Luận văn Đề Tài:Một số biện pháp nâng cao khả
năng cạnh tranh của công ty
bánh kẹo Hải Châu
1LỜI NÓI ĐẦU
Từ khi Việt Nam xoá bỏ cơ chế kinh tế bao cấp chuyển sang cơ chế kinh
tế thị trường, nền kinh tế đã phát triển mạnh mẽ. Trong bối cảnh đó, sự cạnh
tranh trên thị trường ngày càng gay gắt. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát
triển là rất khó khăn. Doanh nghiệp chỉ có thể chiến thắng trong cuộc cạnh tranh
bằng cách không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh.
Công ty bánh kẹo Hải Châu là một doanh nghiệp nhà nước nhưng cũng
phải đối mặt với thực tế như trên. Trong thời gian qua, bằng nhiều kế hoạch và
biện pháp hiệu quả, công ty đã đạt được một số thành công đáng kích lệ. Mặc dù
vậy, công ty vẫn đang tiếp tục tìm hướng đi đúng đắn để phát triển lên tầm cao
. Một số biện pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của công
ty bánh kẹo Hải Châu.
Do thời gian và trình độ có hạn, chuyên đề không tránh khỏi thiếu sót, em
rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo và sự giúp đỡ của các bạn
để em có thể hoàn thiện hơn chuyên đề này.
4CHƯƠNG I.
LÝ THUYẾT CƠ SỞ VỀ CẠNH TRANH
I. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH
NGHIỆP
1. Nguồn gốc của cạnh tranh
Các hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kì doanh nghiệp nào cũng đều
diễn ra trên thị trường và chịu sự tác động của cơ chế và các quy luật thị trường.
Do đó để hiểu rõ những nguyênnhân khiến doanh nghiệp luôn chịu sự tác động
của quy luật cạnh tranh và tác động của quy luật nay tới hành vi của doanh
nghiệp ra sao, điểm đầu tiên là phải làm rõ khái niệm thị trường.
Có nhiều cách thức, góc độ tiếp cận với khái niệm thị trường. Mỗi cạnh
thức, góc độ sẽ đưa ra một kết quả khác nhau. Để có cách nhìn tương đối tổng
thể, có thể lý giải nguồn gốc cạnh tranh trên thị trường, phục vụ cho mục tiêu
nghiên cứu của đề tài, một trong những góc độ tiếp cận hiệu quả là theo giác độ
phân tích của kinh doanh: thị trường của doanh nghiệp.
Theo Me Carthy: "Thị trường có thể được hiểu là những nhóm khách
hàng tiềm năng với những nhu cầu tương tự (giống nhau) và những người bán
đưa ra các sản phẩm khác nhau với các cách thức khác nhau để thoả mãn các
nhu cầu đó".
Định nghĩa này chỉ ra rằng để đáp ứng những nhu cầu giống nhau luôn tồn
tại số nhiều các nhà cung cấp. Những người bán bao gồm tập hợp đa dạng các
II. PHƯƠNG PHÁP ĐỂ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA MỘT DOANH
NGHIỆP
Như đã nói trên, trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp buộc phải
chấp nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh là yếu tố vốn có, vừa mang đến những
tác động tích cực, vừa mang đến những tác động tiêu cực. Chính vì lẽ đó việc
đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là rất quan trọng.
Để đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp các nhà nghiên
cứu đã đề ra nhiều phương pháp. Mỗi phương pháp được xây dựng trên một nền
6
tảng tư duy khác nhau, sử dụng các công cụ phân tích khác nhau và do đó đưa ra
những kết quả cũng khác nhau. Sau đây chúng ta sẽ điểm qua các phương pháp
cơ bản, nổi tiếng và đi đến lựa chọn một phương pháp thích hợp để ứng dụng
vào phân tích thực tế khả năng cạnh tranh của Công ty bánh kẹo Hải Châu ở
phần sau. Các phương pháp đánh giá bao gồm:
- Phương pháp phân tích theo quan điểm quản trị chiến lược
- Phương pháp phân tích theo quan điểm tân cổ điển
- Phương pháp phân tích theo quan điểm tổng hợp.
