Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị
Kết
LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà
nước. Nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển và đạt được những
thành tựu đáng kể. Sự chuyển hướng của nền kinh tế theo cơ chế thị trường có
sự quản lí mới đã có tác động tích cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp hoàn toàn chủ động trong việc xây dựng phương án sản xuất, tiêu
thụ sản phẩm tự trang trải bù đắp chi phí, chịu rủi ro và chịu trách nhiệm về kết
quả kinh doanh của mình. Do đó để nhằm mục đích thu được lợi nhuận tối đa
đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện tổng hoà các phương án kinh doanh để
có chất lượng cao và giá thành hạ. Đi đôi với sự phát triển chung, kế toán luôn
tồn tại và phát triển. Các Mác đã viết:” Đối tượng đã qua một lần lao động trước
kia rồi... thì gọi là nguyên vật liệu “ hay “Nguyên vật liệu có thể hình thành thực
thể chủ yếu của một sản phẩm hay chỉ gia nhập sản phẩm dưới hình thức vật liệu
phụ “. Như vậy kế toán nguyên vật liệu là công cụ kinh tế không thể thiếu được
để tiến hành bảo tồn tài sản và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên cơ sở thông tin do kế toán cung cấp giúp nhà quản lí biết được tình hình sử
dụng nguyên vật liệu,tiền vốn,đảm bảo tính năng động, sáng tạo,tự chủ trong
kinh doanh. Tính toán và xác định hiệu quả kinh doanh mang lại có bù đắp chi
phí bỏ ra trong quá trình kinh doanh và có lãi hay không...giúp người quản lí
doanh nghiệp đánh giá, lựa chọn phương án kịp thời phục vụ cho việc điều hành
xây dựng công ty.
Xét trên góc độ doanh nghiệp, chi phí nguyên vật liệu là một trong những
yếu tố chi phí cơ bản của quá trình sản xuất và chiếm tỉ trọng lớn trong tổng chi
phí sản xuất cũng như trong tổng giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Kế toán
nguyên vật liệu tốt sẽ đảm bảo cho cung cấp vật liệu kịp thời và đồng bộ cho
quá trình sản xuất. Kiểm tra giám sát chặt chẽ việc chấp hành các mức dự trữ và
tiêu hao vật liệu, ngăn chặn hiện tượng lãng phí vật liệu trong sản xuất nhờ đó
góp phần giảm bớt chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, hạ thấp gía
Trường Đại Học Công Đoàn 1 Lớp Q8K2
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị
Kết
Phần I
LÍ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN NGUYÊN
VẬT LIỆU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.
I. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp trong nền kinh
tế thị trường.
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính công
nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân. Thông thường,
công tác xây dựng cơ bản do các đơn vị xây lắp nhận thầu tiến hành. Ngành sản
xuất này có đặc điểm sau:
- Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc... có quy mô lớn, kết cấu
phức tạp mang tính đơn chiếc và thời gian sản xuất dài. Nên việc tổ chức quản
lí, hạch toán nhất thiết phải có các dự toán thiết kế thi công.
- Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận với
chủ đầu tư từ trước. Do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm thể hiện không rõ.
- Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, còn các điều kiện sản xuất
phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm.
- Tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp ở nước ta hiện nay phổ
biến theo phương thức khoán gọn các công trình hạng mục công trình, khối
lượng hoặc công việc cho các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp (đội, xí nghiệp )
Trong giá khoán gọn, không chỉ có tiền lương mà còn có đủ các chi phí về vật
liệu, công cụ dụng cụ thi công chi phí chung của bộ phận nhận khoán.
Những đặc điểm hoạt động kinh doanh,tổ chức sản xuất và quản lí ngành
nói trên phần nào chi phối công tác kế toán trong các doanh nghiệp xây lắp dẫn
đến những khác biệt nhất định. Tuy nhiên về cơ bản, việc hạch toán các phần
hành kế toán (Tài sản cố định, vật liệu, công cụ, chi phí nhân công... )trong
doanh nghiệp xây lắp cũng tương tự như doanh nghiệp công nghiệp.
II. Sự cần thiết khách quan phải tổ chức hạch toán kế toán
nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kì sản xuất nhất định, dưới tác
động của lao động chúng bị tiêu hao tất cả hoặc bị thay đổi hình thái vật chất
ban đầu để tạo ra hình thái vật chất của sản phẩm.
