LUẬN VĂN "Đánh giá khả năng cạnh
tranh của công ty giầy Thụy
Khê trong điều kiện hội nhập
AFTA"
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu hướng hội nhập hoá, toàn cầu hoá về kinh tế các nước và nền
kinh tế và thế giới, hoạt động kinh tế trở nên hêt sức quan trọng, tạo tiền đề
thúc đẩy nền kinh tế các quốc gia cũng như thế giới phát triển cả về bề rộng
lẫn chiều sâu.
Cùng với sự hình thành các khu vực Thương mại tự do như EU,
NAFTA, các nước ASEAN cũng đang hình thành khu vực thương mại tự do
ASEAN (ASEAN FREETRADEAREA – AFTA). Mở ra cho các nước trong
khu vực những cơ hội và thách thức hết sức to lớn. trong đó Việt Nam chúng
ta.
Các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các nướcdoanh nghiệp sản xuất
giầy xuất khẩu cần thấy được điểm mạnh điểm yếu, đánh giá khă năng cạnh
tranh cũng như vị thế của mình khi Việt Nam tham gia AFTA từ đó để đề ra
các giải pháp nhằm phát huy điểm mạnh hạn chế điểm yếu, gia tăng khả năng
cạnh tranh của mình. Xuất phát từ đòi hỏi này cũng như tình hình thực tế nơi
cơ sở thực tập của mình, tôi chọn đề tài: "Đánh giá khả năng cạnh tranh của
công ty giầy Thụỵ Khê trong điều kiện hội nhập AFTA" cho chuyên đề thực
tập tốt nghiệp của mình nhằm đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty trong
điều kiện hôị nhập AFTA từ đó đưa ra một số định hướng, giải pháp cho công
ty cũng như cơ quan quản lý trực tiếp là Sở công nghiệp Hà Nội những kiến
lực lượng trong đó người mua và người bán thực hiện cách quyết định chuyển
giao hàng hoá và dịch vụ từ người bán sang người mua".
- Thị trường là nơi người mua và người bán gặp nhau để tiến hành các
cuộc mua bán nhằm thoả mãn nhu cầu của mỗi bên.
- Thị trường là tổng thể cung cầu đối với một loại hàng hoá trên thị
trường vận động theo những quy luật riêng và điều tiết thị trường thông qua
quan hệ cung cầu, đây là định nghĩa mang nhiều tính lý thuyết.
- Ta cũng có thể nói rằng thị trường là nơi hàng hoá thực hiện các chức
năng trao đổi của nó. Theo Mác thị trường là biểu hiện của sự phân công lao
động của xã hội là một trong những khâu của quả trình tái sản xuất mở rộng,
là lỉnh vực lưu thông hàng hoá là nơi gặp gở của cung và cầu.
Đứng trên góc độ của doanh nghiệp thì thị trường của doanh nghiệp là
tập hợp các khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp đó tức là nơi khách hàng
đang mua và có thể sẽ mua sản phẩm của doanh nghiệp vận dụng cho khái
niệm thị trường quốc tế của doanh nghiệp, ta có khái niệm “thị trường quốc tế
của doanh nghiệp là tập hợp những khách hàng nước ngoài tiềm năng của
doanh nghiệp đó“.
