng = $5,760,000

Sản xuất tư sẽ giảm từ 336,000 thùng xuống còn 264,000 thùng, giảm 72,000
thùng
[6]. Lượng giảm này được định giá ở mức trung bình của mức giá trước dự
án là $112.00 và mức giá sau dự án trừ đi $20 tiền thuế là $88.00 cho tổng giá trị
của

72,000 thùng x $100.00/thùng = $7,200,000

Thế nên, tổng giá trị gắn cho lượng rượu do dự án sản xuất phải là tổng của giá trị
của lượng tiêu dùng gia tăng và lượng sản xuất tư bị cắt giảm hay là $12,960,000.


Thế nên, tổng giá trị gắn cho rượu do dự án sản xuất phải là tổng giá trị của tiêu
dùng gia tăng và sản xuất tư bị cắt giảm hay là $13,177,100. Giả định Cực đoan 1: Cung Co dãn Hoàn toàn

Một giả định cực đoan song không nhất thiết là không thể xảy ra đó là cung là co
dãn hoàn toàn. Giả định này giống với tất cả đầu-ra (output) của dự án thay thế
cung tư nhân. Nói cách khác, giả định này tuyên bố rằng dự án sẽ không tạo ra bất
kỳ một sự tăng giá nào mà chỉ khiến cho sản xuất tư bị thu hẹp. Lượng cắt giảm
trong sản xuất tư sẽ bằng chính xác với lượng đầu-ra (output) do dự án tạo ra.

Với giả định này, đầu-ra (output) của dự án được định giá một cách dễ dàng. Vì
không có thay đổi trong tổng lượng đầu-ra (output) cung cấp cho thị trường nên
không có thay đổi trong mức giá thị trường. Tác động duy nhất là sản xuất tư bị
cắt giảm. Vậy nên, đầu-ra (output) của dự án phải được định giá ở mức giá trừ đi
thuế.

Giả định này có thể là thích hợp nhất cho các khoảng thời gian lớn hơn nếu mức
chi phí rút khỏi thị trường mà các công ty phải trả không cao. Trước tình trạng lợi
nhuận bị cắt giảm do mức giá thấp trong ngắn hạn, các công ty có thể sẽ chọn rút
ra khỏi thị trường cho đến khi giá thị trường tăng trở lại mức cân bằng dài hạn. Về
ngắn hạn sẽ có một phản ứng nào đó về thay đổi giá. Tuy nhiên, về dài hạn nếu dự
án có một thời gian hoạt động lâu dài thì giả định giá sẽ không thay đổi mà chỉ có
sản xuất tư bị cắt giảm có thể là hợp lý.

Trong ví dụ rượu ở Nevada, nếu lượng rượu 120,000 thùng do dự án làm ra được
bù đắp bởi lượng cắt giảm sản xuất tư 120,000 thùng thì phải định giá lượng rượu
do dự án làm ra ở mức giá trước dự án loại trừ thuế hay $112.00/thùng cho tổng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status