Tài liệu Sự giống và khác nhau giữa hành vi sai lạc, các giấc mơ và tư duy sáng tạo doc - Pdf 97

Sự giống và khác nhau giữa hành vi sai
lạc, các giấc mơ và tư duy sáng tạo
Bài từ Tủ sách Khoa học VLOS.
Hành vi của con người và nhiều loài động vật được điều khiển bởi hệ thần kinh. Các giấc
mơ và tư duy tuy không phải loài động vật nào cũng có nhưng chúng cũng được thực
hiện bởi hệ thần kinh. Điều này có nghĩa là điều khiển hành vi, hình thành các giấc mơ và
tư duy đều là những hoạt động của hệ thần kinh. Các hoạt động của hệ thần kinh là đối
tượng nghiên cứu của khoa học. đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động của
hệ thần kinh về từng dạng của nó. Sigmund Freud đã có những nghiên cứu sâu về các
hành vi sai lạc và các giấc mơ và đã có những mô tả ti mỉ về các hành vi sai lạc và các
giấc mơ. Tuy nhiên những kết luận của Freud về các hành vi sai lạc và các giấc mơ là
những điều phải xem xét cẩn thận. Hoạt động điều khiển hành vi dẫn đến các hành vi sai
lạc, các giấc mơ trong giấc ngủ ( và cả trong lúc thức), tư duy sáng tạo đều diễn ra trong
bộ não và đều là các hoạt động của hệ thần kinh, vậy giữa chúng có gì giống và khác
nhau không và đó là những gì? Bài viết này chưa làm sáng tỏ toàn bộ vấn đề nhưng cũng
cố gắng đưa ra một số điểm chính.
Hành vi sai lạc, giấc mơ và tư duy sáng
tạo
Hành vi sai lạc là một bộ phận cấu thành các hành vi của một cá nhân. Chúng xuất hiện
không bình thường hoặc được cho là không bình thường. Sự xuất hiện bình thường là sự
xuất hiện đúng lúc, đúng chỗ và phù hợp với hoàn cảnh, đúng với mong muốn hoặc suy
nghĩ mà mọi người đáng hướng tới. Hành vi sai lạc được xét đối với những người bình
thường chứ không xét đối với những người bênh nhân thần kinh hoặc tâm thần, trong một
số trường hợp người bị ốm cũng có thể không được xét. Theo Freud, những hành vi sai
lạc là những hành vi “ của người nói hay người viết, dù có biết như thế hay không, một
chữ hay một tiếng khác hẳn tiếng định dùng( nói lỡ lời); của những người đọc sách lại
đọc lầm sang chữ khác(đọc sai); của những người nghe người khác nói mà lại nghe lầm
sang tiếng khác trong khi các cơ quan về thính giác không hệ bị trục trặc ( nghe sai) (1)”.
Như vậy theo Freud, hành vi sai lạc không chỉ thể hiện bằng các hành vi, mà còn biểu
hiện ở sự tiếp nhận các tác động từ bên ngoài tới hệ thần kinh qua các cơ quan cảm giác
của nó. Freud nghiên cứu hành vi sai lạc của lời nói trên hệ thống ngôn ngữ Đức - Phổ

