Luận văn Đề Tài:lý luận chung về hoạt động
xuất khẩu và khái quát về xuất khẩu chè
Chơng I: lý luận chung về hoạt động xuất khẩu và khái quát về xuất khẩu chè.
i. Khái quát về xuất khẩu trong nền kinh tế quốc dân
1. Khái niệm
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên
cơ sở dùng tiền tệ làm phơng tiên thanh toán. Tiên tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc
gia hoặc với cả hai quốc gia. Mục đích của hoạt động này là khai thác đợc lợi thế của từng quốc
gia trong phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia đều có lợi
thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này.
Cơ sở của hoạt đông xuất khẩu là việc mua bán và trao đổi ( bao gồm cả hàng hoá vô hình
và hữu hình ) trong nớc. Cho tới khi sản xuất phát triển và việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc
gia đều có lợi, hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của các quốc gia hoặc giữa thị
trờng nội địa và khu chế xuất.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động xuất khẩu là hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại th-
ơng . Nó đã xuất hiện từrất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội và ngày càng phát triển mạnh
mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu. Hình thức sơ khai của chúng chỉ là hoạt động trao đổi hàng
chỉ sản xuất các loại hàng hoá, mà việc sản xuất này sử dụng tốt nhất, hiệu quả nhất các tài
nguyên sẵn có của quốc gia đó. Đây là một trong những giải thích đơn giản về lợi ích của thơng
mại quốc tế nói chung và xuất khẩu nói riêng. Nhng trên thực tế việc tiến hành trao đổi phải da
trên nguyêntắc đôi bên cùng có lợi. Nếu trong trờng hợp một quốc gia có lợi và một quốc gia
khác bị thiết thì họ sẽ từ chối tham gia vào hợp đồng trao đổi này .
Tuy nhiên , lợi thế tuyết đối của Adam Smith cũng giải thích đợc một phần nào đó của
việc đem lại lợi ích của xuất khẩu giữa các nớc đang phát triển. Với sự phát triển mạmh mẽ của
nền kinh tế toàn cầu mầy thập kỷ vừa qua cho thấy hoạt động xuất khẩu chủ yếu diễn ra giữa các
quốc gia đang phát triển với nhau, điều này không thể giải thích bằng lý thuyết lợi thế tuyệt đối.
Trong những cố gắng để giải thích các cơ sở của thơng mại quốc tế nói chung và xuất khẩu nói
riêng, lợi thế tuyệt đối chỉ còn là một trong những trờng hợp của lợi thế so sánh.
b.
Lý thuyết lợi thế so sánh.
Theo nh quan điểm của lợi thế so sánh của nhà kinh tế học ngời Anh David Ricardo. ông
cho rằng nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với hiệu quả của quốc gia khác trong việc
sản xuất tất cả các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào hoạt động xuất khẩu để
tạo ra lợi ích. Khi tham gia vào hoạt đông xuất khẩu quốc gia đó sẽ tham gia vào việc sản xuất và
xuất khẩu các loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng ít bất lợi nhất( đo là những hàng hoá có
lợi thế tơng đối)và nhập khẩu những hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng có những bất lợi hơn(
đó là những hàng hoá không có lợi thế tơng đối).
c. Học thuyết HECSHER- OHLIN.
Nh chúng ta đã biết lý thuyết lợi thế ó sánh của David Ricardo chỉ đề cập đến mô hình
đơn giản chỉ có hai nớc và việc sản xuất hàng hoá chỉ với một nguồn đầu vào là lao động. Vì thế
mà lý thuyết của David Ricardo cha giải thích một cách rõ ràng về nguồn gốc cũng nh là lơị ích
của các hoạt động xuất khâutrong nền kinh tế hiện đại. Để đi tiếp con đờng của các nhà khoa
học đi trớc hai nhà kinh tế học ngời thuỵ điển đã bổ sunhg mô hình mới trong đó ông đã đề cập
tới hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động. Học thuyết Hcher- Ohlin phát biểu: Một nớc sẽ xuất
khẩu loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tơng đoói sẵn của nớc
đó và nhập khẩu những hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng cần nhiều yếu dắt và tơng đối khan
hiếm ở quốc gia đó. Hay nói một cách khác một quốc gia tơng đối giàu lao động sẽ sản xuất
+ Đầu t nớc ngoài, vay nợ các nguồn viện trợ
+ Thu từ các hoạt động du lịch dịch vụ thu ngoại tệ trong nớc
+ Thu từ hoạt động xuất khẩu
Tầm quan trọng của vốn đầu t nớc ngoài thì không ai có thể phủ nhận đợc, song việc huy
động chúng không phải rễ dàng. Sử dụng nguồn vốn này, các nớc đi vay phải cfhịu thiệt thòi,
phải chịu một số điều kiện bất lợi và sẽ phải trả sau này.