1. Phương pháp phân tích theo quan điểm quản trị chiến lược
1.1. Phân tích theo cấu trúc
Về thực chất phương pháp này được ứng dụng hiệu quả trong phân tích
khả năng cạnh tranh của một ngành hơn là cho một doanh nghiệp. Tuy nhiên
chúng ta vẫn có thể ứng dụng phương pháp này trong phân tích đối với một
doanh nghiệp.
Quan điểm quản trị chiến lược được thể hiện khá hoàn chỉnh trong những
năm 1980 qua các công trình của Porter (1980 và 1990). Chính vì vậy, điều này
cũng dễ hiểu là việc phân tích theo cấu trúc của cách tiếp cận này chính là nền
cho "khối kim cương" các yếu tố xác định lợi thế cạnh tranh quốc gia. Phân tích
theo cấu trúc cũng được đánh giá là rất có ưu thế trong nghiên cứu tình huống
ở trong đó.
Mô hình năm lực lượng hoàn chỉnh hơn rất nhiều so với một tập hợp các
mô hình giáo khoa, nhưng nó cũng kém rõ ràng hơn rất nhiều. Nó được sử dụng
cho hàng chục loại thị trường khác nhau nhưng nó lại không cung cấp những dự
đoán rõ ràng về kết quả của các cấu trúc thị trường đó. Thực tế, giá trị của nó
không nằm ở chỗ cung cấp những dự đoán cho mỗi kiểu ngàn, mà ở chỗ cung
cấp cho các nhà quản lý một danh mục đầy đủ có thể sử dụng để xác định những
đặc điểm quan trọng nhất của sự cạnh tranh trong một ngành. Các đặc điểm này
tạo ra xuất phát điểm để các doanh nghiệp có thể xây dựng chiến lược cạnh
tranh hiệu quả.
Nh
ữ
ng ng
ư
ờ
i gia
nhập tiềm năng
Ng
ư
ờ
i
cung
ứ
ng
S
ứ
c m
ạ
nh c
Mối đe doạ
thay thế
81.2. Phân tích theo lợi thế cạnh tranh trên các nguồn lực riêng biệt
Nguồn lực phải thực giá trị, nghĩa là nó có đóng góp tích cực cho việc
khai thác vị thế của công ty trên thị trường.
Nguồn lực phải hiếm hoi các đối thủ cạnh tranh không thể có được một
cách rộng rãi.
Nguồn lực phải có tính khó bắt trước hay mô phỏng
Nguồn lực không dễ bị thay thé bởi nguồnlực khác.
Nói ngắn gọn, lợi thế cạnh tranh - mục tiêu của quản trị chiến lược - đòi
hỏi các nguồn lực của công ty phải khác biệt, rất khó lưu chuyển và bắt trước.
Và như vậy, ngay đối với một ngành, việc phân tích theo cấu trúc với năm nhân
tố cạnh tranh cũng phải tính đến, "những đặc thù nguồn lực" của một số công ty
để tránh cái gọi là một chính sách phù phù hợp với mọi kiểu loại công ty.
2. Phương pháp phân tích theo quan điểm tân cổ điển.
Quan điểm tân cổ điển dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống xem
xét lợi thế cạnh tranh hay tính cạnh tranh đối với một sản phẩm (đồng nhất) qua
lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất. Cách xem xé theo quan điểm
tân cổ điển có phần phiến điên; nó thường còn bị phê phán là yếu về phân tích
động thái và hơn thế nữa, việc đo lường chi phí và nhất là năng suất (như năng
suất tổng hợ các nhân tố TFP) phải dựa trên những giảthiết không thật phù hợp
với thực tế.