thường đến với mọi người trong giấc ngủ. Nhưng trong thực tế, sự tưởng tượng trong lúc
thức cũng có thể được coi là giấc mơ bởi trong trạng thái đó các cơ quan cảm giác ( hoặc
các cơ quan truyền dẫn kích thích cảm giác) bị ức chế nên chúng không tiếp nhận các
kích thích thực tại, còn các tế bào thần kinh trung ương vẫn hoạt động để liên kết các
hình ảnh, các lời nói đã được ghi nhớ để tạo ra các hình ảnh mới, câu nói mới. Sự tưởng
tượng chỉ được coi là mơ trong lúc thức khi chúng thỏa mãn được định nghĩa trên đây.
Giấc mơ là một hoạt động của hệ thần kinh. Nhưng hoạt động này không được bộ não
huy động các tế bào thần kinh cần thiết hoạt động theo những mục đích xác định. Chúng
là sự hoạt động của các tế bào thần kinh không bị ức chế hoặc đã thoát khỏi trạng thái ức
chế. Sự thiết lập các liên kết và các đường dẫn truyền kích thích thần kinh có thể là trước
đó hoặc hoàn toàn mới. Các giấc mơ dựa trên các thiết lập liên kết thần kinh cũ giúp cho
người mơ có thế nhớ lại được những gì mình đã mơ, còn sự thiết lập mới có thể mất đi
ngay khi giấc mơ kết thúc và khiến cho người mơ không thể nhớ được nội dung của giấc
mơ nếu khả năng hình thành các ghi nhớ mới của họ kém ( để ghi lại được các giấc mơ).
Các giấc mơ có thể có khởi đầu từ bên ngoài hệ thần kinh, nhưng phần lớn trong đó khởi
đầu từ ngay bên trong hệ thần kinh. Sự khởi đầu từ bên ngoài đến từ các kích thích cảm
giác hoặc do tác động của các chất dẫn truyền thần kinh, các hóa chất do máu đưa tới.
Các kích thích đến từ hệ thống cảm giác là các kích thích tạo nên sự khởi đầu cho các
giấc mơ khi chúng đảm bảo được yêu cầu là không đột ngột, kích thích liên tục trong một
quãng thời gian dài, cường độ kích thích tăng dần theo thời gian. Thuộc dạng này thường
là các kích thích nội cảm giác và tạo nên các giấc mơ đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu sinh lý
như tiểu, đại tiện…Kết thúc các giấc mơ thường là sự thực hiện các hành vi do giấc mơ
dẫn đến ( hành vi có thể được thực hiện hoặc không và người mơ có thể thấy có những sự
cản trở trong việc thực hiện hành vi). Các hóa chất tạo nên các giấc mơ gián đoạn và
không có biểu hiện trực tiếp liên qua đến các sự việc thực đã xảy ra. Các hóa chất có thể
có nguồn gốc từ các chất nội tiết trong cơ thể tạo ra hoặc do cơ thể hấp thụ qua hô hấp
hoặc ăn uống được máu đưa đến não. Sự khởi đầu từ bên trong hệ thần kinh có các dạng
tái hiện lại sự ghi nhớ về các tác động mà người mơ đã tiếp nhận trước đó hoặc là tiếp tục
một quá trình tư duy đang dang dở mà vì một lý do nào đó phải tạm dừng hoặc chuyển
vào trạng thái tư duy ẩn. Các giấc mơ đang diễn ra có thể chịu sự tác động của các kích

Một quá trình hoạt động thần kinh được bắt đầu bằng một kích thích lên hệ thần kinh
hoặc do một tế bào thần kinh tự kích hoạt. Điều này giống như việc bấm vào một lệnh
nào đó tên màn hình máy tính. Nhưng các quá trình diễn ra sau khi bấm vào lệnh trên
màn hình máy tính với kích thích thần kinh ban đầu là khác nhau. Quá trình làm việc của
máy tính là theo những chương trình đã được định sẵn, còn với bộ não thì có hai khả
năng xảy ra: một là các kích thích đó sẽ cưỡng bức các tế bào thần kinh tiếp nhận kích
thích hoạt động, hai là các kích thích đó kích hoạt sự hoạt động của các tế bào thần kinh
theo kiểu “ hô- ứng”, nghĩa là kích thích thần kinh mang nghĩa “kêu gọi”sự hoạt động tự
nguyện của các tế bào thần kinh, nếu các tế bào thần kinh đáp ứng sự “ kêu gọi” đó thì
quá trình hoạt động thần kinh sẽ diễn ra, còn trong trường hợp không có sự đáp ứng thì
quá trình hoạt động thần kinh sẽ không có. Cách thức thứ nhất thường được hệ thần kinh
sử dụng trong các hoạt động mang tính bản năng. Chúng ta thường rụt tay lại khi các
ngón tay chạm vào cốc nước nóng. Tuy vậy khi các đường liên kết và dẫn truyền thần
kinh được thiết lập chắc chắn và cường độ của kích thích thần kinh khá mạnh thì các hoạt
động thần kinh mới cũng có thể diễn ra với hình thức cưỡng bức này. Với cách thức thứ
hai thì đây là nguyên nhân của rất nhiều vấn đề trong hoạt động thần kinh. Các khả năng
sau đây có thể xảy ra trong quan hệ “hô-ứng” giữa các tế bào thần kinh:
• Không có tế bào thần kinh nào đáp ứng tiếng hô, trong đó bao gồm cả các tế bào
nằm trong liên kết với kích thích thần kinh, có nghĩa là các tế bào này có khả năng
tiếp nhận kích thích nhưng nó không hoạt động, chúng có thế hoạt động trở lại với
các kích thích đó nhưng vào những thời điểm khác. Nguyên nhân là do các tế bào
thần kinh đang ở trong trạng thái ức chế hoặc không có năng lượng để hoạt động.
Quá trình hoạt động thần kinh không diễn ra trong trường hợp này.
• Có các tế bào nằm trong cùng một liên kết thần kinh được kích hoạt theo trình tự
liên kết. Quá trình hoạt động thần kinh diễn ra mang tính tái hiện lại sự ghi nhớ
theo trình tự thông tin được hệ thần kinh tiếp nhận và tạo liên kết ghi nhớ. Điều
này gần giống như cách làm việc của máy tính điện tử và nó tương ứng với
phương thức phản xạ có điều kiện hoặc phản ứng thần kinh.
• Có nhiều tế bào thần kinh cùng đáp ứng tiếng hô, trong đó bao gồm các tế bào
cùng nằm trong liên kết với kích thích thần kinh và có những tế bào không nằm

