Tài liệu Đề tài " Công ty hợp danh, chế độ pháp lý thành lập hoạt động " - Pdf 98



Luận văn Đề Tài:Công ty hợp danh, chế độ pháp lý
thành lập hoạt động

§ç H÷u ChiÕn LuËt kinh doanh 41 - A
1

LỜI NÓI ĐẦU.

Sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trường nước ta từ tập trung bao
cấp sang phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần tạo nên bước
ngoặt lớn trong sự đi lên của nền kinh tế đất nước, trong thời kỳ quá độ lên
Chủ nghĩa xã hội. Sự chuyển đổi này có ý nghĩa quan trọng tạo tiền đề cho
công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay.
Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết cho tình hình mới của nền kinh tế đất
nước, đó là nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, cần phải có sự
thay đổi căn bản về pháp luật kinh doanh, điều chỉnh môi trường hoạt động
kinh doanh cho phù hợp với xu thế mới của đất nước cũng như trên thế

thoả thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của họ nhằm tiến hành
các hoạt động để đạt mục tiêu chung.
Sự ra đời của công ty gắn chặt với sự ra đời và phát triển của nền
kinh tế thị trường. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường tạo ra sức cạnh
tranh lớn. Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng
khốc liệt như vậy buộc các nhà tư bản phải tìm mọi cách để giảm thiểu chi
phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao năng suất lao động, chất
lượng sản phẩm không ngừng được nâng cao để có thể đứng vững trên thị
trường. Để làm được điều này các nhà tư bản đã kéo dài thời gian lao động
của công nhân để tăng khối lượng sản phẩm. Tuy nhiên cách làm này
không phải là tối ưu vì thời gian trong ngày là có hạn hơn nữa việc kéo dài
ngày lao động gặp phải sự kháng cự ngày càng lớn của công nhân do đó
phương thức này chỉ áp dụng giai đoạn đầu. Sự phát triển của khoa học
công nghệ cho thấy áp dụng những thành tựu này vào lĩnh vực công nghiệp
là tối ưu hơn cả trong việc nâng cao năng xuất lao động, hạ giá thành sản
phẩm cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm và các nhà tư bản đã chọn
phương thức này. Nhưng để làm được việc này cần phải có vốn đầu tư ban
đầu lớn, điều này chỉ có những nhà tư bản lớn mới có thể tự mình thực hiện
được, còn các nhà tư bản vừa và nhỏ sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc áp
dụng các thành tựu công nghệ do có vốn hạn hẹp. Vì vậy khả năng cạnh
tranh với các nhà tư bản lớn là gần như không thể dẫn tới thua lỗ, phá sản
là không tránh khỏi. Để khắc phục yếu điểm về vốn, các nhà tư bản vừa và
nhỏ có sự hợp tác, liên minh với nhau bằng cách góp vốn, khả năng của họ
§ç H÷u ChiÕn LuËt kinh doanh 41 - A
3

để có thể đứng vững được trên thị trường. Sự liên kết này đã tạo nên nền
tảng cho sự ra đời của công ty.
Khoa học công nghệ ngày càng phát triển hơn đã thúc đẩy nền kinh
tế tư bản phát triển một cách vựơt bậc. Trong hoạt động kinh tế có nhiều


hạn về thời gian tồn tại, về quyền hạn, về nghĩa vụ và các hoạt động được
ấn định trong điều lệ”.
Theo luật của bang Lousiana – Mỹ “một công ty là một thực thể
được tạo ra bởi luật định bao gồm một hoặc nhiều cá thể dưới một tên
chung. Những thành viên có thể kế nghiệp lẫn nhau, vì thế công ty là một
khối thống nhất. Tuy nhiên sự thay đổi của những các thể trong công ty cho
một mục đích cụ thể nào đó được xem xét như một con người cụ thể”.
Qua một số khái niệm trên ta thấy chúng có những nét tương đồng,
bên cạnh đó cũng có những điểm khác nhau. Nhưng tổng hợp chung lại có
khái niệm tổng quát như sau:
“Công ty là sự liên kết của hai hay nhiều người (cá nhân hay pháp
nhân) bằng một sự kiện pháp lí trong đó các bên thoả thuận với nhau sử
dụng tài sản hay khả năng của họ nhằm tiến hành các hoạt động để đạt mục
tiêu chung”.
2.2. Đặc điểm chung của công ty:
Qua nghiên cứu quá trình ra đời và phát triển, cũng như qua các
quan niệm khác nhau về công ty nhưng nhìn chung có thể thấy công ty có
những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, công ty phải do hai chủ thể trở lên liên kết thành lập.
Việc liên kết này giữa các chủ thể được thực hiện thông qua một sự kiện
pháp lí như điều lệ công ty, hợp đồng hợp tác trong đó các bên có sự thoả
thuận, kí kết cùng thực hiện.
Thứ hai, các thành viên phải đóng góp có tính chất tài sản vào công
ty. Trong đó ngoài các loại tài sản bằng hiện vật như tiền, đất đai, nhà
xưởng, kho bãi, có thể đóng góp bằng những loại khác mang tính chất tài
sản vô hình như bằng công sức (khả năng), uy tín kinh doanh hay các giá
trị tinh thần khác.
Thứ ba, công ty được thành lập thông qua sự thoả thuận nhất trí của
các thành viên nhằm thực hiện hoạt động nào đó để đạt được mục đích