Tuy nhiên, các phân tích định lượng phản ánh tính cạnh tranh ngành/ công
ty theo quan điểm này vẫn được sử dụng rất rộng rãi. Trước hết, chi phí các
- Lao động
- Tổng hợp
của các nhân
tố
Công nghệ
- Chi phí
cho nghiên
cứu và phát
triển
- Cấp độ
- Thay đổi
- Sản phẩm
- Chất
lượng
- Sự khác
biệt
Đầu vào &
chi phí
- Giá cả
đầu vào
chủ yếu
- Hệ số chi
phí các
nguồn lực
Mức độ tập
trung
- 4 công ty
lớn nhất
Các điều
- Các điều kiện về
cầu
- Môi trường
thương mại quốc tế
Không thể kiểm
soát được
- Môi trường tự
nhiên
Thị phần
10
- Chi phí
- Liên kết
dục
- Liên kết
(Nguồn: Theo Van Duren, Martin, và Westgren)
Trong khung khổ đánh giá này, các chỉ số (lượng và chất) hàm chứa tính
cạnh tranh là những chỉ số quan trọng nhất. Việc đánh giá thành công hay thất
bại phụ thuộc rất nhiều vào khả năng phân tích những chỉ số này. Do đó, chúng
ta cần hiểu rõ hơn về các chỉ số này:
Xét tổng thể, cách phân tích theo quan điểm tổng hợp cho phép trả lời ba
câu hỏi cơ bản khi nghiên cứu tính cạnh tranh của một ngành/công ty:
1. Ngành/công ty đó có tính cạnh tranh như thế nào?
2. Những nhân tố nào thúc đẩy hay có đóng góp tích cực, còn những nhân
tố nào hạn chế hay có tác động tiêu cực đối với tính cạnh tranh của ngành/công
ty?
3. Những tiêu chí gì cần đặt ra cho chính sách để nâng cao tính cạnh tranh
của ngành/công ty? Những chính sách, chương trình và công cụ nào của chính
toàn bộ các yếu tố của quá trình kinh doanh. Những yếu tố là thế mạnh sẽ được
tiếp tục khai thác phát huy, còn những yếu tố hạn chế phải được khắc phục.
Tuy nhiên, xây dựng đồng đồng bộ các biện pháp là khối lượng công việc
rất lớn, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, có thể vượt quá khuôn khổ hạn chế
củamột chuyên đề tốt nghiệp. Do khả năng và thời gian có hạn, và cũng phù hợp
với kiến thức chuyên ngành của sinh viên khoa Thương mại, tác giả xin chỉ tập
trung vào các biện pháp tăng cường khả năng cạnh tranh trong tiêu thụ của
doanh nghiệp.
Theo đó, chúng ta có 3 nhóm biện pháp lớn:
Các biện pháp liên quan đến sản phẩm
Các biện pháp liên quan đến giá cả
Các biện pháp liên quan đến dịch vụ
Các biện pháp sau đây sẽ được xé riêng lẻ. Nhưng trong thực tế, các công
ty thường áp dụng tổng hợp các biện pháp này. Tuỳ vào từng thời kỳ nhưng vẫn
phải sử dụng các công cụ khác mang tính hỗ trợ.
4. Các biện pháp liên quan đến sản phẩm
Muốn xây dựng các biện pháp liên quan đến sản phẩm thành công, điểm
đầu tiên là phải hiểu và mô tả đúng sản phẩm của doanh nghiệp đưa ra bán trên
tị trường. Nếu chỉ hiểu sản phẩm theo quan niệm truyền thống - từ góc độ sản
xuất thông qua hình thức biểu hiện bằng vật chất, chúng ta không thể xây dựng
được các biện pháp một cách sáng tạo, linh hoạt. Cách thức tiếp cận thích hợp
hơn phải xuất phát từ góc gộ người tiêu dùng. Theo cách thức này, sản phẩm là
sự thoả mãn một nhu cầu nào đó của khách hàng.
