CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI TỪ SỰ CỐ TRÀN DẦU
Module by: Nguyen Thanh Nga
Summary: Chương 1 đề cập đến những cơ sở lý luận chung về lượng giá thiệt hại môi
trường, tài nguyên biển, thiệt hại về kinh tế gây ra bởi sự cố dầu tràn.
CƠ SỞ LÝ LUẬN
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
Dưới quan điểm kinh tế, môi trường là một loại tài sản vì nó cung cấp cho con người
nhiều loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau. Môi trường có thể cung cấp những hàng hoá
trực tiếp như tôm, cá gỗ củi, các nguồn nguyên vật liệu đầu vào của quá trình sản xuất,
các dịch vụ sinh thái như hạn chế bão lũ, chống xói mòn bờ biển, điều hoà khí hậu, nạp
và điều tiết nước ngầm, cũng như các giá trị đa dạng sinh học, các giá trị văn hoá lịch sử
khác. Nói các khác, môi trường cung cấp cho con người và hệ thống kinh tế các loại giá
trị (values) và khi sử dụng chúng, bằng cách này hay cách khác thì con người sẽ thu về
những lợi ích nhất định (benefits).
Giá trị của các hàng hoá môi trường: Tổng giá trị kinh tế
Giá trị, xét về góc độ kinh tế, là một khái niệm nhân tâm, nghĩa là giá trị được xác định
bởi con người trong xã hội chứ không phải do chính quyền hay quy luật của tự nhiên quy
định. Các nhà kinh tế đã phát triển một nguyên tắc phân loại các giá trị kinh tế khi liên hệ
với môi trường tự nhiên. Có 3 phương pháp khác nhau để đánh giá giá trị: giá trị sử dụng,
giá trị lựa chọn và giá trị tồn tại.
(i) Giá trị sử dụng: Các nhà kinh tế phải tính giá trị sử dụng, là loại giá trị được rút ra từ
hiệu quả sử dụng thực của môi trường. Người câu cá, thợ săn, người đi dạo… tất cả đều
sử dụng môi trường và thu được lợi ích mà không phải trả tiền thực tiếp.
(ii) Giá trị lựa chọn: Mỗi cá nhân có thể tự đánh giá cách lựa chọn để sử dụng môi trường
hay tài nguyên môi trường trong tương lai. Giá trị lựa chọn là giá trị của môi trường như
là lợi ích tiềm tàng trong tương lai khi nó trở thành giá trị thực sử dụng trong hiện tại.
(1) Đánh giá trực tiếp thông qua sự giảm xuống của những thiệt hại về môi trường.
(2) Đánh giá các loại lợi ích gián tiếp (giá trị của sức khoẻ con người được đánh giá
thông qua các chi phí bỏ qua; giá trị cuộc sống của con người được tính bằng tỷ lệ dương;
giá trị của chất lượng môi trường được tính bằng giá nhà hay còn gọi là định giá khả
quan; sự trong lành của môi trường được đánh giá thông qua chi phí đi lại) hoặc trực tiếp
(định giá ngẫu nhiên).
Phương pháp đánh giá gián tiếp, còn gọi là phương pháp tính dựa trên sự lựa chọn của cá
nhân, xem xét quyết định của cá nhân dựa trên tính hữu dụng hay độ trong lành của môi
trường bởi vì quyết định này cho ta thấy giá trị của độ trong lành. Nhược điểm chính của
phương pháp tính gián tiếp này là chỉ đánh giá được giá trị sử dụng chứ không đánh giá
được giá trị không sử dụng.
Phương pháp đánh giá trực tiếp cho ta biết các giá trị bằng cách phỏng vấn trực tiếp các
cá nhân. Ưu điểm lớn của phương pháp này là người ta có thể đo được cả giá trị sử dụng
lẫn giá trị không sử dụng.
Những vấn đề gặp phải khi lượng giá thực tế
Để đánh giá được chính xác “những thiệt hại” hay “những lợi ích” chúng ta phải tính
được những giá trị thị trường và phi thị trường. Nhìn chung, đánh giá những thiệt hại phi
thị trường khó hơn đánh giá những lợi ích phi thị trường.