Bởi vì vậy xuất khẩu là một hoạt động tạo một nguồn vốn rất quan trọng nhất. Xuất khẩu
tạo tiền đề cho nhập khẩu, nó quyết định đến qui mô tốc độ tăng trởng của hoạt động nhập
khẩu. ở một số nớc một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng kém phát triển là do
thiếu tiềm năng về vốn do đó họ cho nguồn vốn ở bên ngoài là chủ yếu, song mọi cơ hội đầu t
vay nợ và viện trợ của nớc ngoài chỉ thuận lợi khi chủ đầu t và ngời cho vay thấy đợc khả năng
sản xuất và xuất khẩu nguồn vốn duy nhất để trả nợ thành hiện thực .
b. Xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản xuất phát triển
Dới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã và đang thay đổi
mạnh mẽ. xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia từ nông nghiệp chuyển
sang công nghiệp và dịch vụ.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối vơi0s sản xuất và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế.
Thứ nhất, chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng nội địa. Trong tr-
ờng hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển sản xuất về cơ bản cha đủ tiêu dùng, nếu chỉ
3
thụ động chờ ở sự d thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ và tăng tr-
ởng chậm, do đó các ngành sản xuất không có cơ hội phát triển.
Thứ hai, coi thị trờng thế giới để tổ chức sản xuất và xuất khẩu. Quan điểm này tác động
tíchcực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy xuất khẩu.Nó thểhiện:
+ Xuất khẩu tạo tiền đề cho các ngành cùng có cơ hội phát triển. Điều này có thể thông qua
ví dụ nh khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu, các ngành khác nh bông, kéo sợi, nhuộm,
tẩysẽ có điều kiện phát triển.
+ xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trờng sản phẩm, góp phầnổn định sản xuất, tạo lợi
thế nhờ quy mô.
4
+ Kéo theo sự thay đổi có lợi cho phù hợp với các đặc điểm của sản xuất
Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia mà các tác động của xuất
khẩu đối với các quốc gia khác nhau là khác nhau.
2.3. Đối với các doanh nghiệp
Cùng với sự bùng nổi của nền kinh tế toàn cầu thì xu hớng vơn ra thị trờng quốc tế là một
xu hớng chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp. Xuất khẩu là một trong những con
đờng quen thuộc để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch bành trớng, phát triển, mở rộng thị tr
ờng của mình.
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm do
doanh nghiệp sản xuất ra. Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của doanh nghiệp không chỉ đợc các
khách hàng trong nớc biết đến mà còn có mặt ở thị trờng nớc ngoài.
Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ qua đó nâng cao khả năng
nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ cho quá
trình phát triển.
Xuất khẩu phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của cán bộ XNK cũng nh các đơn vị
tham gia nh: tích cực tìm tòi và phát triển các mặt trong khả năng xuất khẩu các thị trờng mà
doanh nghiệp có khả năng thâm nhập.
Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị
kinh doanh. Đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài tuổi thọ của chu kỳ sống của một sản
phẩm.
Xuất khẩu tất yếu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lần nhau giữa các đơn vị tham gia xuất khẩu
trong và ngoài nớc. Đây là một trong những nguyên nhân buộc các doanh nghiệp tham gia xuất
khẩu phải nâng cao chất lợng hàng hoá xuất khẩu, các doanh nghiệp phải chú ý hơn nữa trong
việc hạ giá thành của sản phẩm, từ đó tiết kiệm các yếu tố đầu vào, hay nói cách khác tiết kiệm
các nguồn lực.
Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút đợc thu hút đợc nhiều lao động bán ra
thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ của công nhân viên và tăng thêm thu nhập ổn định cho
đời sống cán bộ của công nhân viên và tăng thêm lợi nhuận.
Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ buôn bán kinh
Nh khi tham gia xuất khẩu trực tiếp phải chuẩn bị tốt một số công việc. Nghiên cứu hiểu
kỹ về bạn hàng, loại hàng hoá định mua bán, các điều kiện giao dịch đa ra trao đổi, cần phải
xác định rõ mục tiêu và yêu cầu của công việc. Lựa chọn ngời có đủ năng lực tham gia giao
dịch, cần nhắc khối lợng hàng hoá, dịch vụ cần thiết để công việc giao dịch có hiệu quả.
3.2. Xuất khẩu uỷ thác
Đây là hình thức kinh doanh trong đó đơn vị XNK đóng vai trò là ngời trung gian thay
cho đơn vị sản xuất tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu, tiến hành làm các thủ tục cần thiết để
xuất khẩu do đó nhà sản xuất và qua đó đợc hởng một số tiền nhất định gọi là phí uỷ thác.
Hình thức này bao gồm các bớc sau:
+ Ký kết hợp đồng xuất khẩu uỷ thác với đơn vị trong nớc.
+ Ký hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán tiền hàng bên nớc ngoài.
+ Nhận phí uy thác xuất khẩu từ đơn vị trong nớc.
Ưu điểm của phơng thức này:
Những ngời nhận uỷ thác hiểu rõ tình hình thị trờng pháp luật và tập quán địa phơng, do
đó họ có khả năng đẩy mạnh việc buôn bán và thanh tránh bớt uỷ thác cho ngời uỷ thác.