12
4.1. Đa dạng hoá sản phẩm
Thực chất đa dạng hoá sản phẩm là quá trình mở rộng danh mục sản
phẩm, tạo nên một cơ cấu sản phẩm có hiệu quả của doanh nghiệp. Đa dạng hoá
sản phẩm là cần thiết và khách quan đối với mỗi doanh nghiệp bởi vì:
chất lượng lao động. Việc nâng cao chất lượng sản phẩm không phải là trách
nhiệm của một số bộ phận, cá nhân mà là trách nhiệm của toàn bộ bộ phận,
thành viên của công ty. Vì vậy để nâng cao chất lượng sản phẩm công ty có thể
áp dụng nhiều cách thức nhứ:
Nâng cao hoạt động thiết kế sản phẩm
Nâng cao khả năng máy móc thiết bị, trình độ công nghệ
Nâng cao tay nghề và ý thức của người lao động
Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng hiện đại như hệ thống quản lý
chất lượng toàn diện TQM hay bộ tiêu chuẩn ISO
Nói chung các biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh liên quan đến sản
phẩm luôn được coi là vũ khí ưu tiên nhất. Nó cho phép tạo ra lợi thế cạnh tranh
rõ rệt. Những công ty thànhcông trên thị trường Việt Nam gây đây như công ty
giầy dép Biti's, công ty sữa Vinamilk, công ty Nhật Linh với sản phẩm ổn áp
LIOA… đều sử dụng rất hiểu quả nhóm biện pháp này. Sản phẩm của họ luôn
được người tiêu dùng ưa chuộng vì mẫu mã đẹp chủng loại phong phú và chất
lượng cao.
5. Các biện pháp liên quan đến giá.
Trong kinh doanh, giá là một nhân tố có thể kiểm soát mà doanh nghiệp
có thể sử dụng để thực hiện các mục tiêu chiến lược, kế hoạch kinh doanh.
Nhưng giá cũng là một công cụ rất khó sử dụng để làm vũ khí cạnh tranh. Một
điều thường dễ nhầm lẫn là muốn sử dụng giá là công cụ cạnh tranh thì doanh
nghiệp phải xác định giá thấp. Tất nhiên nếu doanh nghiệp luôn có thể xây dựng
được một mức giá thấp hơn đối thủ thì rất tốt. Nhưng đây là điều không thể.
Trong thực tế, doanh nghiệp có thể sử dụng giá là công cụ cạnh tranh nếu xây
dựng một chính sách giá thành công. Sau đây chúng ta sẽ xem xét các biện pháp
cạnh tranh bằng công cụ giá và quan trọng hơn là xem xét cơ sở để thực hiện các
biện pháp này.
14
15
một số chính sách giá hiệu quả để nâng cao khả năng cạnh tranh. Các cính sách
giá đúng cho phép doanh nghiệp có thể định giá và quản lý giá có hiệu quả trong
kinh doanh. Chính sách định giá thể hiện sự lựa chọn đúng đắn các tình huống
cần giải quyết khi đặt mức giá giúp cho việc chấp nhận giá và ra quyết định mua
sắm của khách hàng được dễ dàng hơn. Nếu thực hiện được điều này, công ty đã
có thể nâng cao khả năng cạnh tranh.
6. Các biện pháp liên quan đến dịch vụ
Không bị hạn chế trong một số hình thức cụ thể như các biện pháp cạnh
tranh trên, các biện pháp liên quan đến dịch vụ được thực hiện rất đa dạng. Đây
là công cụ cạnh tranh rất lợi hại. Vì thế các dn rất ưa dùng biện pháp này. Thực
hiện dịch vụ, doanh nghiệp không chỉ nhằm mục tiêu bán hàng tức thời mà
nhằm mục tiêu lớn hơn là xây dựng một hình ảnh tốt về doanh nghiệp trong tâm
trí khách hàng. doanh nghiệp có thể tiến hành các hoạt động dịch vụ sau:
6.1. Dịch vụ trước bán hàng:
Để thuyết phục khách hàng mua hàng, dn cần phải tiến hành các hoạt
động dịch vụ ngay cả trước kih có sự tiếp xúc giữa người bán hàng và người
mua . Những hoạt động này bao gồm các dịch vụ về thông tin, giới thiệu, quảng
cáo, chào hàng, về các loại hàng hoá và các dịch vụ kèm theo., các dịch vụ về
chuẩn bị hàng hoá, đóng gói sẵn theo yêu cầu của khách hàng, triển lãm hàng
hoá tại các hội chợ, giới thiệu sản phẩm và bày mẫu hàng… Những dịch vụ này
có tác dụng làm khách hàng biết về sản phẩm của công ty, tin tưởng vào nó và
gia tăng nhu cầu tiêu dùng.