Bên cạnh đó nói tới thị trường đi liền với nó là khái niệm kinh tế thị
trường, Cơ chế thị trường. Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế mà các vấn đề
cơ bản: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào là do thị
2
trường quyết định. Nói cách khác nền kinh tế thị trường là nền kinh tế do cơ
chế thị trường điều tiết, đó là cơ chế tự điều chỉnh nền kinh tế hàng hoá dưới
sự tác động khách quan của các qui luật kinh tế vốn có. Nền kinh tế thị trường
là cách thức tổ chức nền kinh tế xã hội trong đó các quan hệ kinh tế của các cá
nhân, các doanh nghiệp đều thể hiện thông qua hoạt động mua bán hàng hoá,
dịch vụ trên thị trường và thái độ của từng thành viên , chủ thể là hướng vào
việc tìm kiếm lợi ích theo sự dẫn dắt của giá trị thị trường, cơ chế thị trường
thì ta định nghĩa cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố, quan hệ môi trường
chiếm được những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo ra
điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển. Do đó, nói tới cạnh tranh là ta không
thể không nói đến các nhân tố cấu thành cạnh tranh. Cạnh tranh chỉ xẩy ra khi
có đủ ba yếu tố sau đây:
Một là, các chủ thể kinh tế tham gia cạnh tranh, tức là những người có
cung và có cầu về hàng hoá và dịch vụ.
Hai là, đối tượng để thực hiện sự cạnh tranh tức là hàng hoá dịch vụ.
Ba là, môi trường cho cạnh tranh đó chính là thị trường.
Tuỳ theo từng góc độ tiếp cận chúng ta có thể phân cạnh tranh theo các
nội dung khác nhau:
+ Theo chủ thể tham gia trên thị trường, cạnh tranh được chia làm ba
loại :
Một là, Cạnh tranh giữa người bán và người mua.
Hai là, cạnh tranh giữa người mua với người bán.
Ba là, cạnh tranh giữa người bán với người bán.
Cạnh tranh giữa người babs với ngươi mua là cuộc cạnh tranh diễn ra
dưới hình thức sẽ bán đắt, người bán luôn mong muốn bán sản phẩm, dịch vụ
của mình với giá cao. Trong khi người mua lại muốn mua với giá thấp. Sự
cạnh tranh được thực hiện trong quá trình vẫn thường gọi là quá trình "mặc
cả” với mức giá chấp nhận là giá thống nhất giữa người bán và người mua.
Cạnh tranh giữa người mua với nhau là cuộc cạnh tranh trên cơ sở qui
luật cung cầu. Khi mức cung của một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó nhỏ hơn
mức cầu hoặc thay đổi thì cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt hơn. Và giá cả của
hàng hoá, dịch vụ đó sẽ tăng lên. Ta vẫn biết rằng đường cầu của mỗi cá thể
không hoàn toàn giống đường tổng cầu nên nếu người nào đưa ra được giá
chung thống nhất phù hợp nhất thì người đó sẽ thắng trong cuộc cạnh tranh
này.
4
Cạnh tranh giũa người bán với người bán là cuộc cạnh tranh giữa
năng khác biệt hoá cao độ so với sản phẩm của công ty hoặc tạo ra các điều
kiện ưu đãi hơn về các dịch vụ hay các điều kiện tài chính.
5
5) Cạnh tranh trong mọi bộ ngành. Trong điều kiện này các công ty
cạnh tranh với nhau khốc liệt về giá cả, sự khác biệt hoá về sản phẩm hoặc sự
đổi mới về sản phẩm giữa các công ty hiện đang cùng tồn tại trong thị trường.
Sự cạnh tranh này ngày càng gay gắt là do các đối thủ cạnh tranh nhiều và
gần như cân bằng; do sự tăng trưởng của ngành công nghiệp hiện đại ở mức
độ thấp ; do các loại chi phí ngày càng tăng ; do chưa quan tâm tới quá trình
khác biệt hóa sản phẩm hoặc các chi tiết về chi phí do sự thay đổi của các nhà
cung cấp ; do các đối thủ cạnh tranh có chiến lược kinh doanh đa dạng, có
xuất xứ khác nhau ; do các hàng rào kinh tế làm cho công ty khó có thể tự do
di chuyển giữa các ngành.
3. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh.