Đối với ngời nhận uỷ thác là không cần bỏ vốn vào kinh doanh tạo ra công ăn việc làm
cho nhân viên đồng thời cũng thu đợc một khoản tiền đáng kể.
Tuy nhiên, việc sử dụng trung gian bên cạnh mặt tích cực nh đã nói ở trên còn có những
han chế đáng kể nh :
- Công ty kinh doanh XNK mất đi sự liên kết trực tiếp với thị trờng thờng phải đáp ứng
6
những yêu sách của ngời trung gian.
- Lợi nhuận bị chia sẻ
3.3. Buôn bán đối lu (Counter trade)
a. Khái niệm:
Buôn bán đối lu là một trong những phơng thức giao dịch xuất khẩu trong
xuất khẩu kết hợp chặc chẽ với nhập khẩu, ngời bán hàng đồng thời là ngời mua, lợng trao đổi
với nhau có giá trị tơng đơng. Trong phơng thức xuất khẩu này mục tiêu là thu về một lợng
hàng hoá có giá trị tơng đơng. Vì đặc điểm này mà phơng thức này còn có tên gọi khác nh xuất
nhập khẩu liên kết, hay hàng đổi hàng.
Trong việc chuyển giao công nghệ ngời ta thờng tiến hành nghiệp vụ mya lại (buy back)
trong đó một bên cung cấp thiết bị toàn bộ hoặc sáng chế bí quyết kỹ thuật (know-how) cho bên
khác, đồng thời cam kết mua lại những sản phẩm cho thiết bị hoặc sáng chế bí quyết kỹ thuật đó
tạo ra.
d.Biện pháp thực hiện
-Dùng th tín dụng thơng mại đối ứng (Reciprocal L/C): đây là loại L/C mà trong nội dung
của nó có điều khoản quy định (L/C này chỉ có hiệu lực khi ngời hởng mở một L/C khác có kim
ngạch tơng đơng). Nh vậy hai bên vừa phải mở L/C vừa phải giao hàng.
- Dùng ngời thứ 3 khống chế chứng từ sở hữu hàng hoá, ngời thứ 3 chỉ giao chứng từ đó
cho ngời nhận hàng khi ngời này đổi lại một chứng từ sở hữu hàng hoá có giá trị tơng đơng.
- Dùng một tài khoản đặc biệt ở ngân hàng để theo dõi việc giao hàng của hai bên, đến
cuối một thời kỳ nhất định (nh sau sáu tháng, sau một năm) nếu còn có số d thì bên nợ hoặc
phải giao nốt hàng hoặc chuyển số d sang kỳ giao hàng tiếp, hoặc thanh toán bằng ngoại tệ.
- Phạt về việc nếu một bên không giao hàng hoặc chậm giao hàng phải nộp phạt bằng
ngoại tệ mạnh, mức phạt do hai bên thoả thuận quy định trong hợp đồng.
3.4. Xuất khẩu hàng hoá theo nghị định th
Đây là hình thức xuất khẩu hàng hoá (thờng là để gán nợ) đợc ký kết theo nghị định th
giữa hai chính Phủ.
Đây là một trong những hình thức xuất khẩu mà doanh nghiệp tiết kiệm đợc các khoản chi
phí trong việc nghiên cứu thị trờng: tìm kiến bạn hàng, mặt khách không có sự rủi ro trong
thanh toán.
Trên thực tế hình thức xuất khẩu này chiếm tỷ trong rất nhỏ. Thông thờng trong các nớc
XHCN trớc đây và trong một số các quốc gia có quan hệ mật thiết và chỉ trong một số doanh
nghiệp nhà nớc.
3.5. Xuất khẩu tại chỗ
Đây là hình thức kinh doanh mới nhng đang phát triển rộng rãi, do những u việt của nó
đem lại.
Đặc điểm của loại hình xuất khẩu này là hàng hoá không cần vợt qua biên giới quốc gia
màkhách hàng vẫn mua đợc. Do vậy nhà xuất khẩu không cần phải thâm nhập thị trờng nớc
ngoài mà khách hàng tự tìm đến nhà xuất khẩu.
công sang bên nhận gia công.
Ngoài ra ngời ta còn có thể áp dụng hình thức kết hợp trong đó bên đặt gia công chỉ giao
những nguyên vật liệu chính còn bên nhận gia công cung cấp những nguyên vật liệu phụ.
Xét về giá cả gia công ngời ta có thể chia việc gia công thành hai hình thức:
+ Hợp đồng thực chi, thực thanh (cost phis contract) trong đó bên nhận gia công thanh
toán với bên đạt gia công toàn bộ những chi phí thực tế của mình cộng với tiền thù lao gia công.
+ Hợp đồng khoán trong đó ta xác định một giá trị định mức (target price) cho mỗi sản
phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức. Dù chi phí của bên nhận gia công là bao
nhiêu đi chăng nữa, hai bên vẫn thanh toán theo định mức đó.