Ví dụ: những đánh giá những lợi ích thu được từ việc giảm lượng chì trong nước uống.
Khi lượng chì trong nước uống được giảm đi thì sẽ tốt cho sức khoẻ con người. Ví dụ
như tỉ lệ mắc phải bệnh huyết áp cao và bệnh tim ở người lớn cũng như giảm trí thông
minh ở trẻ em sẽ được giảm xuống. Để xác định được những lợi ích đó chúng ta cần phải:
(i) Đánh giá những thiệt hại về sức khoẻ trực tiếp thông qua việc tính toán sự tương tác
giữa lượng chì có trong nước và tỷ lệ mắc bệnh.
(ii) Áp dụng các phương pháp gián tiếp để xác định số lượng tiền các cá nhân đã thực sự
chi trả để tránh hay ngăn ngừa lượng chì đó.
(iii) Sử dụng phương pháp trực tiếp để suy ra nhu cầu, hay mức sẵn lòng chấp nhận -
WTP và mức sẵn lòng chi trả - WTA của mỗi cá nhân để làm giảm những nguy hại cho
sức khoẻ do lượng chì trong nước gây ra.
(ii) Đánh giá nhu cầu hay WTP
Để ước lượng chính xác được giá trị, chúng ta phải đánh giá được cả những giá trị lợi ích
thị trường hoặc phi thị trường. Nhìn chung, việc đánh giá lợi ích phi thị trường bằng việc
xác định số tiền cá nhân sẽ chi ra cho việc cải thiện môi trường là khá dễ dàng.
(iii) Phương pháp đánh giá giá trị lợi ích trực tiếp và gián tiếp
a. Phương pháp gián tiếp:
Phương pháp đánh giá giá trị gián tiếp được dựa trên sự lựa chọn của cá nhân. Số liệu sẵn
có chứa đựng những thông tin về sự lựa chọn của các cá nhân dựa vào tầm quan trọng
của môi trường.
Phương pháp đánh giá gián tiếp đối với giá trị của hàng hoá môi trường được tìm ra từ
những giá trị của các thị trường liên quan như thị trường bất động sản, chi phí cho hoạt
động giải trí hay mức đền bù thoả đáng để các cá nhân sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm. Sự
ưu đãi hay WTP của một cá nhân đối với hàng hoá môi trường được thể hiện qua WTP
của họ đối với các loại hàng hoá liên quan gián tiếp đến môi trường. Phương pháp đánh
giá gián tiếp áp dụng cho từng cá nhân và ước lượng tổng số WTP và WTA sử dụng giá
trị gián tiếp.
Một số giá trị thông thường sử dụng những phương pháp đánh giá gián tiếp là:
- Giá nhà ở gần nhà máy, khu công nghiệp thấp hơn giá nhà ở xa các khu đó vì ô nhiễm
không khí, nguồn nước.
- Những người sống gần các khu công nghiệp thường có chi phí vệ sinh, y tế cao hơn các
vùng khác, đó là giá môi trường mà họ mua.
- Chênh lệch giá giữa giá nước được cung cấp và giá nước phải tự kiếm thay thế cho
nguồn nước bị ô nhiễm là một chi phí do môi trường ô nhiễm.
- Xây dựng hệ thống thoát nước hoặc xây dựng đê điều để giảm lũ lụt bảo vệ đất tạo ra
cảm giác an toàn trong cuộc sống, đó là những lợi ích mang lại rất to lớn. Vậy đánh giá
những lợi ích đó bằng cách nào? Những lợi ích này có thể được xem xét thông qua những
khía cạnh cơ bản như: Giảm chi phí cứu trợ, chi phí từ thiện khi có lũ lụt. Giảm chi phí
chống lụt, di dân, ngừng sản xuất ở ngoài vùng lũ lụt gây thiệt hại kinh tế cho cộng đồng
dân cư lớn hơn. Cộng đồng dân cư nông nghiệp có nghề phụ thì thu nhập từ nghề phụ của
86% Phủ thảm cỏ xanh bề mặt
6,5% Trồng cây con để tạo lớp che phủ như cũ
1,8% CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ VÀ HỆ SINH THÁI BIỂN
DO SỰ CỐ DẦU TRÀN
Tràn dầu luôn luôn là một trong những sự cố môi trường nghiêm trọng nhất vùng ven
biển. Dầu tràn có thể gây ô nhiễm tại những khu vực rộng lớn, gây thiệt hại vô cùng lớn
cả về kinh tế, xã hội và môi trường. Vì vậy, vấn đề nghiên cứu tính toán thiệt hại kinh tế
và hệ sinh thái biển khi xảy ra các sự cố tràn dầu để đề ra các phương án phòng ngừa và
bồi thường thích hợp là rất cần thiết.
