Tài liệu Đề tài " Hiến pháp về chính sách kinh tế " Phần 1 - Pdf 97

James M. Buchanan Jr. – Bài giảng Nobel Ngày 8 tháng 9 năm 1986
Hiến pháp về chính sách kinh tế -Phần 1
(The constitution of economic policy)
I. Lời giới thiệu:
Khoa học nghiên cứu về tài chính công cộng phải luôn luôn ghi nhớ một cách rõ
ràng những hoàn cảnh chính trị. Thay vì trông mong vào sự hướng dẫn từ một lý
thuyết về thuế mà chủ yếu dựa vào khái niệm chính trị đã quá cũ kỹ, nên cố gắng
tháo gỡ những khó khăn thuộc về bản chất của sự tiến bộ và phát triển. (Wickell,
p. 87).
Trong mọi trường hợp, tôi sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc tới ảnh hưởng của một
người Thụy Điển vĩ đại, Knut Wicksell, đối với nghiên cứu của tôi, một ảnh
hưởng mà nếu không có nó tôi sẽ không thể đứng trên bục danh dự này được. Rất
nhiều trong số những đóng góp của tôi, đặc biệt trong Kinh tế Chính trị và lý
thuyết tài chính, có thể được miêu tả như là sự lặp lại, phát triển và mở rộng từ
những đề tài của Wicksell; bài diễn thuyết này không phải là một ngoại lệ.
Một trong những khoảnh khắc thú vị nhất trong sự nghiệp nghiên cứu của tôi là sự
khám phá của tôi vào năm 1984 về một bài luận án vẫn chưa được dịch hay được
biết tới của Knut Wicksell, Finanztheoretische Untersuchungen, bị vùi dưới
những lớp bụi dày tại Thư viện Harper của Chicago. Chỉ có thời gian rảnh rỗi sau
khi hoàn thành luận văn của một người vẫn còn thiếu kinh nghiệm như tôi mới chú
ý đến những bài viết cũ mà đã đem lại cho tôi một bất ngờ may mắn.
Nguyên lý mới của Wicksell về chân lý trong thuế đã dấy lên trong tôi một sự tự
tin mãnh liệt. Wicksell, một hình tượng lỗi lạc trong lịch sử kinh tế, đã thách thức
với tính chất chính thống của lý thuyết tài chính công ở những phạm vi thích hợp
với dòng ý thức mà tôi đang phát triển. Từ khi đó, tại Chicago, tôi quyết tâm làm
cho nghiên cứu của Wicksell được mọi người biết đến nhiều hơn, và ngay lập tức
tôi bắt đầu nỗ lực dịch bài, việc này mất một ít thời gian cùng với sự giúp đỡ đáng
kể từ Elizabeth Henderson trước khi nó được xuất bản chính thức.
Nhắc đến bản chất của nó, thông điệp của Wicksell rất rõ ràng, cơ bản, và hiển
nhiên. Các nhà kinh tế nên ngừng việc ban phát những lới khuyên về chính sách
như thể họ đã được thuê bởi một kẻ chuyên quyền nhân từ, và họ nên vào kết cấu