Mối quan hệ giữa bên nhận gia công và bên đặt gia công đợc xác định bằng hợp đồng gia
công. Hợp đồng gia công thờng đợc quy định một số điều khoản nh thành phẩm, nguyên liệu,
giá cả, thanh toán, giao nhận
3.7.Tạm nhập tái xuất
Khái niệm:
Đây là một hình thức xuất khẩu trở ra nớc ngoài những hàng hoá trớc đây đã nhập khẩu,
cha qua chế biến ở nớc tái xuất.qua hợp đồng tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục
đích thu về số ngoại tệ lớn hơn số ngoại tệ đã bỏ ra ban đầu.
9
Hợp đồng này luôn thu hút ba nớc xuất khẩu, nớc tái xuất, và nớc nhập khẩu. Vì vậy ngời
ta gọi giao dịch tái xuất là giao dịck ba bên hay giao dịch tam giác.( Triangirlar transaction)
Các loại hình tái xuất
Tái xuất có thể thực hiện bằng một trong hai hình thức sau:
Tái xuất theo đúng nghĩa của nó, trong đó hàng hoá đi từ nớc xuất khẩu đến nớc tái xuất,
rồi lại đợc xuất khẩu từ nớc tái xuất sang nớc nhập khẩu. Ngợc chiều với sự vận động của hàng
hoá là sự vận động của đồng tiền đồng tiền đợc xuất phát từ nớc nhập khẩu sang nớc tái xuất và
nhanh chóng đợc chuyển sang nớc xuất khẩu.
Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là doanh nghiệp có thể thu đợc lợi nhuận cao mà
không phải tổ chức sản xuất, đầu t vào nhà xởng máy móc, thiết bị, khả năng thu hồi vốn cũng
nhanh hơn.
kinh doanh tái xuất đòi hỏ sự nhạy bén tình hình thị trờng và giá cả, sự chính xác và chặt
các đặc tính lý hoá, quy cách phẩm chất, mẫu mã bao gói. Để hiểu rõ vấn đề này yêu cầu các
nhà kinh doanh phải nhạy bén, có kiến thức chuyên sâu và kinh nghiệm để dự đoán các xu h-
ớng biến động trong nhu cầu của khách hàng.
Trong xu thế hiện nay, đòi hỏi việc nghiên cứu phải nắm bắt rõ mặt hàng mình lựa chọn,
kinh doanh đang ở trong thời kỳ nào của chu kỳ sống của sản phẩm trên thị trờng, Bởi vì chu kỳ
sống của sản phẩm gắn liền với việc tiêu thụ hàng hoá đó trên thị trờng, thông thờng việc sản
xuất gắn liền với việc xuất khẩu những mặt hàng đang ở giai đoạn thâm nhập, phát triển là có
nhiều thuận lợi tốt nhất. Tuy nhiên đối với những sản phẩm đang ở giai đoạn bão hoà hoặc suy
thoái mà công ty có những biện pháp xúc tiến có hiệu quả thì vẫn có thể tiến hành kinh doanh
xuất khẩu và thu đợc lợi nhuận.
Tóm lại việc nghiên cứu mặt hàng thị trờng đang cần là một trong những yếu tố tiên phong
cho hoạt động thành công của doanh nghiệp.
Nghiên cứu dung lợng thị trờng và các nhân tố ảnh hởng
Dung lợng thị trờng là khối lợng hàng hoá đợc giao dịch trên một phạm vi thị trờng nhất
định trong thời gian nhất định (thờng là một năm). Việc nghiên cứu dung lợng thị trờng cần
nắm vững khối lợng nhu cầu của khách hàng và lợng dự trữ, xu hớng biến động của nhu cầu
trong từng thời điểm Cùng với việc nắm vững nhu cầu của khách hàng là phải nắm vững khả
năng cung cấp của các đối thủ cạnh tranh và các mặt hàng thay thế, khả năng lựa chọn mua bán.
Nh chúng ta đã biết dung lợng thị trờng không phải là cố định, nó thờng xuyên biến động
theo thời gian, không gian dới sự tác động của nhiều yếu tố. Căn cứ theo thời gian ngời ta có thể
chia các nhân tố ảnh hởng thành ba nhóm sau:
+ Các nhân tố có ảnh hởng tới dung lợng thị trờng có tính chất chu kỳ nh tình hình kinh tế,
thời vụ
+ Các nhân tố ảnh hởng lâu dài đến sự biến động của thị trờng nh phát minh, sáng chế
khoa học , chính sách của nhà nớc
+ Các nhân tố ảnh hởng tạm thời với dung lợng thị trờng nh đầu cơ tích trữ, hạn hán, thiên
tai, đình công
Khi nghiên cứu sự ảnh hởng của các nhân tố phải thấy đợc nhóm các nhân tố tác động chủ
yếu trong từng thời kỳ và xu thế của thời kỳ tiếp theo để doanh nghiệp có biện pháp thích ứng
cho phù hợp . Kể cả kế hoạch đị tắt đón đầu.