Tác động dầu tràn đến các HST biển
Tổng quan về các hệ sinh thái biển Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia biển với một đường bờ biển dài 3260km hướng mặt ra Thái
Bình Dương. Biển Đông là biển rìa lớn nhất của Thái Bình Dương và bao gồm 9 nước:
Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Bruney, Indonesia, Thái Lan, Campuchia,
và Singapore. Diện tích Biển Đông là 3,4 triệu km2, dài 3520km, nối liền với vịnh Bắc
Bộ, vịnh Thái Lan, vịnh Tonini và một loạt các biển khác như Andaman, Araphura, Bali,
Banda Biển Đông là con đường huyết mạch nối liền Châu Âu, Châu Phi và Trung Cận
Đặc biệt vùng biển miền Trung và miền Nam có các rạn san hô phát triển tốt và đa dạng.
Các rạn san hô phân bố ở ven các đảo ven bờ từ Cù Lao Chàm tới Côn Đảo, kích thước
của rạn san hô biến đổi, có thể rộng từ vài chục đến 200m. Ở Văn Phong - Đại Lãnh đã
phát hiện 9 khu vực có rạn san hô phân bố. Rộng nhất là rạn ở Bãi Tre (119m), hẹp nhất
là Khải Lương (32m). Độ phủ cao nhất 71,9% (Khải Lương) và thấp nhất 4,7% (Bãi Cỏ)
(Viện Hải dương học, 1999).
Kết quả nghiên cứu của Viện Tài nguyên và Môi trường Biển về san hô ở vùng biển
Vũng Tàu - Côn Đảo cho thấy ở hầu hết xung quanh các đảo ở đây đều có san hô phân
bố. Trong số 27 rạn san hô khảo sát ở Côn Đảo có độ phủ trung bình 37,1%, thấp nhất
8,6% và cao nhất 62% (Lăng Văn Kẻn, 1997).
Vùng đảo Trường Sa và Hoàng Sa là hai trong những trung tâm có nhiều rạn san hô lớn
của nước ta. San hô ở đây có thể phân bố đến độ sâu 40 - 50m nước, độ phủ cao, có nhiều
vùng đạt đến 100%. Các rạn san hô ở khu vực này hầu như vẫn còn nguyên vẹn, không bị
sự tàn phá như các rạn ven bờ.
- Rừng ngập mặn: Phân bố ở dọc theo các vùng cửa sông ven biển Việt Nam. Trước
chiến tranh nước ta có khoảng 400.000ha (P. Maurand, 1943) và hiện nay còn lại trên
200.000 ha (D. N. Lưu, 1990). Các Trung tâm rừng ngập mặn lớn của nước ta tập trung ở
các khu vực Móng Cái, Cửa Ông, Quảng Yên, Cát Hải, Tiên Lãng, Thái Thụy, Xuân
Thuỷ. Đặc biệt từ Vũng Tàu đến Hà Tiên là khu vực có rừng ngập mặn phát triển vào bậc
nhất của Việt Nam, nổi tiếng với rừng Đước Mũi Cà Mau, rừng bần ở cửa sông Tiền,
sông Hậu.v.v. Các kết quả nghiên cứu gần đây nhất ở một số khu vực cho thấy hiện trạng
các rừng ngập mặn còn lại tương đối ít, khu vực Hạ Long - Cát Bà chỉ có khoảng 130ha
rừng ngập mặn, Văn Phong - Đại Lãnh - 60ha v.v.