Nếu phúc lợi kinh tế là con số không (zero) đối với mỗi cá nhân thành viên trong
một cộng đồng thì tổng phúc lợi kinh tế cho cả cộng đồng không thể khác hơn con
số không (zero) được. (Wicksell, trang 77).
Các nhà kinh tế hiếm khi xem xét những điều sẽ xảy ra đối với những mô hình mà
họ đang nghiên cứu. Họ đơn giản chỉ bắt đầu bằng những công việc riêng lẻ như
ước lượng, lựa chọn hay kết hợp các đơn vị. Điểm bắt đầu này cho sự phân tích
cần thiết lôi kéo sự chú ý đối với sự lựa chọn hay hoàn cảnh quyết định đối với
những cá nhân, những người phải chọn lựa từ rất nhiều chọn lựa khác nhau.
Không tính đến sự phức tạp có thể xảy ra trong quy trình hay trong những cấu trúc
mang tính tổ chức mà từ đó hậu quả sẽ xuất hiện thì các nhà kinh tế học thường
tập trung vào những sự lựa chọn của từng cá nhân. Để ứng dụng vào thị trường
hay những ảnh hưởng qua lại của khu vực tư nhân, thủ tục này hiếm khi là một sự
thách thức.
Những cá nhân riêng lẻ, như là người mua và bán những hàng hoá thông thường
hay sử dụng những dịch vụ (kinh doanh hợp pháp) hoàn toàn có thể lựa chọn theo
sở thích riêng của mình, bất kể đó là hàng hoá gì, và các nhà kinh tế không bắt
buộc phải quan tâm quá sâu vào nội dung bên trong của những sở thích này
(những cuộc tranh luận về chức năng của phúc lợi kinh tế đối với từng cá nhân).
Chính những cá nhân trong một cộng đồng là nguồn để đánh giá, nhiệm vụ của
nhà kinh tế là đưa ra một lời giải thích giúp cho mọi người có thể hiểu được quá
trình mà thông qua đó những sở thích này cuối cùng được dịch ra thành một kết
quả phức tạp điển hình.
Một phát hiện vào thế kỷ 18 trong khuôn khổ học viện đã tạo điều kiện cho những
trao đổi tự nguyện giữa các thành viên. Phát hiện cho rằng quá trình này đưa ra
những kết quả mà có thể ước lượng một cách tuyệt đối, đưa "kinh tế học" như là
môn học trong đại học hay một môn khoa học độc lập. Mối quan hệ giữa những
kết quả quý giá của quá trình thị trường và giữa những đặc tính nội bộ của chính
những quá trình này là một một nguồn không rõ ràng khi "thị trường" được hiểu
một cách máy móc, như một cái gì đó có tên là "nền kinh tế" tồn tại với mục đích
làm tăng đến tận cùng giá trị. Hiệu lực trong việc phân phối dường như được định

viên B" tại địa điểm bỏ phiếu.
Rõ ràng, chính những cấu trúc nội bộ khác nhau cũng ảnh hưởng tới hành vi lựa
chọn. Rất nhiều lý thuyết về sự lựa chọn công cộng giải thích mối quan hệ này.
Nhưng quan điểm của tôi ở đây là một ảnh hưởng cơ bản hơn. Đó là hành vi lựa
chọn của từng cá nhân tuỳ thuộc vào những ứng dụng của bản phân tích trong tất
cả môi trường chọn lựa. Bản phân tích tương đối nên tính đến những dự báo về sự
khác nhau có thể xảy ra trong đặc điểm của các kết quả lấy từ sự tác động qua lại
trong cấu trúc của thị trường và chính trị. Những dự báo này, cũng như những
phân tích mà từ đó kết quả được lấy, có nội dung hoàn toàn trống rỗng.
III. Kinh tế học thuần túy (homo economicus)
không phải hội đồng hành pháp, cũng không phải hội đồng lập pháp, và thậm
chí hội đồng lập pháp còn chiếm ưu thế quyết định ít hơn trong thực tế là những
gì lý thuyết hiện hành chỉ ra cho chúng ta. Chúng không chỉ là những bộ phận
thuần tuý của cộng đồng mà không có một suy nghĩ nào khác hơn là để phát triển
sự thịnh vượng chung.
những thành viên của hội đồng đại nghị, trong phần lớn trường hợp, cũng quan
tâm tới phúc lợi chung bằng với những cử chi của họ, không nhiều hơn cũng
không ít hơn. (Wicksell, pp. 86, 87.)
Bản phân tích này có thể đem đến một nhóm hạn chế những giả thuyết mà không
cần tới những chi tiết trước đó về những cuộc tranh luận về chức năng của phúc
lợi kinh tế đối với từng cá nhân. Tuy nhiên, nếu những dự báo được tìm thấy có
liên quan tới những ảnh hưởng về sự thay đổi trong hành vi lựa chọn của từng cá
nhân trong nền kinh tế thì những cuộc tranh luận đó phải được lưu ý đến. Cùng
với biện pháp này, một đề suất bao quát hơn có thể sẽ được phát triển. Ví dụ như
nếu cả táo và cam đều là những "hàng hoá" rất được ưa chuộng, và nếu sau đó giá
của táo giảm xuống tương đối bằng với giá của cam thì táo sẽ được mua nhiều hơn
cam; nếu thu nhập là một loại "hàng hoá" rất được ưa thích và nếu thuế suất cận
biên đánh vào nguồn thu nhập A tăng lên bằng với thuế đánh vào nguồn thu nhập
B thì nỗ lực sẽ chuyển qua bên B nhiều hơn để tăng thêm thu nhập; nếu việc đóng
góp từ thiện là một "hàng hoá" được ưa chuộng và nếu những món quà từ thiện

