Tài liệu Mô Hình Xen Canh Cây Họ Đậu Trong Vườn Cao Su thời kì KTCB doc - Pdf 98


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
MÔN HỆ THỐNG CANH TÁC
YXZYWZ

CHUYÊN ĐỀ:
MÔ HÌNH XEN CANH CÂY HỌ ĐẬU
TRONG VƯỜN CAO SU THỜI KỲ KIẾN THIẾT CƠ BẢN
Giảng viên HD: PGS.TS. Phạm Văn Hiền
SVTH: Bùi Đức Anh
Lớp: DH06NH

Đại Học Nông Lâm TP. HCM, Tháng 06 Năm 2008
Hệ Thống Canh Tác Mô Hình Xen Canh Cây Họ Đậu Trong Vườn Cao Su
SVTH: Bùi Đức Anh Trang
1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

Với 170 ngàn tấn mủ cao su tự nhiên xuất khẩu trong 4 tháng đầu năm 2008,
Việt Nam xếp thứ 4 về xuất khẩu cao su, sau Thái Lan, Indonexia và Malaixia. Kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam về cao su trong 4 tháng đạt 405 triệu USD, tăng 24%
so với cùng kỳ năm trước. Cao su Việt Nam có mặt tại 40 nước và vùng lãnh thổ,
trong đó Trung Quốc là thị trường lớn nhất, chiếm 60% sản lượng xuất khẩu của Việt
Nam… Bộ Công Thươ
ng dự kiến: Việt Nam sẽ xuất 780 ngàn tấn mủ trong năm 2008,
kim ngạch dự kiến: 1,5 tỷ USD. Việt Nam hiện có 495.000 ha cao su, dự kiến sẽ tăng
700.000 ha vào năm 2010.
Cao su là một cây công nghiệp có nhiều triển vọng trong chiến lược phát triển
nền kinh tế nước ta vì nhu cầu nguyên liệu công nghiệp trong nước và nhu cầu xuất
khẩu ngày càng tăng cao. Trong những năm gần đây, các ngành chế biến cao su đã
chiếm một t
ỷ trọng khá cao trong kim ngạch xuất khẩu. Để đáp ứng cho nhu cầu về
nguyên liệu nước ta đã và đang phát triển các mô hình cây cao su, từng bước cải tiến
kỹ thuật, gia tăng năng suất, sử dụng các giống mới năng suất cao hơn. Tuy nhiên, quá
trình đầu tư cho trồng mới vườn cây đòi hỏi chi phí khá cao khoảng từ 80-95 triệu/ha,
trong đó khoảng 30 triệu/ha cho năm đầu mà trong thời kỳ đầ
u – thời kỳ kiến thiết cơ
bản (5-7 năm) cây cao su hoàn toàn không sinh lợi. Để khắc phục khuyết điểm này của
các mô hình độc canh cây cao su, các nông trường và các tiểu điền đã chọn ra nhiều
giải pháp như: chọn và sử dụng các giống cây có thời gian kiến thiết cơ bản ngắn hơn,
tìm các biện pháp kỹ thuật thúc đẩy cây về sinh trưởng, trồng xen các loại cây ngắn
ngày vào vườn cây KTCB nhằm tạ
o nguồn thu phụ,… Trong các giải pháp đó, trồng
xen được nhiều nông trường và tiểu điền áp dụng. Cây trồng được chọn thường khá đa
dạng: cây họ đậu, cây thảm phủ, lúa, khoai lang, cà phê, ca cao, mía, thậm chí cây ăn
quả (đối với cách bố trí hàng kép và thu hoạch song song với cao su), …trừ khoai mì

kiến thiết cơ bản (KTCB), thời kỳ này thường kéo dài khoảng 5-7 năm tùy theo giống
cây hoặc điều kiện khí hậu, thổ nhưỡ
ng. Cây cao su sau khi thu hoạch khoảng 20 đến
25 năm thì sẽ bị thanh lý và được trồng lại. Trong quá trình canh tác trên mô hình độc
canh này người ta nhận ra rằng mặc dù lợi ích sinh ra từ cây cao su là không nhỏ
nhưng chi phí đầu tư cho vườn cây thì cũng không hề ít, lại còn thời gian 5-7 năm cây
chỉ sinh trưởng chứ không sinh lợi. Sau này, người ta tìm ra những giải pháp là trồng xen thêm một số loại cây ngắn
ngày vào trong mô hình cao su. Ở mỗi nơi thì loại cây được trồng xen với cao su là
khác nhau cho phù hợp với điều kiện và tập quán canh tác của từng vùng.
Hình 1: Vườn cao su trồng xen lạc trong KTCB
ở hu
y