- Đầm phá và tùng, áng:
Hệ sinh thái đầm phá tập trung chủ yếu ở ven biển miền Trung Việt Nam (giới hạn từ
Quảng Bình đến Thuận Hải). Do đặc điểm địa hình đã tạo ra nhiều đầm phá thuộc vùng
biển miền Trung. Các đầm phá thường có đáy bằng phẳng, độ sâu nhỏ khoảng 2 – 4m
nước. Trầm tích đáy có thể chia thành 3 loại: cát hạt thô, hạt trung và bùn hạt mịn. Do
thông với biển bằng các cửa nhỏ, nên chế độ thuỷ hoá bị chi phối rất mạnh theo hai mùa
biển số lượng loài và mật độ, khối lượng động vật đáy cao gấp nhiều lần ngoài thảm cỏ
biển (Đỗ Công Thung, 2000).
- Hệ sinh thái cảng: Ngoài 7 HST tự nhiên trên, có một hệ sinh thái đặc thù do hoạt động
kinh tế cảng tạo ra. Chúng ta tạm thời gọi là hệ sinh thái cảng. Thuỷ vực trong hệ sinh
thái này thường bị ô nhiễm cục bộ, đặc biệt là ô nhiễm dầu thải do tàu thuyền thải ra. Hệ
sinh vật ở đây thường là các loài sinh vật bám tàu thuyền, các quần xã vi sinh vật có khả
năng phân huỷ dầu v.v.
- Bãi cát: Các kết quả nghiên cứu gần đây đã xác định được hàng trăm bãi cát phân bố từ
Bắc đến Nam. Riêng khu vực vùng biển Hạ Long - Cát Bà - Đồ Sơn có hơn 100 bãi cát
lớn nhỏ. Bờ biển miền Trung thường tạo thành các bãi cát trắng, mịn nổi tiếng như các
bãi Sầm Sơn, Cửa Lò, Đá Nhảy, Lăng Cô v.v. Đặc biệt khu vực Văn Phong - Đại Lãnh có
đến 16 bãi cát trắng thuộc hệ đất ngập nước có chất lượng môi trường tốt. Năm 1997
nhóm nghiên cứu của Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng (nay là Viện Tài nguyên và
Môi trường biển) đã xác định 24 bãi cát phân bố tại 14 đảo thuộc Côn Đảo, các bãi ở đây
tương đối thoải và rộng, có bãi rộng đến 1,5km. Tác động của dầu tràn lên các hệ sinh thái
Dầu mỏ là một hỗn hợp các chất ở dạng lỏng, sánh không tan trong nước và nhẹ hơn
nước. Thành phần của dầu mỏ bao gồm các hydrocacbon (RH) có cấu trúc khác nhau và
có thể phân thành 3 loại: các hydrocacbon mạch thẳng; hydrocacbon mạch vòng;
hydrocacbon thơm; ngoài ra trong dầu mỏ còn có các hợp chất chứa oxy (các axit, xeton,
rượu), các hợp chất chứa nitơ (indol, carbazol ), hợp chất chứa lưu huỳnh (nhựa đường,
Bitum).
Ô nhiễm dầu và dầu tràn tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên các hệ sinh thái biển và ven
biển ở các khía cạnh sau:
- Làm biến đổi cân bằng ôxy của hệ sinh thái : Dầu có tỷ trọng nhỏ hơn nước, khi chảy
loang trên mặt nước, dầu tạo thành váng và bị biến đổi về thành phần và tính chất. Khi
dầu tràn, hàm lượng dầu trong nước tăng cao, các màng dầu làm giảm khả năng trao đổi
gây độc cho các loài sinh vật sống trong nền đáy và sát đáy biển
- Cản trở các hoạt động kinh tế ở vùng ven biển biển: Dầu tràn trôi nổi trên mặt nước
theo dòng chảy mặt, sóng, gió, dòng triều trôi dạt vào vùng biển ven bờ, bám vào đất đá,
trên bãi triều, bám lên các kè đá, các bờ đảo làm mất mỹ quan, gây ra mùi khó chịu đối
với du khách khi tham quan du lịch, tắm mát trên các khu vực danh lam thắng cảnh các
bãi tắm. Do vậy làm giảm doanh thu của ngành du lịch ở ven biển. Mặt khác, dầu tràn
làm cho nguồn giống tôm cá bị ảnh hưởng thậm chí bị chết, dẫn đến làm giảm năng suất
nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản ven biển. Dầu còn làm ảnh hưởng đến nghề khai thác
muối từ nước biển do gây ra mùi vị khó chịu v.v.