khác nhau trong cấú trúc của hai khung cảnh học thuật này hơn là từ bất cứ sự thay
đổi nào trong những động cơ của mọi người khi họ khi họ hoạt động giữa hai vai
trò mang tính tổ chức.
IV. Chính trị được coi như sự trao đổi (politics as exchange)
Dường như là một sự bất công rành rành nếu như một ai đó bị bắt ép đóng góp cho
phí tổn của một số hoạt động mà những hoạt động này không hề gây sự chú ý đối
với anh ta hay thậm chí anh ta còn hoàn toàn chống đối lại chúng. (Wicksell, trang
89).
Những cá nhân đã lựa chọn rằng lợi ích kinh tế có thể nhận ra là một trong những
“hàng hoá” rất có giá trị, bất luận hành vi lựa chọn xảy ra trong thị trường hoặc là
trong chính trị. Nhưng thị trường là cơ sở của trao đổi, mọi người tham gia vào thị
trường để trao đổi hàng hoá này lấy hàng hoá khác. Họ không tham gia vào thị
trường để đẩy mạnh một vài trao đổi hơn thế nữa hay vì những kết quả mang tính
cá nhân. Thị trường không phải là hàm thúc đẩy, không có một ý nghĩa rõ ràng
nào về phía những cá nhân lựa chọn mà một vài kết quả chung, toàn bộ “sự phân
phát” hay “phân phối” sẽ nổi lên từ quá trình này.
Sự mở rộng của lý thuyết trao đổi này đối với chính trị trái ngược lại với định kiến
cổ điển rằng những người tham gia vào chính trị thông qua một vài điều tra thông
thường đối với hàng hoá, với sự thật và điều tốt đẹp với những mô hình lý tưởng
này được xác định hoàn toàn độc lập với những giá trị của những người tham gia
vì những điều này có thể hoặc không thể được biểu hiện bởi hành vi. Chính trị,
trong sự sắc bén về triết học chính trị này, là một phương tiện để thúc đẩy những
mục tiêu xa hơn.
Wicksell, người được rất nhiều nhà lý luận hiện đại về sự lựa chọn công cộng
(public choice) ủng hộ, sẽ không nói gì trong việc này. Sự khác nhau chính xác
giữa thị trường và chính trị không nằm trong tính chất của giá trị/lợi ích mà mọi
người theo đuổi, nhưng dưới những điều kiện mà họ theo đuổi những quyền lợi
khác nhau của mình. Chính trị là một cấu trúc trao đổi phức tạp giữa những cá
nhân, một cấu trúc mà cùng với nó mọi người tìm kiếm để đảm bảo và bảo vệ cho
những mục tiêu, tài sản riêng của họ mà một thị trường trao đổi hàng hoá đơn giản

vi lựa chọn của từng cá nhân. Thông thường việc tán thành cần phải được phân
biệt một cách cẩn thận từ bất kỳ định nghĩa bên ngoài nào hay từ miêu tả của
"hàng hoá" mà mọi người "nên tán thành" với nó.
Lý thuyết mang tính tiêu chuẩn (normative theory) của chính sách kinh tế thật là
thất sách và giới hạn. Không có một tiêu chuẩn nào mà thông qua đó các chính
sách được đánh giá một cách trực tiếp. Một sự đánh giá không trực tiếp có thể
được dựa vào thước đo trình độ mà quá trình phát triển chính trị được làm cho
thuận tiện hơn bằng cách chuyển những sở thích mang tính cá nhân thành những
kết quả mang tính chính trị đã nghiên cứu được. Chính tâm điểm của sự chú ý trở
thành bước tiến triển, khi nó tương phản với những mô hình kiểu mẫu của chính
phủ và kết quả đạt được. “Sự cải thiện” vì thế phải được chúng ta tìm kiếm trong
sự cải cách của quá trình, cũng như trong những thay đổi mang tính nội bộ mà
những người tham gia thường ưa thích. Có một cách để nói rõ về sự khác nhau
giữa cách giải quyết vấn đề của Wicksel và cách giải quyết vẫn mang tính chính
thống của nền kinh tế quy chuẩn (normative economics) mà có thể nói cách khác
rằng sự thiết lập chính sách chứ không phải chính bản thân chính sách là mục tiêu
thích hợp cho công tác cải cách. Một ví dụ tương tự đơn giản để minh hoạ rõ ràng
sự khác nhau ở đây. Cách giải quyết của Wicksellian tập trung vào cải cách những
điều luật, điều này có thể có lợi cho tất cả những người tham gia, trái ngược lại với
việc cải tiến trong chiến l ược hoạt động đối với từng thành viên tham gia trong
khuôn khổ những luật lệ hiện hành.
Trong lý thuyết chuẩn mực về sự lựa chọn trong thị trường, có rất ít hoặc thậm chí
không liên quan gì tới sự hình thành của môi trường lựa chọn. Chúng ta có thể đơn
giản coi như mỗi cá nhân có khả năng cung cấp đầy đủ cho sở thích của anh ta;
nếu anh ta muốn mua một quả cam, giả sử rằng anh ta có thể mua được. Không có
một rào cản nào giữa biểu hiện của sở thích và sự thoả mãn ngay lập tức. Sự sụp
đổ của những khiếm khuyết trong thị trường hiện lên ở đây, không phải là trong sự
chuyển đổi những sở thích cá nhân thành kết quả, mà trong việc xuất hiện một vài
người với những lựa chọn không phù hợp với những chọn lựa của những người
khác trong mối quan hệ trao đổi hàng hoá. “Hiệu quả” của mối tương tác trong thị