Chính sự cạnh tranh đã tạo ra động lực cho nền kinh tế phát triển tạo
nên sức thu hút, hấp dẫn cho nền kinh tế, không có cạnh tranh thì sẽ không có
cơ chế thị trường, cạnh tranh chính là sự thể hiện tính tự do ưu việt của nền
kinh tế thị trường, nó luôn luôn thúc đẩy cac doanh nghiệp ngày càng hòan
thiện các sản phẩm, dịch vụ, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của khách
hàng. Cạnh tranh giúp các doanh nghiệp đánh giá nhìn lại bản thân mình, phát
huy điểm mạnh , khắc phục điểm yếu vận dụng cơ hội, vượt qua được những
khó khăn thử thách.
Vì vậy cạnh tranh lành mạnh luôn là mục tiêu mà xã hội thị trường và
bản thân mỗi doanh nghiệp mong muốn duy trì đạt tới.
Cạnh tranh là nhân tố kích thích tạo nguồn cho doanh nghiệp phát triển.
Nhưng mặt khác, cạnh tranh cũng rất khắc nghiệt. Cạnh tranh chỉ thực sự giúp
đỡ cho những doanh nghiệp có đủ khả năng, năng lực buộc các doanh nghiệp
phải cố gắng không ngừng nghỉ nó sẵn sàng loại bỏ không khón nhượng
hân tích
Phân tích bên
Cơ hội (O)
thách
Điểm mạnh ( S)
Điểm yếu (W)
Lựa chọ chiến lược
cho Doanh nghiệp
1. Phân tích bên ngoài:
7
Đây là sự phân tích các yếu tố của môi trường bên ngoài ảnh hưởng
đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, từ đó giúp doanh nghiệp tìm ra
các cơ hội cũng như các thách thức đối với doanh nghiệp.
Các yếu tố bên ngoài có thể là yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị , yếu tố
pháp luật, yếu tố văn hoá xã hội, yếu tố khoa học công nghệ, yếu tố tự nhiên
Các yếu tố này là tác động gián tiếp khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Do vậy, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu phân tích các yếu tố của
trường khu vực và trong nước.
Phương pháp có thể được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh là
dùng đồ thị dưới dạng đa giác cạnh tranh đa giác này mô tả khả năng của
doanh nghiệp theo các yếu tố trong mối quan hệ so sánh với các đối thủ cạnh
tranh hoặc một tập hợp các đối thủ cạnh tranh để xây dựng một phân tích về
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khi chồng sơ đồ này lên nhau ta có
thể thu được nhanh chóng những ưu thế tương đối của doanh nghiệp.
Sản xuất
Giá cả
Tài chính
Bán hàng
Sau bán
hng
N
goại
doanh tăng cường hoạt động nghiên cứu triển khai, mở rộng thị trường đều
phải dựa trên nguồn tài chính hiện có và khả năng huy động nhanh chóng.
III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH
NGHIỆP.
Mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào cũng đều
phải chịu sự tác động của môi trường xung quanh và chiụ sự tác động từ
chính bản thân doanh nghiệp. Do đó khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
không chỉ phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào các
yếu tố khách quan khác của môi trương xung quanh doanh nghiệp. Nhìn
chung có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp, song tóm gọn lại đều có ba nhóm nhân tố cơ bản sau.
- Môi trường vĩ mô.
- Môi trường ngành: Mô hình 5 sức mạnh của Michael porter.
- doanh nghiệp,.
1. Môi trường vĩ mô.
Môi trường vĩ mô chính là môi trường mà doanh nghiệp đang hoạt
động. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều nhân tố phức
tạp ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Môi trường đó
chính là tổng thể các nhân tố cơ bản : Nhân tố kinh tế, nhân tố chính trị và
pháp luật, nhan tố xã hội , nhân tố tự nhiên, nhân tố công nghệ. Mỗi hnhân tố
này tác động và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Chúng có thể là cơ hội hoặc thách thức đối với doanh nghiệp. Các
doanh nghiệp cần phải có sự am hiểu về các nhân tố trên và đưa ra cách ứng
xử cho phù họp đối với những đòi hỏi; những biến động của chúng đối với
những doanh nghiệp kinh doanh quốc tế thì vấn đề này cần được coi trọng.