Phương pháp luận đánh giá giá trị của hệ sinh thái biển
Giá trị thực – Tổng giá trị kinh tế (TEV) của hệ sinh thái biển
Qua những phân tích trên đây, ta thấy rằng hệ sinh thái biển là một loại hàng hóa môi
trường đặc thù, chịu nhiều tác động và ảnh hưởng của nhiều các yếu tố khác nhau trong
cùng hệ môi trường tự nhiên.
Với những cơ sở lý luận nêu ra trong phần 1.1 thì giá trị kinh tế của hệ sinh thái biển
được tính theo phương pháp tổng giá trị kinh tế, bao gồm các giá trị sử dụng và giá trị
không sử dụng.
*Giá trị sử dụng
Hình thành từ việc thực sự sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bao gồm:
* Giá trị sử dụng trực tiếp
* Giá trị sử dụng gián tiếp
* Giá trị chọn lựa
* Giá trị tồn tại
*Giá trị không sử dụng:
Các giá trị trên đây tạo thành tổng lợi ích cho sự phát triển hiện tại và tổng lợi ích bảo
tồn. Khi sử dụng một giá trị này của tài nguyên thiên nhiên, thường phải hy sinh một số
giá trị khác.
Khó có thể trong một phương thức sử dụng lại thu được hết tổng giá trị kinh tế tài nguyên
thiên nhiên, do đo, chúng ta phải lựa chọn cách thức sử dụng sao cho các giá trị hy sinh là
Ý nghĩa của định giá giá trị của hệ sinh thái biển:
* Định giá giúp ta đo được tốc độ sử dụng hết các nguồn tài nguyên nuôi dưỡng và báo
hiệu cho những đối tượng sử dụng các nguồn tài nguyên đó rằng mức độ khan hiếm ngày
càng tăng.
* Định giá góp phần khôi phục lại thế cân bằng giữa kết quả có thể lượng hóa và
không lượng hóa được trong phân tích chi phí – lợi ích, hoặc giữa các giá trị tiền tệ và phi
tiền tệ, để giúp người ra quyết định ra những quyết định công bằng hơn, đầy đủ hơn.
* Để sử dụng môi trường tốt hơn và thực hiện nguyên tắc “ai gây ô nhiễm phải trả
tiền” qua việc định giá để đưa ra quyết định đánh thuế, tính phí hay trợ cấp.
Những hạn chế của định giá về mặt kinh tế trong thẩm định môi trường:
* Một số không thể lượng hóa được như chính cuộc sống, sự đa dạng của các loài, sức
khoẻ, chất lượng nước, không khí…
* Một số còn hoài nghi về kết quả.
* Quá trình định giá yêu cầu phải có rất nhiều dữ liệu về kinh tế, kỹ thuật, song các
nước đang phát triển thường không đủ. Những dự án cần gấp không thể chờ đến lúc có
dữ liệu.
* Những kỹ thuật định giá, có trong các tài liệu tiêu chuẩn là giải quyết vấn đề môi
trường ở các nước phát triển, nó ít phù hợp vơí các nước đang phát triển.
Định lượng giá trị trực tiếp của hệ sinh thái biển
Sử dụng giá cả thị trường để xác định giá trị mua bán sản phẩm biển
Ở biển nhiều loại sản phẩm ngoài cá được mua bán và xuất khẩu bao gồm: thịt rùa, hải
sâm, vây cá mập, tôm cua sò và cá nuôi. Dựa trên lượng sản phẩm khai thác và bán được,
cùng giá thị trường của chúng, người ta ước tính tổng giá trị mua bán các sản phẩm từ
biển.