các phần tử ghi nhớ khác nhau và có nhiều tế bào thần kinh có thể được kích hoạt bởi
kích thích đó. Điều kiện thứ nhất liên quan đến liên kết thần kinh. Số lượng các liên kết
thần kinh càng lớn thì cơ hội cho các kích thích thần kinh đến được với các tế bào thần
kinh khác nhau càng nhiều. Nếu trong quá trình di chuyển trong các đường dẫn truyền
thần kinh, các kích thích thần kinh ( mà bản chất là các dòng điện sinh học) còn tạo ra
sóng điện từ với tần số nào đó thì chúng còn có thể kích hoạt được các tế bào thần kinh
không nằm trong các liên kết thần kinh đã có. Điều kiện thứ hai liên quan đến phổ tiếp
nhận kích thích thần kinh. Phổ rộng giúp cho tế bào có thể hoạt động bởi nhiều kích thích
khác nhau, còn phổ hẹp thì số lượng các kích thích có thể làm cho chúng hoạt động là rất
ít hoặc chỉ có một. Trong ví dụ trên đây, khi tiếng hô “ ai là người Việt nam” cất lên thì
người ở quận Thanh xuân đã lên tiếng trước và dẫn đến hành vi sai lạc. Điều này xảy ra
bởi người ở quận Thanh xuân không chỉ lên tiếng khi nghe thấy tiếng hô “ Ai là người
quận Thanh xuân” mà còn có thể lên tiếng khi nghe thấy “ Ai là người Việt nam?”và “Ai
là người Hà nội” Phổ tiếp nhận của người này là rộng. Nếu phổ tiếp nhận kích thích
thần kinh hẹp và trong trường hợp chỉ tiếp nhận được một kích thích duy nhất thì không
có hành vi sai lạc và tư duy sáng tạo. Điều đáng buồn hơn ứng với khả năng thứ nhất trên
đây là sau khi tiếng hô “Ai là người Việt nam” cất lên mà không có một lời đáp ứng nào,
có nghĩa là một người bất chợt ngửng đầu lên và phát hiện có một cành cây đang rơi
xuống đầu mình nhưng không có một phản xạ tự vệ nào được thi hành, cành cây cứ thản
nhiên rơi xuống đầu người đó.
Cách thức kích hoạt quá trình hoạt động thần kinh theo kiểu “ hô- ứng” đem đến cho hệ
thần kinh nhiều ưu điểm:
• Phản ứng thần kinh diễn ra nhanh và đa dạng do hệ thần kinh không cần phải lục
tìm trong kho lưu trữ các phương thức phản ứng đã được ghi nhớ. Khi hệ thần
kinh tích luỹ được nhiều kinh nghiệm thì nó sẽ có nhiều phương án xử lý khác
nhau với cùng một tác động, và trong từng tình huống cụ thể nó có thể tiến hành
lựa chọn giữa các phương án ( khi không cần phản ứng nhanh) hoặc sử dụng
phương án xuất hiện đầu tiên trong tình thế cấp bách mà không thực hiện việc
đánh giá tình thế hiện tại tương ứng với cách xử lý nào.
• Bộ não chỉ ghi nhớ những cái chưa được ghi nhớ, còn những cái đã được ghi nhớ

thông tin để hệ thần kinh nhận ra chúng, đối tượng càng phức tạp thì
lượng thông tin về đối tượng càng khó được tiếp nhận đầy đủ và điều này
còn khó khăn hơn khi các đối tượng áp dụng các biện pháp nguỵ trang, ẩn
khuất Hiệu ứng “ hô-ứng” sẽ kích hoạt các thông tin về đối tượng đã
được ghi nhớ trước đó nhưng không được tiếp nhận trong hiện tại hoặc
những thông tin giống các thông tin đó để làm rõ đối tượng. Nếu điều này
không xảy ra thì đối tượng không được nhận diện hoặc nhận diện sai. Điều
này lý giải tại sao nhiều loài côn trùng dùng biện pháp nguỵ trang có thể
thoát khỏi tầm mắt của các loài động vật ăn thịt nhưng không thoát khỏi sự
nhận diện của mắt người.

o Sự chọn lọc các thông tin chủ yếu, đặc trưng giúp cho việc tóm tắt, khái
quát hoá, xây dựng cái nhìn tổng thể, bao quát về đối tượng giúp cho việc
nhận diện đối tượng dễ dàng hơn mà không cần phải huy động toàn bộ các
thông tin về đối tượng cho việc nhận diện đối tượng.