đồng kinh doanh xuất khẩu là một công việc khó khăn đòi hỏi phải đợc xem xét trên nhiều khía
cạnh, nhng đó lại là một nhân tố quan trọng trong quyết định hiệu quả thực hiện các hoạt động
kinh doanh thơng mại quốc tế.
Lựa chọn đối tợng giao dịch.
Căn cứ vào các kết quả của việc nghiên cứu dung lợng của thị trờng, giá cả công ty sẽ tiến
hành lựa chọn gia giao phơng thức giao dịch và thơng nhân để tiến hành giao dịch. Khi tiến
hành giao dịch cần phải căn cứ vào lợng hàng nớc đó cần nhập, chất lợng hàng nhập, chính sách
và tập quán thơng mại của nớc đó. Ngoài ra điều kiện về địa lý cũng là vấn đề cần quan tâm.
Việc lựa chọn đối tợng để giao dịch cần phải dựa theo một số chỉ tiêu nh sau:
Tình hình sản xuất kinh doanh của hãng, lĩnh vực và phạm vi kinh doanh khả năng cung
cấp hàng hoá thờng xuyên của hãng.
Khả năng cung cấp hàng hoá thờng xuyên của hãng.
Khả năng về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật.
Thái độ và quan điểm kinh doanh là chiếm lĩnh thị trờng hay cố gắng dành lấy độc quyền
về hàng hoá.
12
Uy tín của bạn hàng.
Trong việc lựa chọn thơng nhân giao dịch tốt nhất nên gặp trực tiếp tránh những đối tác
trung gian, trừ trờng hợp doanh nghiệp muốn thâm nhập vào thị trờng mới cha có kinh nghiệm.
Việc lựa chọn các đối tác phù hợp là một trong những điều kiện cần để thực hiện thắng lợi các
hợp đồng thơng mại quốc tế. Song nó phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của ngời làm công tác
đàm phán, giao dịch.
1.2. Nghiên cứu thị trờng cung cấp hàng hoá xuất nhập khẩu (Nguồn hàng xuất
khẩu).
Hợp đồng kinh doanh thơng mại nói chung và kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng thực
tế là hành vi mua và bán. Bán là quan trọng và khi bán đợc tức là kiếm đợc tiền song trên
thực tế mua lại là tiền đề ra và cơ sở cho hành vi kiếm tiền. Do vậy, nghiên cứu về thị trờng
cung cấp hàng cho công ty để công ty lựa chọn đợc nguồn hàng phù hợp có ý nghĩa rất
lớn.
Dựa trên cơ sở nắm chắc nhu cầu của thị trờng trên thế giới, các công ty tiến hành nghiên
thị trờng trong nớc (thị trờng nguồn hàng xuất khẩu)) công ty tiến hành đánh giá, xác định và
lựa chọn mặt hàng kinh doanh xuất khẩu phù hợp với nguồn lực và các điều kiện hiện có của
công ty để tiến hành kinh doanh xuất nhập khẩu một cách có hiệu quả nhất.
2. Lập phơng án kinh doanh
Trên cơ sở những kết quả thu lợm trong quá trình nghiên cứu tiếp cận thị trờng, đơn vị
kinh doanh lập phơng án kinh doanh. Phơng án này là kế hoạch hoạt động của đơn vị
nhằm đạt đến những mục tiêu xác định trong kinh doanh.
Việc xây dựng phơng án kinh doanh bao gồm các bớc sau:
a. Đánh giá tình hình thị trờng và thơng nhân
Trong bớc này, ngời xây dựng chiến lợc cần rút ra những nét tổng quát về tình hình, phân
tích thuận lợi và khó khăn trong kinh doanh.
b. Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phơng thức kinh doanh
c. Đề ra mục tiêu
Những mục tiêu đề ra trong một phơng án kinh doanh bao giờ cũng là một mục tiêu cụ
thể nh: sẽ bán đợc bao nhiêu hàng hoá, với giá cả bao nhiêu, sẽ thâm nhập vào thị trờng
nào
d. Đề ra biện pháp thực hiện
Những biện pháp này là công cụ để đạt đợc mục tiêu đề ra. Những biện pháp này bao
gồm cả biện pháp trong nớc và ngoài nớc, trong nớc nh: đầu t vào sản xuất, cải tiến bao bì,
ký hợp đồng kinh tế, tăng giá thu mua
Những biện pháp ngoài nớc nh: Đẩy mạnh quảng cáo, lập chi nhánh ở nớc ngoài, mở rộng
mạng lới đại lý.
e. Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của việc kinh doanh
Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh đợc thông qua một số chỉ tiêu chủ yếu sau:
+ Chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ hàng xuất khẩu hoặc hàng nhập khẩu.
+ Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn tính theo công ty sau.
+ Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
+Chỉ tiêu hoà vốn.