Trường Đại Học Công Đoàn 4 Lớp Q8K2
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị
Kết
Về mặt giá trị: Khi tham gia vào quá trình sản xuất, toàn bộ giá trị của
nguyên vật liệu chuyển hết một lần giá trị của chúng vào chi phí sản xuất kinh
doanh trong kì.
Nguyên vật liệu thuộc loại tài sản lưu động, giá trị nguyên vật liệu tồn kho
là vốn lưu động dự trữ cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp.
2.2. Vai trò và tầm quan trọng của nguyên vật liệu trong quá trình sản
xuất kinh doanh.
Nguyên vật liệu là một yếu tố trực tiếp cấu thành thực thể của sản phẩm.
Nếu nó được cung cấp đảm bảo yêu cầu về số lượng, chủng loại, những đặc
trưng kinh tế kĩ thuật... thì sẽ có tác động rất lớn đến chất lượng sản phẩm. Vì
vậy đảm bảo tốt nguyên vật liệu cho sản xuất cũng là một biện pháp quan trọng
để nâng cao chất lượng sản phẩm. Mặt khác, chất lượng của công tác kế toán vật
liệu có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công tác kế toán giá thành. Cho
nên, để đảm bảo kế toán giá thành trung thực thì việc đầu tiên phải kế toán vật
liệu hợp lí. Chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỉ trọng khá lớn trong giá
thành sản xuất của sản phẩm. Việc tập trung kế toán chặt chẽ vật liệu ở tất cả các
khâu thu mua, bảo quản và giảm tiêu hao vật liệu trong quá trình sản xuất có ý
nghĩa quan trọng trong việc hạ giá thành,tăng thu nhập và là cơ sở để tăng sản
phẩm xã hội. Như vậy nguyên vật liệu không những giữ vai trò quan trọng trong
sản xuất mà còn quan trọng trong lĩnh vực quản lí tài chính doanh nghiệp, là đầu
vào của hoạt động sản xuất kinh doanh. Kế hoạch sản xuất kinh doanh sẽ bị ảnh
hưởng nếu việc cung cấp nguyên vật liệu không đầy đủ kịp thời. Chất lượng
nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm.Quản lí nguyên
vật liệu chính là quản lí vốn sản xuất kinh doanh và tài sản của doanh nghiệp.
vật liệu tới mức tối thiểu.
Luôn nắm chắc tình trạng nguyên vật liệu ở bất kì thời điểm nào để đáp
ứng một cách nhanh nhất cho sản xuất.
Bảo đảm hạ thấp chi phí bảo quản, sử dụng hợp lí và tiết kiệm diện tích
kho.
Để thực hiện được những nhiệm vụ trên thì công tác quản lí kho gồm:
- Công tác sắp xếp nguyên vật liệu hợp lí khoa học, đảm bảo ngăn nắp,
thuận tiện cho việc sản xuất. Do đó phải phân khu,phân loại kho, đánh số và kí
hiệu của các vị trí nguyên vật liệu một cách hợp lí.
Trường Đại Học Công Đoàn 6 Lớp Q8K2
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị
Kết
- Bảo quản nguyên vật liệu phải đúng quy phạm của nhà nước ban hành để
đảm bảo an toàn chất lượng.
- Xây dựng và thực hiện nội quy, quy chế về chế độ trách nhiệm trong kiểm
tra nguyên vật liệu.
3.3. Tổ chức cấp phát nguyên vật
liệu.
Cấp phát nguyên vật liệu là hình thức chuyển nguyên vật liệu từ kho xuống bộ
phận sản xuất. Việc cấp phát kịp thời, chính xác sẽ tạo điều kiện cho việc tăng
năng suất lao động của máy móc thiết bị và tăng chất lượng sản phẩm. Việc cấp
phát có thể tiến hành theo các hình thức sau đây:
-Cấp phát theo yêu cầu của các bộ phận sản xuất .
-Cấp phát theo tiến độ kế hoạch:
Giúp cho bộ phận cấp phát có thể chủ động triển khai việc chuẩn bị
nguyên vật liệu một cách có kế hoạch giảm bớt giấy tờ và đỡ thao tác tính toán.
3.4. Thanh quyết toán nguyên vật
liệu .
Đây là bước chuyển giao trách nhiệm giữa các bộ phận quản lí và sử
dụng nguyên vật liệu.Đó là sự đối chiếu giữa lượng nhận về với lượng mua theo
liệu thừa, thiếu,ứ đọng và kém phẩm chất.