10
a. Nhân tố kinh tế.
Đây là nhân tố ảnh hưởng rất to lớn với doanh nghiệp và là nhân tố quan
trọng nhất trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, Một nền kinh tế
11
hiệp định kinh tế quốc tế Các doanh nghiệp này cũng đặc biệt quan tâm tới
sự khác biệt về pháp luật giữa các quốc gia. Sự khác biệt này có thể sẽ làm
tăng hoặc giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp những đièu này sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến các hoạt động, chính sách kế hoạch chiến lược phát triển,
loại hình sản phẩm danh nghiệp sẽ cung cấp cho thị trường.
Vì vậy, các doanh nghiệp luôn luôn cần một nền kinh tế ổn định một
môi trường pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, bảo vệ lợi ích cho các doanh nghiệp,
cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế. Khuyến khích phát triển, tham gioa khả
năng cạnh tranh.
c. Nhân tố xã hội :
Nhân tố xã hội thường biến đổi hoặc thay đổi dần dần theo thời gian
nên đôi khi khó nhận biết nhưng lại qui định các đặc tính của thị trường mà
bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải tính đến khi tham gia vào thị trường đó
cho dù có muốn sống hay không. Nhân tố xã hội có thể bao gồm.
-Lối sống, phong tục, tập quán.
-Thái độ tiêu dùng.
-Trình độ dân trí.
-Ngôn ngữ.
-Tôn giáo.
-Thẩm mỹ
Chúng quyết định hành vi của người tiêu dùng, quan điểm của họ về
sản phẩm, dịch vụ, chúng là những điều mà không ai có thể đi ngược lại được
nếu muốn tồn tại trong thị trường đó. Ví dụ như ở những thị trường luôn có tư
tưởng đề cao sản phẩm nội địa như ấn Độ, Nhật Bản thì các sản phẩm ngoại
nhập sẽ kém khả năng cạnh tranh so với các Doanh nghiệp của quốc gia đó.
Sự khác biệt về xã hội sẽ dẫn đến việc liệu sản phẩm của Doanh nghiệp khi
xuất sang thị trường nước ngoài đó có được thị trường đó chấp nhận hay
không cũng như việc liệu doanh nghiệp đó có đủ khả năng đáp được yêu cầu
thể nói rằng khoa học công nghệ là tiền đề cho các doanh nghiệp nâng cao
khả năng cạnh tranh của mình.
2. Môi trường ngành.
Môi trường ngành là môi trường bao gồm các doanh nghiệp trong cùng
tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh. Môi trường ngành còn được hiểu là
môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp sự tác động của môi trường ngành
ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp là điều không thể
phủ nhận.
Môi trường ngành bao gồm năm nhân tố cơ bản là : đối thủ cạnh tranh,
người mua, người cung cấp, các đối thủ tiềm ẩn và các đối thủ thay thế. Đó là
13
nhân tố thuộc mô hình 5 sức mạnh của Michael porte. Sự am hiểu các nguồn
sức ép cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhân ra mặt mạnh mặt yếu cũng như
các cơ hội và thách thức mà doanh nghiệp ngành đó đã và đang và sẽ gặp
phải.
Đối thủ mới tiềm năng
Nhà
cung
cấp
Các đối thủ
cạnh tranh
trong ngành
Sự cạnh tranh
gi
ữ
a các doanh
Người
mua
14
cầu chất lượng sản phẩm hặc dịch vụ cao hơn, hoặc có thể bằng cách dùng
doanh nghiệp này chống lại doanh nghiệp kia.
Vì vậy, trong thực tế khách hàng thường có quyền lực trong các trường
hợp sau.
Khi có nhu cầu khách hàng là ít hơn so với lương cung trên thị trường
về sản phẩm nào đó thì họ có quyền quyết định về gía cả.