Sau khi phơng án kinh doanh đã đợc đề ra, đơn vị kinh doanh phải cố gắng tổ chức thực
hiện phơng án thông qua việc quảng cáo, bắt đầu chào hàng chuẩn bị hàng hoá.
Thực tế ngời ta chỉ đặt hàng với các khách hàng có quan hệ thờng xuyên. Bởi vậy, ta thờng
gặp những đặt hàng chỉ nêu: tên hàng, quy cách, phẩm chất, số lợng, thời hạn giao hàng và một
vài điều kiện riêng biệt đối với lần đặt hàng đó. Về những điều kiện khác, hai bên áp dụng điều
kiện chung về thoả thuận với nhau hoặc theo những điều kiện của hợp đồng ký kết trong lần tr-
ớc.
c.4. Hoàn giá (Counter-offer).
Khi nhân đợc chào hàng (hoặc đặt hàng) không chấp nhận hoàn toàn chào hàng (đặt hàng)
đó mà đa ra một đề nghị mới thì đề nghị mới này là hoàn giá, chào hàng trớc coi nh huỷ bỏ
trong thực tế, một lần giao dịch thờng trải qua nhiều lần hoàn giá mới đi đến kết thúc.
a.5. Chấp nhận giá (Acceptance)
15
Chấp nhận là sự đồng ý hoàn toàn tất cả mọi điều kiện của chào hàng (hoặc đặt hàng) mà
phía bên kia đa ra khi đó hợp đồng đợc thành lập. Một chấp thuận có hiệu lực về mặt pháp luật,
cần phải đảm bảo những điều kiện dới đây.
- Phải đợc chính ngời nhận giá chấp nhận
- Phải đồng ý hoàn toàn về điều kiện với mọi nội dung của chào hàng.
- Chấp nhận phải đợc truyền đạt đến ngời phát ea đề nghị.
a.6. Xác nhận (Confirmation)
Hai bên mua bán sau khi đã thống nhất thoả thuận với nhau về các điều kiện giao dịch, có
khi cẩn thận ghi lại mọi điều đã thoả thuận gửi cho bên kia. Đó là văn kiện xác nhận. Văn kiện
do bên bán gửi thờng gọi là nhận bán hàng do bên mua gửi và giấy xác nhận mua hàng. Xác
nhận thờng đợc lập thành 2 bản, bên xác nhạn ký trớc rồi gửi cho bên kia. Bên kia ký xong giữ
lại một bản rồi gửi trả lại một bản.
Các bớc giao dịch của hoạt động thơng mại quốc tế có thể tóm tắt sơ đồ sau:
b. Các hình thức đàm phán
b.1. Đàm phán giao dịch qua th tín.
Ngày nay đàm phán thông qua th tín và điện tín vẫn còn là môt hình thức chủ yếu để giao
dịch giữa các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu. Những cuộc tiếp xúc ban đầu thờng qua th từ.
Ngay cả sau này khi hai bên đã có điều kiện gặp gỡ trực tiếp thì việc duy trì quan hệ cũng phải
qua th từ thơng mại.
đồng là bắt buộc đối với các đơn vị xuất khẩu. Đây là hình thức tốt nhất để bảo vệ quyền lợi của
cả hai bên. Ngoài ra nó còn tạo thuận lợi cho thống kê, theo dõi, kiểm tra việc ký kết và thực
hiện hợp đồng.
Khi ký kết hợp đồng, các bên cần chú ý một số quan điểm sau:
-Cần có sự thoả thuận thống nhất với nhau tất ả mọi điều khoản cần thiết trớc khi ký kết.
- Mọi điều kiện cần rõ ràng tránh tình trạng mập mờ, có thể suy luận ra nhiều cách.
- Mọi điều khoản của hợp đồng phải đúng với luật lệ của hai quốc gia và thông lệ quốc tế.
- Ngôn ngữ của hợp đồng là ngôn ngữ hai bên cùng chọn và thông
Một hợp đồng xuất khẩu thờng gồm những phần sau:
- Số hợp đồng
- Ngày và nơi ký hợp đồng
- Tên và đại chỉ của các bên ký kết
- Các điều khoản của hợp đồng nh:
+ Tên hàng, quy cách phẩm chất, số lợng, bao bì, ký mã hiệu
+ Giá cả, đơn giá, tổng giá
+ Thời hạn và địa điểm giao hàng, điều kiện giao nhận
+ Điều kiện thanh toán
- điều kiện khiếu nại, trọng tài
+ Điều kiện bất khả kháng
+ Chữ ký của hai bên
Với những hợp đồng phức tạp nhiều mạt hàng thì có thêm các phục lục là những bộ phận
17
không thể tách rời cuả hợp đồng.
4. Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Đây là một là một công việc tơng đối phức tạp nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc gia và
luật quốc tế, đồng thời bảo đảm quyền lợi quốc gia và uy tín của doanh nghiệp.