o Sự thay thế, điều chỉnh thông tin là cơ sở của sự sáng tạo trong hoạt động
thần kinh. Trong ví dụ trên, sự sáng tạo được thể hiện bằng sự thay thế quá
trình từ “ Ai là người Hà nội?” bằng quá trình “Ai là người thành phố Hồ
Chí Minh?” để đi đến cùng một kết quả. Đây là sự thay thế, còn sự điều
chỉnh là trong quá trình tư duy, một sự tác động thêm sẽ dẫn đến một kết
quả khác tốt hơn.
Tuy vậy, cách thức “hô - ứng”cũng đem đến nhiều phiền toái. Cái phiền toái đầu tiên là
các hành vi sai lạc. Phiền toái thứ hai tạo ra sự nhận thức nhầm lẫn. Điều này có nghĩa là
những ưu điểm đồng thời cũng thường đi kèm với các nhược điểm. Sự nhận thức sáng tạo
có thể giúp cho bộ não nhận thức đối tượng đầy đủ hơn, rõ ràng hơn so với thông tin mà
nó nhận được từ đối tượng qua các cơ quan cảm giác. Nhưng cũng với cách bổ xung
thông tin mà đối tượng có thể bị thêm những cái không phải của nó. ( Có nhiều tác giả
cho rằng sự xuất hiện thêm thông tin này là sự ghi nhớ tinh thần). Khi trong não hình
thành những điểm ghi nhớ về một đối tượng, một vấn đề gì đó mà các điểm này dễ được

soát của hệ thần kinh, vì vậy các kết quả hoạt động thần kinh mang lại kết quả tốt. Kết
qủa của hành vi sai lạc chỉ được nhận ra sau khi hành vi đã được thực hiện. Kết quả tốt
của giấc mơ thường chứa tính may mắn. Sự giống nhau giữa hành vi sai lạc và tư duy
sáng tạo là chúng cần có kích thích ban đầu và có nhiều quá trình hoạt động kinh cùng
diễn ra, còn giấc mơ thì chỉ có một quá trình. Sự giống nhau giữa tư duy sáng tạo và giấc
mơ là chúng có thể tiếp nhận các kích thích mới tham gia vào quá trình hoạt động của
chúng. Sự tham gia này có thể làm chuyển hướng, thay đổi diến biến và kết quả hoạt
động. Vì dụ về điều này cho giấc mơ đẫ nêu trên đây. Còn với tư duy sáng tạo là quá
trình diễn ra chủ yếu trong trạng thái hưng phấn của hệ thần kinh, các cơ quan cảm giác
đang hoạt động nên điều này rất dễ xảy ra và cách để phát huy tốt nhất là sự làm việc,
sáng tạo tập thể. Nhiều sáng tạo mới ra đời nhờ sự góp ý của người khác. Hành vi sai lạc
là kết quả của một quá trình hoạt động thần kinh không mong muốn, chúng được kích
hoạt bởi một kích thích của một quá trình hoạt động khác, chúng giống như một nhánh
cây bị bệnh mọc cùng với nhánh cây chính nhưng cho ra hoa kết quả trước, còn tư duy
sáng tạo được kích hoạt bởi một yêu cầu sáng tạo và cũng gồm nhiều nhánh cây như hành
vi sai lạc, chỉ có điểm khác là nhánh tốt nhất sẽ được chọn. Nguồn kích hoạt các giấc mơ
là đa dạng và khó xác định ( trong một số trường hợp có thể xác định được). Sự thể hiện
của hành vi sai lạc là các hành vi không phù hợp với hoàn cảnh hiện tại và ý muốn của
người thực hiện hành vi, sự thể hiện của tư duy sáng tạo có thể là các hình ảnh hoặc lời
nói,âm thanh trong não của người tư duy, còn thể hiện chủ yếu của giấc mơ là hình ảnh,
đôi khi giấc mơ mơ được thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi mà mộng du là một trường
hợp. Tư duy sáng tạo nhằm tìm ra cách thể hiện, cách trình bày một nội dung đã có bằng
một hình thức tốt nhất, một cách làm mới hiệu quả nhất, tạo ra các tính năng, phẩm chất
mới cho các sản phẩm đang sử dụng…cho nên quá trình tư duy diễn ra trong thời gian
dài, còn hành vi sai lạc mang tính bột phát và diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn.
Thời lượng của giấc mơ không xác định nhưng cũng không dài.
Trong suy nghĩ của nhiều người ( và có thể là phần lớn), tư duy sáng tạo được coi là một
thứ cao quý, còn hành vi sai lạc là một thứ tầm thường, còn giấc mơ vừa bí hiểm vừa vô
bổ. Freud cho rằng nguyên nhân của hành vi sai lạc và các giấc mơ là sự dồn nén tính dục
và ông không nghiên cứu về tư duy sáng tạo. Sự nhìn nhận như vậy sẽ dễ dẫn đến sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status