n Đức Cơ
(
Gia Lai
)
Hệ Thống Canh Tác Mô Hình Xen Canh Cây Họ Đậu Trong Vườn Cao Su
SVTH: Bùi Đức Anh Trang
5
- Ở Trung Quốc và Sri-Lanka: cây cao su được trồng xen với trà với mật độ 140-
150 cây/ha làm cây che bóng cho vườn trà thu hoạch cả trà và cao su đều rất tốt (tuy
nhiên mô hình này chỉ áp dụng cho cách bố trí hàng kép, mỗi hàng kép cách nhau 16-
22 m).

6
II- MÔ HÌNH CAO SU XEN CANH CÂY HỌ ĐẬU

II.1. Giới thiệu chung về cây cao su
II.1.1. Cây cao su ở Việt Nam
Cây cao su (Hevea brasiliensis) có nguồn gốc từ Amazon (Nam Mỹ), với mật độ
cây thưa thớt và chu kỳ sống trên 100 năm, nên có dạng rừng lớn. Cây được Raoun
một dược sĩ hải quan của Thực Dân Pháp lấy giống từ Java về gieo được một số cây ở
trạm thí nghiệm Ông Yêm (Bến Cát, Bình Dương vào năm 1897. Một số hạt được gửi
cho bác sĩ Yersin đem về trồng t
ại trại thí nghiệm Paster ở Suối Dầu (phía nam Nha
Trang) tạo thành đồn điền cao su đầu tiên ở Việt Nam. Đến năm 1920 người Pháp
trồng 7.000 ha ở ngoại ô Sài Gòn và xung quanh Thủ Dầu Một và Biên Hòa (sản
lượng 3.000 tấn). Rồi đến một thời kì phát triển nhanh từ năm 1920 đến 1945. Sau đó
ngành cao su bị trì trệ do cuộc chiến tranh từ năm 1945 đến năm 1954.
Sau hiệp định Giơnevơ, cho đến năm 1961 Pháp tr
ở lại, mở rộng diện tích và chính
quyền lúc đó ở miền Nam khuyến khích tư nhân trồng cao su, tốc độ phát triển đạt đến
2.600 ha/năm, diện tích đạt 142.770 ha và sản lượng 83.403 tấn là mức cao nhất. Sau
năm 1961, Pháp chủ trương khai thác tận cùng các cây cao su hiện có và hạn chế trồng
mới. Đến năm1975, ta tiếp quản khoảng 60.000 ha cao su với năng suất từ 9 đến 13,8
tạ/ha/năm, giá trị cao su xuất kh
ẩu chiếm khoảng 60% tổng trị giá xuất khẩu của miền
Nam, cao su tiêu thụ trong nước đạt khoảng 10.000 tấn/năm.
Từ ngày sau giải phóng đến nay nhà nước ta đánh giá cao su là ngành mũi nhọn
cho nền kinh tế quốc dân, Ngay từ năm 1976, ta bắt đầu trồng mới cao su, trung bình
khoảng 3.000 ha/năm, đến cuối năm 1985 ta đạt được diện tích trồng khoảng 180.000
ha, năm 1992 là 200.000 ha, năm 1993 là 220.000 ha năng suất bình quân là khoảng
10-12 tạ/ha/nă
m.

vòng thân ở 1m cách mặt đất lên đến 5m, thậm
chí 8-9m.
-Sau khi cây cạo mủ được vài năm thì thân
tăng trưởng nhanhveef chiều cao và vòng thân,
sau 16-20 nă
m thì tăng trưởng chậm lại và
ngừng hẳn.
-Mùa khô thân cây tăng trưởn chậm, mùa mưa tăng trưởng nhanh, cây non trung
bình 30 ngày hoặc 30 ngày thì mọc thêm một tầng lá.