Các sản phẩm mà khách hàng mua phá tỷ lệ đáng kể trong chi tiêu của
người mua. Nếu sản phẩm đó chiếm một tỷ trọng hơn trong chi tiêu của người
mua thì gía cả là một vấn đề quan trọng đối với khách hàng đó. Do đó họ sẽ
mua với giá có lợi và sẽ chọn mua những sản phẩm có giá trị thích hợp.
Những sản phẩm mà khách hàng mua trong khi không được cung cấp
đầy đủ về thông tín và chủng loại, chất lượng, đặc tính, hình thức, kiếu dáng
của sản phẩm thì họ có xu hướng đánh dòng các sản phẩm cùng loại trên thị
trường với nhau họ sẽ có xu hướng thiên về hướng bất lợi cho doanh nghiệp
vì họ không thể đánh giá cũng như hiểu chính xác được rõ giá trị của sản
phẩm doanh nghiệp sản xuất.
Khách hàng phải chịu chi phí đặt cọc do đó chi phí đặt cọc rõ ràng buộc
khách hàng với người bán nhất định.
Khách hàng có thu nhập thấp tạo ra áp lực phải giảm chi tiêu cho việc
mua bán của mình.
Khách hàng cố gắng khép kín sản xuất tức là họ cố gắng trở thành
người cung cấp cho chính mình.
Mặt khác khi khách hàng có đầy đủ thông tin và nhu cầu giá cả thị
trường hiện hành và chi phí của người cung cấp thì quyền “mặc cả” của họ
càng lớn.
c. Nhà cung cấp.
Sức ép của nhà cung cấp liên doanh nghiệp cũng không kém phần quan
trọng. Họ có thể chi phối đến hoạt động của doanh nghiệp do sự độc quyền
Ngày nay thông thường khi đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp, người ta thường đánh giá trước tiên nguồn nhân lực của doanh
nghiệp:
Yếu tố nhân lực được coi là tài sản vô cùng quý báu cho sự phát triển thành
công của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp.
Với một đội ngũ nhân lực tốt, doanh nghiệp có thể được làm đựợc tốt
tất cả những gì như mong muốn, đội ngũ nhân lực này sẽ làm tăng các nguồn
lực khác cho doanh nghiệp khác lên một cách nhanh chóng, trí tuệ chất xám là
những thứ vô cùng quý giá. Nó tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, ưu viêt
hơn với giá thành thấp nhất, đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng, đưa doanh
16
nghiệp vượt lên trên các đối thủ cạnh tranh. Một đội ngũ công nghiệp lãnh
đạo, quản lý giàu kinh nghiệm, trình độ cao, năng động, linh hoạt và hiểu
biết sẽ đem lại cho doanh nghiệp không chỉ là lợi ích trước nmắt như tăng
doanh thu, tăng lợi nhuận mà cả uy tín của doanh nghiệp. Họ sẽ đưa ra nhiều
ý tưởng chiến lược sáng tạo phù hợp với sự phát triển và trưởng thành của
doanh nghiệp cũng như phù hợp với sự thay đổi của thị trường.
Bên cạnh đó nguồn nhân lực của một doanh nghiệp phải đồng bộ sự
đồng bộ này không chỉ xuất phát từ thực tế là đội ngũ công nghiệp của doanh
nghiệp là từ những nhóm người khác nhau mà còn xuất phát từ năng lực tổng
hợp riêng thu được từ việc kết hợp nguồn nhân lực về mặt vật chất, tổ chức
trình độ tay nghề, ý thức kỹ luật, lòng hăng say lao động sẽ là nhân tố quan
trọng đảm bảo tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm.
b. Nguồn lực vất chất.
Một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cùng với một công nghệ
tiên tiến phù hợp với qui mô sản xuất của doanh nghiệp chắc chắn sẽ nâng cao
năng lực sản xuất, làm tăng khả năng của doanh nghiệp lên rất nhiều với một
cơ sở vật chất tốt , chất lượng sản phẩm sẽ được nâng lên cao hơn cùng với
việc hạ giá thành sản phẩm kéo theo sự giảm giá bán trên thị trường. Khả
hơn.