6.2. Dịch vụ trong bán hàng.
Tại thời điểm bán hàng, người bán có cơ hội giao tiếp với người mua. Vì
thế đây là một cơ hội rất tốt để thực hiện dịch vụ đối với người mua. Hoạt động
dịch vụ có thể được thực hiện rất đa dạng như bao gói hàng hoá, vận chuyển
theo ý người mua, hướng dẫn trong quá trình mua hàng. Những hoạt động dịch
vụ được thể hiện tốt luôn đem lại sự hài lòng cho khách hàng.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH CỦA CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI CHÂU
I.GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI CHÂU
1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty bánh kẹo Hải Châu là một doanh nghiệp Nhà nước, thành viên
của Tổng Công ty mía đường I - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tiền
thân là nhà máy Hải châu. Công ty là một trong những Công ty hàng đầu của
Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất bánh, kẹo, thực phẩm với trên 35 năm không
ngừng phát triển, liên tục đổi mới công nghệ và đầu tư thiết bị hiện đại với qui
mô phát triển ngày càng cao.
Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Hải Châu chia thành 3 giai đoạn:
Thời kỳ đầu thành lập (1965-1975):
Được sự giúp đỡ chuyên gia Trung Quốc, sau một thời gian xây dựng đến
ngày 02/9/1965, Bộ công nghiệp nhẹ cắt băng khánh thành Nhà máy Hải Châu.
Nhà máy chính thức đi vào hoạt động.
Vốn đầu tư ban đầu: Do chiến tranh nên không lưu trữ được.
Trong thời kỳ này, công ty sản xuất phuc vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân
dân và nhu cầu quốc phòng. Sản phẩm chính gồm có bánh quy (hương thảo, quy
dứa, quy bơ, mít), bánh lương khô, kẹo cứng, kẹo mềm.
Năm 1969 một bộ phận của công ty được tách ra để tham gia thành lập
nhà máy Hải Hà. Đầu năm 1970, công ty chuyển từ sự quản lý của Bộ công
nghiệp nhẹ sang Bộ lương thực và thực phẩm.
Số cán bộ công nhân viên: bình quân 850 người/năm
Thời kỳ 1976-1985:
suất 500kg/ca. Dây chuyền có thể phủ Socola cho các sản phẩm bánh.
Năm 1996 Công ty mua thêm và lắp đặt thêm 2 dây chuyền sản xuất kẹo
của CHLB Đức.
Năm 1998 đầu tư mở rộng dây chuyền sản xuất bánh Hải Châu. Công
suất thiết kế 4 tấn/ca.
Năm 2001 đầu tư mở rộng dây chuyền sản xuất bánh kem xốp. Công
19
suất thiết kế 1,6 tấn/ca.
Cuối năm 2001 Công ty đầu tư một dây chuyền sản xuất Socola công
suất 200kg/giờ.
Hiện nay, số cán bộ công nhân viên bình quân: 900 người.
2. Chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của công ty:
2.1. Chức năng và nhiệm vụ của công ty:
Theo quyết định thành lập công ty số 1335 NNTCCB ngày 29/10/1994
Công ty bánh kẹo Hải Châu có chức năng và nhiệm vụ chính là sản xuất và kinh
doanh các loại sản phẩm bánh kẹo, đóng góp một phần vào công cuộc xây dựng
và phát triển đất nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao đời
sống nhân dân.