Để bảo đảm yêu cầu trên doanh nghiệp thờng phải tiến hành các bớc chủ yếu sau: Sơ đồ
xuất khẩu hàng hoá
Tuỳ thuộc vào từng hoạt đồng xuất khẩu mà cán bộ xuất khẩu phải thực hiện các nghiệp
vụ khác nhau. Trình tự các nghiệp vụ cũng không cố định.
Các quy định về khuyến khích , hạn chế hay cấm xuất khẩu một Các quy định về
thuế quan xuất khẩu.
số mặt hàng .
Các quy định về quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp khi tham gia voà hoạt
động xuất khẩu.
Phải tuân thủ pháp luật của nhà nớc đề ra. Các hoạt động kinh doanh không đợc đi
trái với đờng lối phát triển của đất nớc.
1.2. Các nhân tố kinh tế xã hội.
Sự tăng trởng của kinh tế của đất nớc. Sản xuất trong nớc phát triển sễ tạo điều kiện
thuận lợi cho việc sản xuất hàng xuất khẩu, làm tăng khả năng cạnh trnah của hàng xuất khẩu về
mẫu mã , chất lợng , chủng loại trên thị trờng thế giới. Nền kinh tế của một quốc gia càng phát
triển thì sức cạnh tranh về hàng xuất khẩu của nớc đó trên thị trờng thế giới sẽ không ngừng đ-
ợc cải thiện.
Sự phát triển của hoạt động thơng mại trong nớc cũng góp phần hạn chế hay kích thích
xuất khẩu, bởi nó quyết định sự chu chuyển hàng hoá trong nội địa và thế giới.
Sự biến động của nề kinh tế thế giới sẽ ảnh hởng trực tiếp đến thị trờng hàng hoá trong n
ớc và thế giới, do vậy sẽ ảnh hởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu.
Hệ thống tài chính, ngân hàng cũng có ảnh hởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu. Hoạt
động xuất khẩu liên quan mật thiết với vấn đề thanh toán quốc tế, thông qua hệ thống ngân
hang giữa các quốc gia. Hệ thống tài chính , ngân hàng càng phát triển thì việc thanh toán diễn
ra càng thuận lợi , nhanh chóng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các đơn vị tham gia kinh
doanh xuất khẩu.
Trong thanh toán quốc tế thờng sử dụng đồng tiền của các nớc khác nhau, do vây tỷ giá
hối đoái có ảnh hởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu. Nếu đồng tiền trong nớc so với các đồng
19
tiền ngoại tệ thờng dùng làm đơn vị thanh toán nh USD , GDP sẽ kích thích xuất khẩu và ngợc
lại nếu đồng tiền trong nớc tăng giá so với đồng tiền ngoại tệ thì việc xuất khẩu sẽ bị hạn chế .
VI. khái quát về xuất khẩu chè
1. Khái quát về cây chè
20
Hiện nay trên thế giới có khoảng 95 nớc uống chè chỉ riêng 12 nớc nhập khẩu
chè nhiều nhất thế giới, hàng năm đã nhập trên 1,15 triệu tấn trong khi đó chỉ có
khoảng 28 nớc có điều kiện tự nhiên trồng chè. Việt Nam là một trong những nớc có
điều kiện khí hậu và đất đai thuận lợi cho cây chè phát triển. Cây chè đã xuất hiện
rất sớm ở nớc ta và có sự phát triển tơng đối lau dài để làm rõ vấn đề chúng ta có thể
xem nhìn nhận ở một số điểm sau:
a. Sự hình thành phát triển cây chè Việt Nam
Chè là một loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao lâu năm, trồng một lần có thể thu
hoạch nhiều năm. Trồng chè chủ yếu để lấy búp chè non đó là những búp chè và 2-3 lá non. Từ
lá tuỳ theo cách chế biến và công nghệ chế biến khác nhau mà cho các sản phẩm kác nhau: chè
xanh, chè đen, chè vàng, chè đỏ
+ Chè xanh là là loại sản phẩm đợc chế biến từ búp chè sau khi thu hái đem sấy khô rồi đ
ợc đóng gói. Việc sao khô phải đảm bảo sao cho chè sau khi sấy khô phải có hơng vị hấp dẫn
cũng nh nớc chè khi pha phải là màu xanh
+ Chè đen là loại chè sau khi thu hái chè tơi về các búp chè đợc nghiền nhỏ , sấy khô rồi
qua một số quy trình nhất định để lọc chất kích thích trong chè đa ra một sản phẩm không gây
mất ngủ. Loai chè này đợc các nớc phơng tây và khu vực trung cận đông rất a chuộng và thờng
dùng với một chút đờng.
+Chè vàng là một loại chè dùng để chữa bệnh. Đây là loại chè đợc trồng ở vùng đất có
chất khoáng và điều kiện khác biềt những vùng chè khác và giống chè này là chè tuyết.
ở
nớc
ta chỉ có duy nhất vùng Sơn Dơng
( thuộc tỉnh Tuyên Quang ) là trồng đợc loại chè này .