4.5. Tính toán chính xác số lượng và giá trị vật tư thực tế đã tiêu hao trong
quá trình sản xuất.Phân tích tình hình thu mua,bảo quản, dự trữ và sử dụng
nguyên vật liệu nhằm hạ thấp giá thành sản phẩm.
5. Nội dung hạch toán kế toán nguyên vật liệu .
Để thực hiện tốt yêu cầu, nhiệm vụ của việc hạch toán kế toán nguyên vật
liệu thì đòi hỏi quá trình hạch toán kế toán bao gồm những nội dung sau đây:
- Phân loaị và lập danh điểm vật tư .
-Xây dựng các nội dung, quy chế trong bảo quản và sử dụng nguyên vật
liệu
- Xây dựng định mức tiêu dùng, dự trữ nguyên vật liệu một cách hợp lí
trong quá trình sử dụng, vận chuyển và bảo quản.
- Tổ chức khâu hạch toán kế toán ban đầu bằng việc vận dụng và luân
chuyển các chứng từ một cách hợp lí.
- Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán và hệ thống sổ kế toán tổng hợp.
Trường Đại Học Công Đoàn 8 Lớp Q8K2
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị
Kết
- Tổ chức công tác kiểm tra, kiểm kê đối chiếu vật tư cũng như báo cáo về
tình hình nhập xuất tồn vật tư.
- Tổ chức phân tích tình hình vật tư và những thông tin kinh tế có liên quan
III. Phân loại nguyên vật liệu.
Khi tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử dụng nhiều loại
vật liệu khác nhau. Để quản lí và tổ chức hạch toán kế toán chi tiết với từng loại
vật liệu phục vụ cho nhu cầu quản trị doanh nghiệp cần thiết phải phân loại đúng
theo các tiêu thức phù hợp.
Phân loại vật liệu là sắp xếp vật liệu thành từng loại, nhóm khác nhau căn cứ
vào các tiêu chuẩn nhất định.
1. Căn cứ vào nội dung kinh tế và vai trò của nguyên vật liệu
trong quá trình sản xuất.
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp biết được vai trò, công dụng của vật
liệu trong quá trình sản xuất.Đồng thời giúp kế toán sử dụng tài khoản cấp 1và
Trường Đại Học Công Đoàn 10 Lớp
Q8K2
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị
Kết
cấp 2 phù hợp. Ngoài ra còn thuận lợi cho việc đề ra biện pháp thích hợp trong
việc tổ chức quản lí và sử dụng có hiệu quả các loại nguyên vật liệu.
Trường Đại Học Công Đoàn 11 Lớp
Q8K2
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị
Kết
2. Phân loại nguyên vật liệu theo nguồn hình thành.
Theo tiêu thức này thì toàn bộ nguyên vật liệu của doanh nghiệp được chia
thành:
2.1. Nguyên vật liệu mua ngoài:
Là những nguyên vật liệu sử dụng cho việc sản xuất kinh doanh được doanh
nghiệp mua ngoài thị trường.
2.2. Nguyên vật liệu tự sản xuất:
Là những nguyên vật liệu do doanh nghiệp tự chế biến hoặc thuê ngoài gia công
để sử dụng cho sản xuất ở giai đoạn sau.
2.3. Nguyên vật liệu từ các nguồn khác:
nhận cấp phát, góp vốn liên doanh.
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp biết được nguồn nhập và tính giá đúng
của nguyên vật liệu .
3. Phân loại nguyên vật liệu căn cứ vào quyền sở hữu:
Theo tiêu thức này nguyên vật liệu được chia thành:
3.1. Nguyên vật liệu thuộc sở hữu của doanh nghiệp:
Gồm các loại nguyên vật liệu do doanh nghiệp tự sản xuất, mua ngoài đã thanh
toán hoặc chấp nhận thanh toán.
phí gia công chế biến.
- Nguyên vật liệu thuê ngoài gia công, chế biến: Giá thực tế là giá trị vật liệu
xuất kho thuê ngoài gia công, chế biến cộng với các chi phí liên quan (tiền thuê
gia công chế biến, chi phí vận chuyển bốc dỡ ).
-Nguyên vật liệu nhận vốn góp liên doanh: Giá thực tế là giá thoả thuận do
các bên xác định cộng với chi phí tiếp nhận (nếu có ).
-Phế liệu nhập kho: Giá thực tế là giá ước tính có thể sử dụng được hay giá
trị thu hồi tối thiểu.