Hình 3: Thân cao su
Hệ Thống Canh Tác Mô Hình Xen Canh Cây Họ Đậu Trong Vườn Cao Su
SVTH: Bùi Đức Anh Trang
8
c. Lá
Lá kép, mọc cách gồm 3 lá chét với, khi
trưởng thành, lá có màu xanh đậm ở mặt trên là
và màu nhạt hơn ở mặt dưới lá. Lá gắn với
cuống lá thành một góc gắn 180
o
. Phần cuối
phiến lá chét nơi gắn vào cuống lá bằng một
cọng lá ngắn có tuyến mật, tuyến mật chỉ chứa
mật trong giai đoạn lá non, vừa ổn định. Từ lúc
còn là giai đoạn mầm đến khi ổn định, sự hình
thành tầng lá cao su gồm 4 giai đoạn:

-Giai đoạn 1: chồi mầm đang ngủ.
-Giai đoạn 2: chồi mầm phát triển, vươn dài ra thành một đoạn thân, các vảy lá ở
chồi mầm phát triển thành các lá non, màu tím sậm.

cùng một cây. Phát hoa hình chùm, mọc ở đầu
cành. Trên mỗi chùm hoa đều có hoa đực và
hoa cái với tỉ lệ thường là một hoa cái cho 60
hoa đực, một chùm hoa lớn có thể có đến 2.500-
3000 hoa đực. Hoa cao su hình chuông nhỏ
, dài
từ 3,5 – 8,0 mm, màu vàng nhạt, mùi hương
thoang thoảng.
Cây cao su từ 5-6 tuổi trở lên bắt đầu trổ hoa
và thường mỗi năm trổ một lần vào tháng 2-3 dương lịch trong điều kiện khí hậu ở
miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên đôi khi cũng trổ bông rải rác trông năm, thường vào
những lúc cây mọc lá non.
b. Hạt
Hình bầu dục hay tròn, đường kính khoảng 2
cm,màu nâu nhạt, có vân nâu đạm hơn ,lưng
tròn, bụng hẹp, bên trong vỏ
cứng có nhân hạt
gồm hai phần chủ yếu là phôi nhủ và cây mầm,
hạt cao su nảy mầm hạ địa.

Hình 6: Hoa cao su
Hình 7: Hạt cao su
Hệ Thống Canh Tác Mô Hình Xen Canh Cây Họ Đậu Trong Vườn Cao Su
SVTH: Bùi Đức Anh Trang
10
Hình 8: Hoa, Quả, Hạt, Lá cao su
c. Quả
Quả cao su là quả nang gồm 3 ngăn, mỗi
ngăn chứa một hạt và trong thực tế hiếm thấy có
quả cao su chứa ít hơn 3 hạt. Hình tròn hơi dẹp

b. Độ dốc: Đất bằng phảng hoặc dốc dưới 8% (hay 5
o
) là tốt nhất, từ 8- 16% nên
trông theo đường đồng mức, cao hơn 25% nhất thiết phải làm bậc thang. Đất
càng dốc thì việc đi lại của công nhân càng khó khăn.
c. Độ sâu: Đất càng sâu càng tốt ví rễ trụ ăn sâu.
Hệ Thống Canh Tác Mô Hình Xen Canh Cây Họ Đậu Trong Vườn Cao Su
SVTH: Bùi Đức Anh Trang
11
d. Lí tính: cấu trúc đất nên trung bình đến nhẹ, thoát nước tốt, cần đủ thành phần
sét là chất keo giữ ẩm và giữ màu.
e. Hóa tính:
- Đạm (N): hàm lượng tốt nhất là 0,15% đến 0,20% với tỷ lệ C/N vào khoảng
10-12.
- Lân (P): tổng lượng P trong đất khoảng 150-180 ppm ở đất xám và khoảng
2.000 đến 3.000 ppm ở đất đỏ.
- Độ pH: 4,5 đến 5,5 là phù hợp nhất.
g. Điều kiệ
n kinh tế xã hội: Có trục đường giao thông, có sắn nước hoặc gần nguồn
nước, có đủ nhân lực, có khó hậu trong lành.
II.1.3.3. Tăng trưởng của cây cao su
Ngay sau khi trồng, dù là cây thực sinh hay cây ghép, trong 1,5 đến 2 năm đầu tiên,
cây cao su non phát triển do sự hình thành các tầng lá mới từ chồi ngọc của thân chính
cho nên cây chỉ có một thân chính. Sự phân cành xuất hiện đầu tiên khi cây có được
tầng lá thứ 9 hoặc thứ 10, lúc ấy cây được khoảng 2 tuổi và có chiều cao khoả
ng 2m.
Nhịp độ tăng trưởng nghĩa là tốc độ tăng vanh thân cây là một đặc tính di truyền
của giống cây nhưng chịu ảnh hưởng của môi trường và điều kiện chăm sóc. Trên các
vườn cây thực sinh, mức độ đồng đều về tăng trưởng giữa các cây trong khi đó trên
các vườn cây ghép, do mang cùng một đặc tính di truyền của cây mẹ và cây cha, nên

này sẽ tự hủy sau 2-3 năm. Cách làm này ít tốn kém và có thể triển khai nhanh nhưng
lại gây khó khăn cho việc trồng và chăm sóc vườn cây mới, nhất là khi mật độ trồng
lại không giống với mật độ trồng trước đó. Ngoài ra, phương pháp này chỉ thực hiệ
n
được ở những nơi chắc chắn là không có bệnh rễ cao su.
Tóm lại, công tác khai hoang càng đảm bảo chất lượng thì việc chăm sóc vườn cây
sau này càng thuận lợi và ít tốn kém.