Vì vậy vấn đề tài chính luôn luôn là vấn đề gây nhiều trăn trở cho nhà
quản lý. Không chỉ vậy trong nền kinh tế thị trường, trở thành biểu tượng cho
sự giàu có phát đạt, sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp nguồn tài chính
vững chắc sẽ là chỗ dựa vững chắc cho các doanh nghiệp dành được sự tin
cậy, đầu tư từ phía khách hàng lẫn nhà đầu tư nước ngoài.
Khả năng tài chính của doanh nghiệp gồm vốn chủ sở hữu hay vốn tự
có và các nguồn vốn khác có thể huy động được. Tài chính không chỉ gồm
các tài sản lưu động và tài sản cố định của doanh nghiệp, mà gồm cả các
khoản vay, khoản nhập sẽ có trong tương lai và cả giá trị uy tín của doanh
nghiệp đó trên thị trường. Vốn tự có có thể do các thành viên sáng lập đóng
góp hoặc do một phần lợi nhuận được để lại từ đầu tư, hoặc vốn góp thêm
của các cổ đông sau này. Vốn vay có thể được huy động từ ngân hàng các tổ
chức tài chính các đơn vị quen biết. Thiếu nguồn tài chính cần thiết , doanh
nghiệp có thể bị phá sản, sụp đỗ bất cứ lúc nào. Tài chính được coi là phương
tiện chủ yếu vũ khí sắc bén để tấn công, đánh thắng các đối thủ cạnh tranh .
Doanh nghiệp nào không đủ khả năng tài chính sẽ bị thôn tính bới các
đối thủ hùng mạnh hơn hoặc tự rút lui khỏi thị trường.
d. Tổ chức.
18
Mỗi doanh nghiệp phải có một cơ cấu tổ chứcđịnh hướng cho phần lớn
các công việc trong doanh nghiệp.
Nó ảnh hưởng đến phương thức thông qua quyết định của nhà quản trị,
quan điểm của họ đối với các chiến lược và điều kiện của doanh nghiệp. Cơ
cấu nề nếp tổ chức có thể là nhược điểm gây cản trở cho việc hoạt động thực
hiện chiến lược hoặc thúc đẩy các hoạt động đó không phát huy tính năng
động sáng tạo của các thành viên trong doanh nghiệp. doanh nghiệp nào có cơ
cấu tổ chức hợp lý, năng động sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn các doanh
nghiệp khác.
I. Môi trường vĩ mô.
1. Nhân tố kinh tế.
2. Nhân tố chính trị và pháp luật.
3.Nhân tố xã hội .
4. Nhân tố tự nhiên.
5. Nhân tố công nghệ. II. Môi trường ngành
1. Nhà cung cấp.
2. Khách hàng .
3.Đối thủ cạnh tranh.
4. sản phẩm thay thế.
5. Đối thủ tiềm năng.
III. Doanh nghiệp.
1. Nguồn nhân lực.
2. Nguồn lực vật chất.
3. Nguồn lực tài chính.
4. Tổ chức.
5. Kinh nghiệm.
các quốc gia Đông Nam á nói riêng những cơ hội và thách thức mới.
Sự hình thành kiên kết giữa các quốc gia đang phát triển, ngoài mục
tiêu hợp tác , hỗ trợ nhau phát triển còn nhằm mục tiêu chống lại các chính
sách bảo hộ mậu dịch của các nước công nghiệp phát triển.
Việc hình thành các liên kết kinh tế khu vực và sự hội nhập của từng
quốc gia vào nền kinh tế các nước trong khu vực vời nhiều mức độ khác nhau
tuỳ thuộc vào từng khu vực liên kết và hình thức liên kết.