Sử dụng giá cả của sản phẩm thay thế để xác định giá trị sử dụng của san hô
Trong nhiều trường hợp san hô hoàn toàn dùng để làm vật liệu xây dựng trên đảo. Giá trị Sử dụng chi phí thay thế để định giá chức năng bảo vệ hệ sinh thái biển và bờ biển
Rạn san hô, các đầm lầy ven biển và rừng ngập mặn giữ một vai trò rất quan trọng trong
việc bảo vệ đường bờ biển, kiểm soát sự xói mòn, ngăn lũ lụt và bão trên đảo. Giá trị của
chức năng này được tính toán bằng cách áp dụng phương pháp chi phí thay thế. Nếu như
không có hệ sinh thái biển và bờ biển, người ta phải xây dựng các con đê và kè ngăn lũ
để ngăn chặn xóimòn bờ biển và sự phá huỷ cơ sở hạ tầng, và tổng chi phí thực hiện các
hoạt động này chính là ước tính giá trị bảo vệ sinh thái biển và bời biển.
Bảng 3: Các kỹ thuật định lượng chi phí của hệ sinh thái biển và cách áp dụng
Kỹ thuật Áp dụng
- Giá cả thị trường và sự ưu tiên- Chi phí thay thế- Phân tích ảnh hưởng đến
năng suất sản xuất- Giá trị thiệt hại tính được
- Các nguồn lợi từ biển có thể mua và bán trực tiếp, các sản phẩm thay thế
được mua bán trên thị trường hay có một giá trị kinh tế được xác định rõ Các lợi ích từ
biển mà con người có thể tạo ra được Các lợi ích từ biển có sự liên kết gần gũi với hoạt
- Giảm khả năng quang hợp và hô hấp của hệ
- Gây chết và làm suy giảm đa dạng sinh học
- Thay đổi cấu trúc quần xã và tương quan giữa các nhóm: vi sinh vật, thực vật (thực vật
ngập mặn, rong tảo, cỏ biển), sinh vật phù du (động vật phù du, thực vật phù du), động
vật đáy (thân mềm, giáp xác, da gai, giun v.v.), cá, lưỡng cư, bò sát, chim và thú biển
- Xuất hiện các loài gây hại (địch hại, ký sinh v.v.).
- Mất hoặc suy giảm các chức năng tự nhiên duy trì sinh thái của hệ
- Thay đổi hướng diễn thế tự nhiên và mất cân bằng sinh thái.
Lượng giá các thiệt hại về tài nguyên và nguồn lợi các HST biển
- Tổn thất trực tiếp: Giảm giá trị của các bãi tắm trong các hoạt động phát triển du lịch.
Các thiệt hại kinh tế do đầu tư ứng phó, xử lý hậu quả tràn dầu, Gây ô nhiễm môi trường
và ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng sống dựa vào HST biển. Thiệt hại kinh tế trực tiếp
và giảm khả năng nuôi trồng các loài thuỷ sản ven bờ. Suy giảm đa dạng sinh học và các
giá trị đi kèm. Suy giảm nguồn lợi sinh vật sống trong các HST được khai thác thường
ngày.
- Tổn thất gián tiếp: Ngăn cản các hoạt động dân sinh. Làm giảm khả năng định cư, di cư
của các nguồn giống sinh vật từ biển vào. Giảm các nơi sinh cư của các loài sinh vật sống
trong các HST. Giảm giá trị cảnh quan, sinh thái. Các ảnh hưởng do dầu thấm trong đất,
cát, nước ngầm, ảnh hưởng đến các ngư trường đánh bắt liền kề do tác động từ nguồn
giống, dinh dưỡng liên quan.
- Thiệt hại đến các giá trị để dành, lưu tồn: Ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên, thắng cảnh
v.v. Mất dần các giá trị bảo tồn như các nguồn gen quý hiếm, nơi sinh cư của một số sinh
vật biển, tài nguyên thiên nhiên để lại cho thế hệ mai sau (rạn san hô, cỏ biển ). Mất dần
các giá trị lưu tồn của các hệ sinh thái có được từ ý thức lưu tồn tài nguyên dựa trên đức
tin và các giá trị phi vật thể liên quan đến đời sống văn hóa, tâm linh v.v. , các nguồn tài
liệu cho nghiên cứu khoa học, giáo dục, thẩm mỹ, văn hoá.
Lượng giá các thiệt hại về kinh tế
- Thiệt hại đối với ngành Du lịch: ô nhiễm do sự cố tràn dầu ảnh hưởng đến các hoạt
động tham quan du lịch, tiêu tốn chi phí để làm sạch các vùng nước nhiễm dầu…