- Nguyên vật liệu được tặng thưởng: Giá thực tế tính theo giá thị trường
tương đương cộng với chi phí liên quan đến việc tiếp nhận.
b. Giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho:
Để xác định giá thực tế nguyên vật liệu xuất dùng trong kì phải căn cứ vào
đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp, yêu cầu quản lí và trình độ nghiệp
Trường Đại Học Công Đoàn 13 Lớp
Q8K2
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị
Kết
vụ của cán bộ kế toán. Có thể sử dụng một trong các phương pháp sau theo
nguyên tắc nhất quán trong hạch toán ( nếu thay đổi phải giải thích rõ ràng ):
-Phương pháp FIFO ( Nhập trước, xuất trước ).
Theo phương pháp này, giả thiết rằng số liệu nào nhập trước thì xuất trước
xuất hết số nhập trước mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng số hàng
xuất. Nói cách khác cơ sở của phương pháp này là giá thực tế của vật liệu mua
trước sẽ được dùng làm giá để tính giá thực tế vật liệu xuất trước. Do vậy giá trị
vật liệu tồn kho cuối kì sẽ là giá thực tế của số vật liệu mua vào sau cùng.
Phương pháp này thích hợp trong trường hợp giá cả thị trường ổn định hoặc có
xu hướng giảm.
-Phương pháp LIFO ( Nhập sau, xuất trước ).
Phương pháp này giả định những vật liệu sau cùng sẽ được xuất trước tiên.
-Phương pháp giá đơn vị bình quân.
Giá thực tế vật liệu tồn kho sau mỗi lần nhập
Lượng thực tế vật liệu tồn kho sau mỗi lần nhập
Phương pháp giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập khắc phục được nhược
điểm của hai phương pháp giá bình quân trên, vừa chính xác vừa cập nhật.
Nhưng hạn chế của phương pháp này là tốn nhiều công sức, phải tính toán nhiều
lần.
- Phương pháp thực tế đích danh: theo phương pháp này nguyên vật liệu
được xác định giá trị theo đơn chiếc hay từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập đến
lúc xuất. Khi xuất nguyên vật liệu nào sẽ tính theo giá thực tế của nguyên vật
liệu đó. Do vậy, phương pháp này có tên gọi phương pháp đặc điểm riêng hay
phương pháp trực tiếp và thường sử dụng với các loại vật liệu có giá trị cao và
có tính tách biệt.
- Phương pháp giá hạch toán.
Theo phương pháp này toàn bộ nguyên vật liệu biến động trong kì tính
theo giá hạch toán (một loại giá ổn định trong kì ). Cuối kì kế toán sẽ tiến hành
điều chỉnh từ giá hạch toán sang giá thực tế theo công thức:
Giá thực tế vật liệu
xuất dùng
=
Giá hạch toán vật
liệu xuất dùng
X
Hệ số giá của vật
liệu
Hệ số giá có thể tính cho từng loại,từng nhóm, hoặc từng thứ nguyên vật liệu
( (chủ yếu tuỳ thuộc vào yêu cầu và trình độ quản lí ).
Hệ số giá vật liệu =
Giá thực tế tồn đầu kì và nhập trong kì
Giá hạch toán vật liệu tồn đầu kì và nhập trong
kì
Hoá đơn GTGT.
Giấy đề nghị thanh toán.
Phiếu chi.
Biên bản bàn giao chứng từ …
Mọi chứng từ hạch toán kế toán về vật liệu phải được tổ chức vận chuyển
theo trình tự,thời gian hợp lí và do kế toán trưởng quy định. Nhằm phục vụ cho
việc phản ánh, ghi chép và tổng hợp số liệu kịp thời của các bộ phận, cá nhân có
liên quan.
2.2. Phương pháp hạch toán kế toán chi tiết nguyên vật liệu .
Hạch toán kế toán chi tiết nguyên vật liệu đòi hỏi phản ánh cả về giá trị, số
lượng của từng loại nguyên vật liệu theo kho và người phụ trách. Tuỳ theo quy
Trường Đại Học Công Đoàn 16 Lớp
Q8K2
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị
Kết
mô,yêu cầu quản lí và điều kiện cụ thể mà doanh nghiệp sử dụng một trong ba
phương pháp sau:
-Phương pháp thẻ song song
-Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
-Phương pháp sổ số dư
a. Phương pháp thẻ song song.