tiêu, và ông cũng đề nghị rằng một điều luật tán thành như vậy cần phải được đưa
vào kinh phí. Wicksell không chủ ý mở rộng bản phân tích của ông tới sự lựa chọn
hiến pháp, tới sự lựa chọn luật pháp mà trong đó hoạt động chính trị bình thường
được phép hoạt động. Những cải cách ông đề xuất tất nhiên là theo hiến pháp, vì
chúng đều nhằm mục đích phát triển quá trình đi đến quyết định. Nhưng những đề
xuất của ông bị hạn chế trong việc kết hợp những sở thích của từng cá nhân với
những kết quả mang tính chính trị trong những quyết định đặc biệt, hơn bất cứ
trường hợp nào.
Có lẽ sẽ rất đáng giá khi chú ý rằng chính Wicksell không coi những cải cách theo
thủ tục của ông như là một điều hạn chế. Bằng cách đưa tính linh hoạt lớn hơn vào
cấu trúc thuế, Wicksell dự đoán việc ủng hộ chương trình chi tiêu sẽ tiếp tục bị
loại bỏ dưới sự sắp xếp cứng rắn của thuế. Tuy nhiên, những người chỉ trích lại
giải thích sự thống nhất của lý thuyết Wicksell là bị hạn chế, và đặc biệt khi họ so
sánh với những hoạt động mở rộng được quan sát trong chính trị. Việc giải thích
hạn chế này có lẽ chịu trách nhiệm một phần cho sự thất bại liên tiếp của những
nhà kinh tế chính trị khi công nhận phần mở rộng của họ về quy tắc hiệu quả đối
với lĩnh vực chính trị.
Những hạn chế như thế đang được giảm dần về căn bản, và trong một giới hạn nào
đó có thể bị loại trừ hoàn toàn, khi tiêu chuẩn tán thành được chuyển lên trên một
bậc, tới mức độ thoả thuận về những luật lệ theo hiến pháp mà trong đó những
hoạt động chính trị bình thường được phép hoạt động. Trong khuôn khổ này, một
cá nhân có thể thích một cách có lý một điều luật mà vào những dịp đặc biệt sẽ
hoạt động để đưa ra những kết quả trái ngược lại với lợi ích của chính bản thân
anh ta. Cá nhân đó sẽ làm như vậy nếu anh ta dự đoán được điều đó, sau khi cân
nhắc kỹ toàn cảnh một loạt “vở kịch”, những quyền lợi của chính anh ta sẽ được
đáp ứng một cách có hiệu quả hơn là bởi những áp dụng giới hạn của giai đoạn
điều kiện của Wicksellian. Tiêu chuẩn của thời kỳ Wicksellian vẫn còn có giá trị
như là một thước đo hiệu quả đặc biệt của quyết định riêng lẻ đã được xem xét.
Nhưng sự vi phạm tiêu chuẩn đó trong thời kỳ này không ám chỉ không có hiệu
quả của luật lệ miễn là luật lệ được lựa chọn bởi sự thống nhất theo hiến pháp.

là những việc có thể làm được.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status