Công ty được phép kinh doanh trong các lĩnh vực sau:
Sản xuất kinh doanh các loại sản phẩm bánh kẹo
Sản xuất kinh doanh các loại bột gia vị
Xuất nhập khẩu trực tiếp với nước ngoài những mặt hàng mà công ty
kinh doanh
Kinh doanh vật tư bao bì ngành công nghiệp thực phẩm.
20
2.2. Sơ đồ tổ chức của công ty
ỹ
thu
ậ
t
Phó GĐ
kinh doanh
Phòng
HCQT
Phòng
KHVT
Phòng
tổ
Phòng
ti vụ
Ban
bảo vệ
t
ự
v
ệ
Ban
XDCB
Phòng
HCQT
CH
TTS
P
Các PX
khác21
Phó giám đốc kỹ thuật: Có nhiệm vụ điều hành sản xuất, chuyên theo
dõi thiết bị, công nghệ, áp dụng những thành tựu khoa học mới của nước ngoài
vào quy trình sản xuất của công ty khuyến khích cán bộ công nhân viên phát huy
sáng kiến cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất.
Phó giám đốc kinh doanh: có nhiệm vụ quản lý, tổ chức và chỉ đạo
công tác kinh doanh của công ty, là người giúp đỡ giám đốc về: giao dịch, ký kết
các hợp đồng với khách hàng.
Các đơn vị chức năng gồm:
Phòng tổ chức:
Chức năng: tham mưu cho giám đốc về mặt công tác: tổ chức sản xuất
và cán bộ công tác nhân sự, đào tạo nâng bậc, công tác lao động tiền lương.
Nhiệm vụ: Thực hiện công tác tổ chức sản xuất và cán bộ, công tác nhân
sự và chế độ, công tác quản lý và sử dụng lao động.
Ban bảo vệ tự vệ thi đua:
Chức năng: tham mưu cho giám đốc về các mặt: tổ chức các phong trào
thi đua, khen thưởng, kỷ luật, công tác bảo vệ, tự vệ…
Nhiệm vụ: tổ chức các đợt thi đua sản xuất, thi đua, lao động và các
phong trào thi đua khác…
Phòng kỹ thuật:
Chức năng: tham mưu cho giám đốc trong công tác quản lý kỹ thuật,
quy trình công nghệ sản xuất, nghiên cứu sản phẩm mới và kiểm tra chất lượng
sản phẩm, nguyên vật liệu (NVL)…
II. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY
1. Đặc điểm lĩnh vực kinh doanh
Những lĩnh vực kinh doanh của Công ty bánh kẹo Hải Châu được cho
phép trong giấy phép kinh doanh bao gồm sản xuất bánh kẹo, đồ uống, kinh
doanh vật tư, nguyên liệu ngành bánh kẹo. Trong quá trình hoạt động từ khi có
quyết định thành lập mới (năm 1994), công ty đã thử nghiệm kinh doanh, sản
xuất nhiều mặt hàng. Tuy nhiên, do không thành công nên công ty đã thu hẹp
một số lĩnh vực. Cho đến nay, Công ty bánh kẹo Hải Châu hoạt động tập trung
23
trong lĩnh vực sản xuất bánh kẹo và bột canh. Đây là những mặt hàng đem lại
mức doanh thu và lợi nhuận cao nhất cho công ty.
Mảng sản xuất chủ đạo của công ty là sản xuất bánh. Công ty bánh kẹo
Hải Châu rất nổi tiếng với sản phẩm bánh Hương thảo, bánh kem xốp có mùi vị
thơm, ngon riêng biệt. Hàng năm, công ty tiêu thụ được hàng ngàn tấn bánh.
Công ty cũng rất thành công với sản phẩm bột canh. Bột canh Hải Châu luôn là
sự lựa chọn ưu tiên trong các sản phẩm cùng loại.