Yêu cầu phải mở chi tiết đồng thời tại kho và tại phòng kế toán.
- Tại kho:Thủ kho dùng thẻ kho để phản ánh tình hình nhập xuất tồn
nguyên vật liệu,thẻ kho được mở chi tiết cho từng danh điểm vật tư. Hàng ngày,
căn cứ vào chứng từ nhập xuất thủ kho ghi số lượng thực nhập xuất. Cuối mỗi
ngày, tính ra số lượng tồn trên thẻ kho. Mỗi chứng từ ghi một dòng vào thẻ kho.
Thủ kho phải thường xuyên đối chiếu với sổ chi tiết vật liệu để đảm bảo luôn
trùng khớp đúng. Cuối tháng, thủ kho phải tính tổng cộng số nhập, xuất và tồn
kho cuối kì theo từng danh điểm vật tư.
- Tại phòng kế toán: Kế toán vật tư mở sổ kế toán chi tiết cho từng danh
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Quan hệ đối chiếu
Ghi cuối tháng
Ngoài ra, để quản lí chặt chẽ thẻ kho, kế toán nguyên vật liệu còn mở sổ
đăng kí thẻ kho. Khi giao thẻ kho cho thủ kho, kế toán phải ghi vào sổ biên bản
giao nhận chứng từ.
- Ưu điểm:
Phương pháp này ghi chép đơn giản, rõ ràng và dễ kiểm tra đối chiếu với
số liệu để phát hiện kịp thời các sai sót. Ghi chép chặt chẽ về mặt số lượng và
giá trị
- Những hạn chế:
Việc ghi sổ còn trùng lặp giữa kế toán và thủ kho về mặt chỉ tiêu số
lượng.Đối với những doanh nghiệp có chủng loại vật liệu nhiều và nhập xuất
diễn ra thường xuyên thì phương pháp này không đáp ứng được tính kịp thời
trong việc kiểm tra đối chiếu thường xuyên.
- Phạm vi áp dụng: Được áp dụng ở những đơn vị vừa và nhỏ, ít chủng loại
vật tư có khối lượng các nghiệp vụ nhập xuất ít và không thường xuyên.
b. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển.
- Tại kho: Để hạch toán kế toán chi tiết nguyên vật liệu,thủ kho vẫn mở thẻ
kho để theo dõi về mặt số lượng của từng danh điểm vật tư như trường hợp hạch
toán kế toán chi tiết theo phương pháp thẻ song song.
- Tại phòng kế toán: Kế toán không mở sổ chi tiết mà mở sổ đối chiếu luân
chuyển chứng từ để hạch toán số lượng và giá trị của từng kho. Sổ này ghi mỗi
tháng một lần vào cuối tháng trên cơ sở tổng hợp chứng từ nhập xuất phát sinh
trong tháng của từng vật liệu. Mỗi loại chỉ ghi một dòng trong sổ. Cuối tháng,
đối chiếu số lượng vật liệu trên sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho,đối chiếu
giá trị với kế toán tổng hợp.
Trường Đại Học Công Đoàn 18 Lớp
Q8K2
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị
Ghi xong thủ kho phải gửi về phòng kế toán để kiểm tra và tính thành tiền.
- Tại phòng kế toán: Định kì, kế toán phải xuống kho để hướng dẫn, kiểm
tra việc ghi chép của thủ kho và thu nhận chứng từ. Khi nhận được chứng từ, kế
toán kiểm tra và tính giá theo từng chứng từ (giá hạch toán ). Tổng cộng số tiền
và ghi vào cột thành tiền trên phiếu giao nhận chứng từ.Đồng thời, ghi số tiền
vừa tính được của nhóm vật tư ( Nhập riêng, xuất riêng ) vào bảng luỹ kế nhập –
xuất – tồn.Bảng này được mở cho từng kho, mỗi kho một tờ được ghi trên cơ sở
các phiếu giao nhận chứng từ nhập xuất vật tư. Tiếp đó cộng số tiền nhập, xuất
Trường Đại Học Công Đoàn 20 Lớp
Q8K2
Chứng từ nhập
Thẻ kho
Chứng từ xuất
Bảng kê xuất
Kế toán tổng
hợp
Sổ đối chiếu luân
chuyển
Bảng kê nhập
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị
Kết
trong tháng và dựa vào số dư đầu tháng để tính ra số dư cuối tháng của từng
nhóm vật tư.Số dư này được dùng để đối chiếu với từng cột số tiền trên sổ số dư
( số liệu trên sổ số dư do kế toán tính bằng cách lấy số lượng tồn nhân với giá
hạch toán ).