II.2.2. Thiết kế vườn cao su
II.2.2.1. Phân lô
Ở các nông trường nhà nước, vườn cây thông thường được phân lô, mỗi lô khoảng
25 ha. Nếu phân lô quá nhỏ sẽ lãng phí diện tích đất cho các trục đường di chuyển
giữa các lô, nhưng nếu quá lớn sẽ gây khó khăn cho vấn đề quả
n lý lao động và kiểm
soát trộm cắp trong lô. Hình dạng lô thì có thể nói là khá đa dạng vì nó còn tùy thuộc
vào địa hình, nhưng thường là hình vuông 500x500 m.

Hệ Thống Canh Tác Mô Hình Xen Canh Cây Họ Đậu Trong Vườn Cao Su
SVTH: Bùi Đức Anh Trang
13
II.2.2.2. Chống xói mòn
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, hiện tượng xói mòn, rửa trôi xảy ra rất nhanh
ngay sau khi thảm thực vật tự nhiên bị đốn hạ, mức độ xói mòn xảy càng nghiêm trọng
trên các đất dốc, các sườn đồi. Hiện tượng này làm thoái hóa đất do hầu hết chất dinh
dưỡng bị cuốn trôi. Ở Tây Nguyên, hằng năm xói mòn làm mất đi trung bình 120-180
tấn đất mặt/ha cùng với tỉ
lệ lớn các chất dinh dưỡng.

không khí trong vườn cây tạo điều kiện cho các loại nấm bệnh phát triển - yếu tố này

ng làm giảm năng suất cây. Trong điều kiện đất Việt Nam, mật độ trồng phổ biến
đang được ứng dụng thống nhất là từ 476 cây/ha (7x3 m) đến tối đa là 555 cây/ha (6x3
m). Tai Malaysia thường trồng với mật độ 448 cây/ha được bố trí với khỏang cách
24x10 ft (7,3x3 m) hoặc là 20x12 ft (6x3,66 m).

Cách bố trí hàng kép với khoảng cách lớn giữa các hàng thường thường dùng để
trồng xen các loại cây khác như
: cà phê, trà, ca cao, cây ăn trái, …
Sau khi đã xác định khoảng cách trồng, cần phải phóng dây và đánh dấu bằng cọc
tre trên thực địa để đảm bảo hàng trồng được “ngay hàng thẳng lối”.
A = khoảng cách thông dụng: 6-7x3 m, B = hàng kép
Hình 10: Sơ đồ các kiểu bố trí hàng
Hệ Thống Canh Tác Mô Hình Xen Canh Cây Họ Đậu Trong Vườn Cao Su
SVTH: Bùi Đức Anh Trang
15
Công việc kế tiếp là đào hố, mục tiêu của quá trình này là tạo ra một lớp đất tơi xốp

15 cm để bảo vệ đất bằng cách dùng máy cắt cỏ hạn chế nó phát triển.Hệ Thống Canh Tác Mô Hình Xen Canh Cây Họ Đậu Trong Vườn Cao Su
SVTH: Bùi Đức Anh Trang
16
Hình 12: Vườn cao su đã được tỉa cành
II.2.3.2. Bảo vệ tược ghép, xới, váng, tủ gốc
- Bảo vệ tược ghép: do tược ghép mới phát
triển rất mong manh nên cần bảo vệ. Thông
thường người ta dùng máng tre cắm cách gốc
ghép 5 cm.
- Xới váng và tủ gốc: nhằm hạn chế sự thoát
nước vào mùa khô. Trong mô hình cao su – đậu
này thì sau khi thu hoạch đậu vào cuối mùa
mưa, người ta sẽ tủ xác thân đậu vào gốc cao
su.