2. Đặc điểm về sản phẩm
Công ty bánh kẹo Hải Châu sản xuất đa dạng các mặt hàng bánh kẹo, bột
canh. Hiện nay, công ty có bán khoảng 100 mặt hàng thuộc khoảng 30 chủng
loại. Các mặt hàng truyền thống của công ty là các loại bánh kem xốp, bánh quy,
bột canh… Bánh của Công ty có chất lượng tốt, ngon có mùi vị đặc trưng nên
được người tiêu dùng ưa chuộng. Bột canh có chất lượng tốt, đã xây dựng được
niềm tin với người tiêu dùng. Hàng của công ty luôn được lựa chọn là "hàng
Việt Nam chất lượng cao" trong những năm gần đây. Với phương châm "Hải
Châu chỉ có chất lượng vàng", công ty đã nỗ lực không ngừng để nâng cao chất
lượng sản phẩm.
BẢNG 2: MỘT SỐ CHỦNG LOẠI SẢN PHẨM CHÍNH CỦA CÔNG TY BÁNH
KẸO HẢI CHÂU
ốp
thường
3. lương khô
dinh dưỡng
4. K
ẹo cứng nhân
socola
3. K
ẹo Socola
túi bạc
4. Quy hương
thảo
4. Kem x
ốp
thanh cao
cấp
5. K
ẹo cứng nhân
sữa
4. K
ẹo mềm
sữa dừa
5. Quy bơ 5. Kem x
ốp
tổng hợp
6. K
ẹo cứng gói
hoa quả
12. Bánh H
ải
hậu
(Nguồn: Phòng Kế hoạch - Vật tư cung cấp)
Tuy nhiên trong kinh doanh bánh kẹo có điểm cần chú ý là chất lượng sản
phẩm chưa phải là yếu tố quyết định, sự lựa chọn của người tiêu dùng còn phụ
thuộc rất nhiều vào mẫu mã sản phẩm, bao bì. Theo đánh giá khách quan mẫu
mã sản phẩm của công ty còn hạn chế. Những mặt hàng của công ty có thể thoả
mãn nhu cầu của khách hàng có thu nhập thấp, nhưng thoả mãn hạn chế các nhu
cầu phức tạp hơn. Do đó, sản phẩm của công ty đứng ở thế bất lợi gặp phải sự
cạnh tranh từ sản phẩm cùng loại của các công ty khác.
Công ty là một trong những đơn vị đi đầu trong cả nước sản xuất những
mặt hàng mới. Đầu những năm 90, công ty đã sớm đưa ra thị trường sản phẩm
bánh kem xốp sản xuất trên dây chuyền tự động hiện đại. Vừa qua, công ty cũng
đã mạnh dạn nhập dây chuyền sản xuất socola của Đức và đã sản xuất thành
công một số chủng loại socola, đứng vào hàng ngũ một số ít công ty ở Việt Nam
có thể sản xuất loại hàng này. Hiện nay, công ty cũng đang tiến hành sản xuất
thử nghiệm các loại bánh mềm cao cấp
3. Đặc điểm về thị trường và khách hàng, kênh tiêu thụ của công ty
Công ty bánh kẹo Hải Châu chủ yếu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nội
địa. Cũng như của sản phẩm phần lớn các công ty khác, sản phẩm bánh kẹo của
công ty không có khả năng xuất khẩu, thậm chí sang các nước trong khu vực
như Thái Lan, Indonexia… Trong thị trường nội địa, công ty cũng chỉ có thế
mạnh ở miền Bắc. Khoảng 80% sản phẩm của công ty được tiêu thụ ở các tỉnh
phía Bắc.
Chủ yếu khách hàng của công ty là những người tiêu dùng có mức thu
nhập trung bình và thấp trên thị trường. Khả năng chi tiêu cho các mặt hàng kẹo
là những hàng hoá không thiết yếu không cao. Vì thế, họ không đòi hỏi hàng