Biểu 03: Sơ đồ hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ số dư
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Quan hệ đối chiếu
Ghi cuối tháng
- Ưu điểm: Tránh được sự trùng lặp, giảm được côngviệc ghi sổ kế toán do
Q8K2
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị
Kết
V. Hạch toán kế toán tổng hợp nguyên vật liệu.
1. Hạch toán kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kê
khai thường xuyên.
1.1. Khái niệm và tài khoản sử dụng.
a. Khái niệm.
Phương pháp kê khai thường xuyên( Perpetual inventory method) là
phương pháp theo dõi, phản ánh tình hình hiện có, biến động tăng giảm hàng tồn
kho một cách thường xuyên, kiên tục trên các tài khoản và từng loại hàng tồn
kho.
b. Tài khoản sử dụng .
Để hạch toán kế toán nguyên vật liệu, kế toán cần sử dụng những loại tài
khoản sau:
- Tài khoản 152: “Nguyên liệu, vật liệu “
Tài khoản này được dùng để theo dõi giá trị hiện có,tình hình tăng giảm
của các vật liệu theo giá thực tế, có thể mở chi tiết theo từng loại, nhóm ... Tuỳ
theo yêu cầu quản lí và phương pháp tính toán.
Bên nợ: Phản ánh các nghiệp vụ phát sinh làm tăng giá thực tế của nguyên
vật liệu trong kì ( mua ngoài, tự sản xuất, nhận vốn góp ....).
Bên có: Phản ánh các nghiệp vụ làm giảm giá thực tế của nguyên vật liệu
trong kì ( xuất dùng, xuất bán, thiếu hụt...).
Dư nợ: Giá thực tế của nguyên vật liệu tồn kho.
- Tài khoản 151 “ Hàng mua đang đi đường “.
Tài khoản này dùng để theo dõi các loại nguyên vật liệu mà doanh nghiệp
đã mua hay chấp nhận mua và thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng cuối
tháng hàng chưa về nhập kho ( kể cả số đang gửi tại kho của người bán ).
Bên nợ: Phản ánh giá trị hàng đi đường tăng.
Bên có: Phản ánh giá trị hàng đi đường kì trước đã nhập kho hay chuyển
- Trường hợp doanh nghiệp được hưởng chiết khấu thương mại hay giảm
giá hàng mua( do phẩm chất hàng kém, sai quy cách...) hoặc hàng mua nay trả
lại cho chủ hàng ghi:
Nợ TK 331 : Trừ vào số phải trả.
Nợ TK 111,112 : Số tiền được người bán trả lại.
Trường Đại Học Công Đoàn 24 Lớp
Q8K2
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị
Kết
Nợ TK 138 (1388) : Số được người bán chấp nhận.
Có TK 152 (chi tiết vật liệu : Số giảm giá hàng mua, chiết khấu thương
mại hay hàng mua trả lại theo giá chưa thuế .
Có TK 133 (1331) : Thuế VAT đầu vào tương ứng với số giảm giá,
chiết khấu thương mại được hưởng hay hàng mua trả lại.
- Trường hợp doanh nghiệp được hưởng chiết khấu thanh toán khi mua
hàng do thanh toán tiền hàng trước hạn, kế toán ghi:
Nợ TK 331 : Trừ vào số tiền hàng phải trả.
Nợ TK 111,112 : Số tiền được người bán trả lại.
Nợ TK 138 (1388) : Số tiền được người bán chấp nhận.
Có TK 515 : Số chiết khấu thanh toán được hưởng
- Trường hợp hàng thừa so với hoá đơn.
+Nếu nhập kho toàn bộ số vật liệu (kể cả số thừa ).
Khi nhập kho, kế toán phản ánh toàn bộ số thực nhập.
Nợ TK 152 (chi tiết vật liệu ) : Trị giá hàng mua ( theo giá chưa thuế ).
Nợ TK 133 (1331) : Thuế VAT tính theo số hoá đơn.
Có TK 331 : Trị giá thanh toán theo hoá đơn.
Có TK 338 (3381) : Trị giá hàng thừa( theo giá chưa thuế ).
+ Căn cứ vào quyết định xử lí, ghi:
Nếu trả lại cho người bán.
Nợ TK 338 (3381) : Trị giá hàng thừa đã xử lí .