II.2.3.3. Dặm, cắ
t tỉa chồi dai, chồi ngang, tạo tán
- Trong hai năm đầu thấy cây nào chết là
dặm vào bằng những cây đã ghép, cùng tuổi,
cùng dòng vô tính đã dự trữ sẵn trong vườn
ương.
- Cắt tỉa chồi dại: đây là các chồi phát triển
dưới mắt ghép cần cắt bỏ để tránh ảnh hưởng
đến sự phát triển chồi ghép.
- Tỉa chồi ngang: Trong quá trình cây phát
triển, các chồi mọc thấp hơn 2,0-2,5 m sẽ bị
loại

nhân hoặc người dân địa phương để t
ạo nguồn thu nhập phụ cho họ, nông trường chỉ
kiểm tra việc tủ xác đậu vào gốc cao su sau mùa thu hoạch.
Hình 14: Mặt cắt ngang mô hình xen canh
Hình 13: Sơ đồ trồng xen
Hệ Thống Canh Tác Mô Hình Xen Canh Cây Họ Đậu Trong Vườn Cao Su
SVTH: Bùi Đức Anh Trang
18
Đối với các vùng xa khu vực dân cư và vị trí đóng của nông trường, loại cây được
sử dụng sẽ là cây tạo thảm phủ họ đậu thay vì các giống đậu sản xuất.
Loại thảm phủ thường được trồng là Pueraria phaseoloides (kudzu), ưu điểm
của loại cây này là trong mùa nắng chúng vẫn còn giữ được độ che phủ 70-80%.
Các tác dụng đạt được từ việc trồng cây tạo thảm phủ
họ đậu:
- Chống xói mòn: do loài cây này thường phát triển nhanh, cành lá sum xuê, bò lan
bao phủ mặt đất tạo thành một thảm thực vật chống xói mòn hữu hiệu. Mặt khác, đất
không có thảm thực vât bao phủ trong điều kiện khí hậu ở nước ta sẽ chịu 2 điều bất
lợi:
+Lớp dinh dưỡng bề mặt sẽ bị ánh sáng mặt trời thiêu hủy và bốc hơi rất nhanh.
Theo Bouychou, vào lúc nắng gắ
t, nhiệt độ nhiệt độ đất ở chiều sâu 10 cm lên đến 48-

Các nghiên cứu về
ảnh hưởng của các loại cây thảm phủ họ đậu trên đất trồng cho
các kết quả như sau:
Ảnh hưởng của thảm phủ đối với lý tính của đất:

Nguồn: RRIV 1995

- Diệt cỏ dại: ngay sau khi thực bì lớn che thảm phủ bị đốn hạ thì lập tức các loại
cỏ dại lập tức xuất hiện và phát triển nhanh, trong đó cỏ tranh chiếm 70-80% diện tích
cỏ dại.
Việc trồng thảm phủ diệt cỏ tranh (một loại cỏ gây nguy hại lớn cho cao su) là biện
pháp có hiệu quả kinh tế và đã được các nước trồng cao su trên thế giới áp dụng rộng
rải. Các diện tích cao su KTCB có trồng cây thảm phủ họ đậu ở giữa hàng, khi cây
thảm phủ phát triển tốt sẽ đảm bảo không còn cỏ dại.
- Một số ảnh hưởng củ
a cây thảm phủ họ đậu trên cây cao su:
Giúp cao su non tăng trưởng nhanh, rút ngắn thời gian KTCB,nâng cao sản lượng
khi đưa vào khai thác.
Chỉ tiêu Không thảm Thảm Pueraria phaseoloides
Ẩm độ (%) 4,44 5,21
Độ ẩm bão hòa 19,39 21,75
Dung trọng 1,44 1,36
Tỉ trọng 2,56 2,95
Độ xốp 34,76 47,69
Hệ Thống Canh Tác Mô Hình Xen Canh Cây Họ Đậu Trong Vườn Cao Su
SVTH: Bùi Đức Anh Trang
2
0
Ảnh hưởng của thảm phủ (thí nghiệm so sánh ảnh hưởng của thảm phủ hỗn hợp
Puereria phaseoloides và Centrosema pubescens, với thảm thực vật tự nhiên – Dunlop


Hình 16:Thảm phủ Pueraria phaseoloides (kudzu)
ở hu
y
ệnTân U
y
ên
(
Bình Dươn
g)
Hệ Thống Canh Tác Mô Hình Xen Canh Cây Họ Đậu Trong Vườn Cao Su
SVTH: Bùi Đức Anh Trang
2
1
Ảnh hưởng của cây thảm phủ đối với thời gian cạo mủ, sản lượng và khấu hao vốn:

Thời gian mở
cạo (tháng)
Sản lượng cộng
dồn (kg/ha)
Tiền lãi (%)
Hình thức phủ
A B A B A B
Thảm phủ họ đậu 61 56 9096 10619 125,80 137,34
Cỏ dại 68 59 7371 9369 88,75 11,82
Mikania 80 63 6365 9615 62,6 112,27
Thực vật tự nhiên 68 67 7895 9028 100 100

Ghi chú: A: đất Malacca, trồng mới, giống RRIM 623 cạo 7 năm
B: đất phiến thạch, tái canh, giống PBIG, cạo 8,5 năm.

tháng 10-11.
Năm thứ nhất đế
n năm thứ 4 bón theo tán lá.
Từ năm thứ 5 trở đi bón theo băng, rộng 1 m giữa hai hàng cao su đã sạch cỏ. Rạch
được xới sâu 5-10cm, để cho phân xuống, sau đó lấp đất lại.
Rễ cao su nhiều, ăn nông và ăn lên, vì vậy không cần thiết phải xẻ rãnh quá sâu để
bón phân.
Lượng phân bón thay đổi tuỳ thuộc vào loại đất và mật độ cây. Cao su trồng trên
đất đỏ với mật độ 555 cây/ha được khuyến ngh
ị lượng phân bón như sau (đơn vị tính
là g/gốc):

Thời gian N P
2
O
5
K
2
O
Năm 1 33g(72 g urê) 36g ( 120g apatit) 16g ( 27g KCl)
Năm 2 66 (144g - ) 72g( 341g -) 24g( 40g -)
Năm 3 99 (216 g - ) 108g ( 360g- ) 36g( 60g -)
Năm 4 132 ( 288g - ) 145g ( 486g - ) 46g ( 77g -)
Năm 5 165 ( 360g - ) 180g (603g -) 54g ( 90g - )
Năm 6 165 ( 360g - ) 180g ( 603- ) 54g ( 90g - )
Ở trên đất xám lượng phân tăng lên khoảng 20%.
Hệ Thống Canh Tác Mô Hình Xen Canh Cây Họ Đậu Trong Vườn Cao Su
SVTH: Bùi Đức Anh Trang
2
3

Hệ Thống Canh Tác Mô Hình Xen Canh Cây Họ Đậu Trong Vườn Cao Su
SVTH: Bùi Đức Anh Trang
2
4
II.3.2. Hiệu quả kinh tế
II.3.1.1. Đối với cây cao su
Trong các ngành công nghiệp chế biến, nguyên liệu do cây cao su cung cấp khá đa
dạng:
- Mủ cao su (Latex): là nguyên liệu không thể thiếu cho các ngành công nghiệp sản
xuất vật dụng hằng ngày, có hàng vạn mặt hàng làm từ cao su nhưng người ta thường
chia các công dụng ra làm 5 nhóm chính:
+Cao su vỏ ruột xe: xe đạp, xe máy, xe xích lô, xe hơi du lịch… nhóm này quan
trọng bậc nhất và sử dụng khoảng 70% lượng cao su thiên nhiên trên thế giới.
+Cao su trong công nghiệp dùng làm ống d
ẫn, băng chuyền, băng tải, cao su thắng,
cao su gạo, đệm giảm sốc, sản phẩm chống mài mòn. Nhóm này chiếm khoảng 7%.
+Quần áo, giày dép, áo mưa, vải che nắng, vải không thấm nước, áo tắm, mũ, ủng,
phao bơi lội, ca-nô… nhóm này chiếm khoảng 8%.
+Cao su xốp dùng làm gối đệm chống xốc như gối đệm cầu, thảm trải sàn nhà, gối
đệm nhà chống động đất, nhóm này chiếm khoảng 5%.
+Một s
ố nhóm khác như: dụng cụ y tế, dụng cụ giải phẫu, thể dục thể thao, dây
thun, chất cách điện, dụng cụ nhà bếp, tiện nghi gia đình,nhiều loại keo và nhựa dán…
nhóm này chiềm khoảng 10%.
80% cao su được dùng để kết hợp vải bố và kim loại, cao su gắn chặt chẽ với gang
thép: mốn tiêu thụ 100 tấn thép thì phải sử dụng kèm theo ít nhất 1,5 tấn cao su, đặc
biệt cao su gắn liền v
ới các loại xe cộ tàu bè… cảu ngành giao thông vận tải , khi máy
nổ được dùng phổ biến làm động cơ, phải cần đến:
-800 kg cao su để chế tạo một máy kéo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status