Cây chè là một loại cây nông sản có giá trị kinh tế khá, không những chỉ đem lại lợi ích
cho ngời sản xuất mà đóng góp một phần không nhỏ vào kim nghạch xuất khẩu
ra đời nền kinh tế hàng hoá nh : Thị trờng vốn, thị trờng sức lao động, thị trờng công ghệ
và thị trờng tiêu thụ sản phẩm còn thiếu đồng bộ và kém phát triển. Do vậy, khâu lu
thông của những sản phẩm làm ra từ chè thờng xuyên bị ách tắc từ đó đã làm ảnh hởng
đến sản xuất không đủ tiền để tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và chiều sâu. Bên
cạnh đóng ngời nông dân vùng chè phải chịu khoản thu nh : Thuế nông nghiệp, thuế
thuỷ lợihơn nữa do bị chèn ép cả đầu vào và đầu ra, lợi ích của ngời trồng chè bị vi
phạm đó là yếu tố hạn chế động lực phát triển sản xuất.
Sau đại hội TW Đảng VI, với đờng lối đổi mới chính sách hợp lý đã thổi một luồng khí
mới vào việc phát triển sản xuất chè của Việt Nam. Từ năm 1986 trở lại đây(2000) ngành chè
Việt Nam đã có đợc những tiến bộ, năng suất sản lợng ngày càng cao. Không những nó cải
thiện đợc đời sống của ngời trồng chè, sản xuất chè mà còn đóng góp một phần không nhỏ vào
t[ngr kim nghạch xuất khẩu.
b. Tình hình sản xuất
Nh chúng ta đã biết Việt Nam là một trong những quốc gia co lợi thế về sản xuất chè do
những điêù kiện về khí hậu , thổ nhỡng rất thích hợp. đặc biệt là diện tích đất đai phù hợp với
khả năng trồng chè ở Việt Nam( hiện nay tới 200.000 ha). Hơn na chúng ta có nghành công
nghiệp chế biến chè phát triển hơn 40 năm nay, hàng năm xuất khẩu 2-4 van tấn nà những năm
tới sẽ là 5-6 van tấn trên một năm. Bên cạnh đó vùng đất tốt để trồng chè đợc phân bổ ở hầu hết
các vùng kinh tế trọng điểm của đất nớc, chình vì thế mà theo nh một số nhà kinh tế cho rằng
việt nam là một trong những vùng đất đầy há hẹn cho các nhà đầu quan tâm đến việc phát triển
chè.
Sản phẩm hiện nay gồm các loại chè đen , chè xanh , chè vàng, chè thảo dợc, các loại chè
hơng hoa sen, nhài, sói , chè ớp hơng tổng hợp.
Theo nh ngồn tin của Hiệp hội chè Việt Nam đến nay nớc ta đã trồng đợc khoảng 130
nghìn ha, với sản lợng đạt 4.32 tấn /ha. Tổng sản lợng các loại đạt khoảng 60 nghìn tấn tập
trung chủ yếu ở ba vùng chính là miền núi Bắc Bộ , Tây nguyên và Khu Bốn cũ.
Để có cái nhìn chính xác hơn về vấn đề này chúng ta có thể quan sát biểu sau.
Diên tích Năng suất- sản lợn chè qua các thời kỳ
Diện tích và NS các
vùn
4.Thu nhập thuần Nt 995,8 1612,7 1443,2 1822,7
5.Tổng thu nhập nt 2042,2 2252,3 2019,9 2941,8
6.Thu nhập ngày công nt 8,08 8,9 9,35 10,7
7.Tỷ suất lợi nhuận 25% 26,8% 21.9% 39,1%
Nguồn: Tạp chí nông nghiệp tháng 5 năm 2001
Nhìn vào bảng ta thấy, hiệu quả của 1 ha chè kinh doanh không phải là nhỏ. Nếu chúng ta
đầu t một cách chính xác, hợp lý, công nghệ chế biến đạt hiệu quả thì thu nhập của chè là
không nhỏ. Năm 1997 tỷ suất lợi nhuận là 25% thì năm 1999 chỉ còn lại là 21,95 do sự biến
động của thị trờng thế giới và năm 2000 39,1% do thị trờng đi vào ổn định. Điều này cho thấy
là năm 200 chè Việt Nam sẽ có những bớc tiến đáng kể ra thị trờng thế giới. Để sản xuất và xuất
khẩu chè Việt Nam thu đợc lợi nhuận cao nhất, tối u nhất chúng ta phải có những cải tổ về đầu t
, quản lý và đặc biệt là nâng cao để đổi mới về mặt khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuấtm,
chế biến đóng gói, bảo quản
c. Tình hình xuất khẩu chè Việt Nam
Tình hình sản xuất chè Việt Nam ngày càng tăng cho nên xuất khẩu chè Việt
Nam ngày một tăng thị trờng mở rộng hiện nay chúng ta có quan hệ xuất khẩu chè
với khoảng 30 nớc trên thế giới. Xuất khẩu chè đem lại lợi ích kinh tế không nhỏ nó
24