Khu vực mậu dịch tự do hay khu buôn bán tự do là giai đoạn đầu của
quá trình hội nhập kinh tế khu vực. Đây là một liên minh quốc tế giữa hai hay
nhiều quốc gia nhằm mục đích tự do hoá buôn bán đối một hoặc một số nhóm
mặt hàng náo đó. đặc trưng của khu vực mậu dịch tự do là xoá bỏ các hàng
rào thuế quan và phi thuế quan nhằm tạo ra một thị trường thống nhất của
khu vực. Nhưng mỗi quốc gia là thành viên vẫn thi hành chính sách ngoại
thương độc lập đối với các quốc gia ngoài liên minh.
21
Sự hôi nhập vào nền kinh tế các nước trong khu vực đang đưa lại
những lợi ích khác nhau cho cả người sản xuất và người tiêu dùng trong các
nước thành viên. Một quốc gia nào đó gia nhập hội các nước thực hiện ưu đãi
mậu dịch thường đua lại những kết quả chủ yếu sau.
Một là, Tạo lập quan hệ mậu dịch nối giữa các nước thành viên, mở
rộng hơn nữa khả năng xuất nhập khẩu hàng hoá của các nước trong liên
minh với các nước các khu vực khác trên thế giới : cũng trong điều kiện này
mà tiềm năng kinh tế các nước thành viên được khai thác một cách có hiệu
quả. Cũng trong điều kiện này lợi ích của người tiêu dùng cũng được tăng lên
nhờ hàng hoá của các nước thành viên đưa vào nước như là luôn nhận được
sự ưu đãi. Do đó hàng hoá hạ xuống làm người dân ở nước chủ nhà có thể
mua được khối lượng hàng hoá lớn hơn với mức chi phí thấp hơn.
Hai là, hội nhập kinh tế khu vực còn góp phần vào việc chuyển hướng
mậu dịch, sự chuyển biến này diễn ra phổ biến khi hình thành liên minh thuế
Đồ nhựa Đá quý và đồ trang sức
Sản phẩm cao su Cực âm dòng
Sản phẩm da Hàng điện tử
Bột giấy Nội thất bằng gỗ và mây
Hàng dệt Hoa chất
Dàu thực vật Dược phẩm
Xi măng Phân bón
Sản phẩm gốm và thuỷ tinh
Đối với nhóm giảm thông thường tốc độ giảm hơn và những hàng hoá
chịu thuế cao hơn thì việc giảm thuế có thể thực hiện trong 15 năm.
Ban đầu, người ta dự tính có thể áp dụng CEPT cho tất cả các hàng hoá
chế tạo nhưng cho phép thực hiện ngoại lệ đối với các hàng hoá dễ bị tổn
thương và khó tính cạnh tranh trực tiếp. Tuy nhiên, ngoài những trường hợp
hạn chế buôn bán là cần thiết để đảm bảo an toàn an ninh quốc gia, sức khoẻ
và truyền thống văn hoá. Và việc loại bỏ ra khỏi CEPT các sản phẩm chỉ
mang tính tạm thời. Một nước thành viên laọi bỏ tạm thời một sản phẩm thì sẽ
không còn tư cách để hướng sự xâm nhập ưu đãi cho sản phẩm đó vào thị
trường các quốc gia thành viên khác. Việc đình chỉ ưu đãi chỉ phù hợp với
điều XIX của GRATT ( hành động khẩn cấp về nhập khẩu các sản phẩm đặc
biệt ) .
Năm 1994 ASEAN đồng ý với tiến trình giảm thuế như sau.
1) Đối với hàng hoá theo thời gian thực hiện bình thường.
- Thuế suất trên 20% sẽ giảm xuống dưới 20% vào ngày 1/11/1998 và
sau đó còn 0 – 5%vào ngày 1/1/2003.
23
- Thuế suất đã ở dưới mức 20% sẽ được giảm xuống 0 – 5% vào
ngày1/1/2000.
2) Đi với hàng hoá theo thời gian thực hiện nhanh.
24