Lịch sử hình thành thành phố Cần Thơ
Vùng đất Cần Thơ về mặt địa chất được hình thành cách nay khoảng 2000 –
2500 năm cùng với sự hình thành của đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Sau
giai đoạn phát triển rực rỡ của vương quốc Phù Nam và văn hóa Óc Eo kéo dài
6 thế kỷ đầu Công nguyên, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt và những biến động
địa lý khắc nghiệt thời đó, vùng đồng bằng này trở nên hoang vu, dân cư thưa
thớt trong một thời gian dài.
Đến thế kỷ XVI, XVII, khi các tập đoàn lưu dân kéo đến khai khẩn, vùng đất
phương Nam mới thực sự bước sang một tiến trình lịch sử mới với một mô thức
văn hóa khác. Trong tiến trình đó, Cần Thơ xưa là “lõm” đất chẳng những được
khai phá có phần muộn màng so với miệt trên Đồng Nai - Sài Gòn mà cả với
miệt dưới (Hà Tiên).
Cuối thế kỷ XVIII, Mạc Cửu vốn là người Trung Quốc không thần phục nhà
Thanh, cùng tùy tùng và dân cư theo đường biển kéo vào miệt Hà Tiên khai
khẩn, lập nghiệp dưới sự bảo hộ của chúa Nguyễn, được phong làm Tổng binh
trấn Hà Tiên, từ đó cư dân qui tụ ngày càng đông. Năm 1732, toàn bộ đất
phương Nam được Chúa Nguyễn chia làm 3 Dinh và 1 Trấn gồm : Trấn Biên
Dinh (vùng Biên Hòa ngày nay), Phiên Trấn Dinh (Gia Định), Long Hồ Dinh (Vĩnh
Long) và Trấn Hà Tiên. Sau khi Mạc Cửu mất, Mạc Thiên Tích nối nghiệp cha,
đẩy mạnh công cuộc khai khẩn ra vùng hữu ngạn sông Hậu, đến năm 1739 thì
hoàn tất với 4 vùng đất mới : Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá),
Trấn Giang (Cần Thơ), Trấn Di (Bạc Liêu) được sáp nhập vào đất Hà Tiên. Đây
là điểm mốc đánh dấu sự xuất hiện của Cần Thơ trên dư đồ Việt Nam.
Nhận thấy Trấn Giang có một vị trí chiến lược để làm hậu cứ vững chắc cho Hà
Tiên chống lại quân Xiêm và Chân Lạp thường xuyên xâm lấn, Mạc Thiên Tích
tập trung xây dựng về mọi mặt: quân sự, kinh tế, thương mại và văn hóa. Từ
1753, được sự đồng tình của Chúa Nguyễn, Mạc Thiên Tích cùng với đại thần
Nguyễn Cư Trinh đã đưa Trấn Giang phát triển thành một “thủ sở” mạnh ở miền
Từ đó đến khi Pháp trở lại xâm chiếm Việt Nam lần thứ 2 năm 1945 và cho đến
ngày Pháp thất trận ở Điện Biên Phủ, ký kết hiệp định Genève năm 1954, thì địa
giới hành chính tỉnh Cần Thơ trong thời Pháp thuộc vẫn không thay đổi. Tỉnh
Cần Thơ gồm có thị xã Cần Thơ và các huyện Châu Thành, Ô Môn, Phụng Hiệp,
Trà Ôn, Cầu Kè. Tuy nhiên, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vào
hai năm 1948 - 1949 chính quyền kháng chiến có điều chỉnh một phần địa giới
hành chính của các tỉnh. Cần Thơ nhận thêm huyện Thốt Nốt (Long Xuyên), các
huyện Long Mỹ, Gò Quao, Giồng Riềng, thị xã Rạch Giá (Rạch Giá) và huyện Kế
Sách (tỉnh Sóc Trăng). Tỉnh Cần Thơ giao 2 huyện Trà Ôn và Cầu Kè về tỉnh
Vĩnh Trà (Vĩnh Long - Trà Vinh).
Bến Ninh Kiều
Khi đế quốc Mỹ nhảy vào thay chân Pháp, phá hoại hiệp định Genève, dựng lên
chính quyền Ngô Đình Diệm, địa giới hành chính cũ ở miền Nam nói chung và
tỉnh Cần Thơ nói riêng có nhiều thay đổi. Năm 1956, chính quyền Ngô Đình
Diệm quyết định đổi tên tỉnh Cần Thơ thành tỉnh Phong Dinh.
Về phía chính quyền cách mạng, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tên tỉnh
Cần Thơ vẫn được duy trì. Tháng 11/1954, địa giới hành chính tỉnh Cần Thơ trở
lại như trước khi được điều chỉnh năm 1948 - 1949. Năm 1956, hai huyện Trà
Ôn và Cầu Kè được đưa về Vĩnh Long. Năm 1957 huyện Long Mỹ trở về tỉnh
Cần Thơ, năm 1958, huyện Kế Sách (thuộc tỉnh Sóc Trăng) và năm 1963, huyện
Thốt Nốt (Long Xuyên) cũng nhập vào Cần Thơ. Năm 1966, hình thành thị xã Vị
Thanh trực thuộc tỉnh Cần Thơ. Năm 1969, tách thị xã Cần Thơ ra khỏi tỉnh Cần
Thơ trực thuộc khu Tây Nam bộ, đến 1971 thì trở lại thuộc tỉnh Cần Thơ. Năm
1972, thị xã Cần Thơ trở thành là thành phố Cần Thơ, trực thuộc khu Tây Nam
bộ.