mỗi thành viên phụ thuộc vào phần vốn góp của họ, điều này cũng tương
đương với việc gánh vác nghĩa vụ. Công ty đối vốn là công ty có tư cách
pháp nhân. Một công ty đối vốn hiện nay như công ty TNHH, công ty cổ
phần.
4. Một số mô hình công ty hợp danh trên thế giới.
Công ty là loại hình công ty phát triển phổ biến ở các nước có nền
kinh tế thị trường phát triển như Đức, Mỹ

§ç H÷u ChiÕn LuËt kinh doanh 41 - A
6

§ç H÷u ChiÕn LuËt kinh doanh 41 - A
7

II. CÔNG TY HỢP DANH, QUY CHẾ PHÁP LÍ THÀNH LẬP VÀ
HOẠT ĐỘNG Ở VIỆT NAM.
1. Khái niệm, đặc điểm công ty hợp danh.
1.1. Khái niệm công ty hợp danh.
Công ty hợp danh là loại hình công ty đối nhân trong đó phải có ít
nhất hai thành viên hợp danh trở lên và các thành viên hợp danh phải chịu
trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của doanh nghiệp.

1.2. Các đặc điểm của công ty hợp danh.
- Phải ít nhất có hai thành viên hợp danh, ngoaì các thành viên hợp
danh có thể có các thành viên góp vốn.
- Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy
tín nghề nghiệp, phải chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của công ty.
- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công
ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty.
- Công ty hợp danh không được phát hành chứng khoán (cổ phiếu, trái

Việc thành lập công ty hợp danh tuân theo đúng trình tự nêu trên.
2.1.1. Hồ sơ đăng kí kinh doanh đối với công ty hợp danh.
Được quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày
03/02/2000 bao gồm:
- Đơn đăng kí kinh doanh lập theo mẫu do Bộ Kế hoạch và Đầu tư
quy định
- Điều lệ công ty .
- Danh sách thành viên hợp danh.
Đối với công ty kinh doanh các ngành, nghề đòi hỏi phải có vốn
pháp định thì phải có thêm xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc
chứng chỉ hợp pháp chứng minh về số vốn của công ty.
Đối với công ty kinh doanh các ngành nghề phải có chứng chỉ hành
nghề thì phải có thêm bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của các thành
viên hợp danh.
2.1.2. Trình tự và thủ tục đăng kí kinh doanh.
Theo Điều 8 Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 trình tự
và thủ tục đăng kí kinh doanh đối với công ty hợp danh như sau:
§ç H÷u ChiÕn LuËt kinh doanh 41 - A
9

Người thành lập doanh nghiệp hoặc người đại diện nộp đủ hồ sơ
nêu trên tại Phòng đăng kí kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở
chính. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm về
tính chính xác, trung thực của nội dung hồ sơ đăng kí kinh doanh. Phòng
đăng kí kinh doanh cấp tỉnh không đựơc yêu cầu người thành lập doanh
nghiệp nộp thêm bất cứ giấy tờ nào khác ngoài hồ sơ nêu trên. Phòng đăng
kí kinh doanh cấp tỉnh thực hiện việc tiếp nhận đơn, hồ sơ đăng kí kinh
doanh và phải giao giấy biên nhận về việc nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ.
Phòng đăng kí kinh doanh cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh
doanh cho doanh nghiệp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ nếu:

Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh do Phòng đăng kí kinh doanh
cấp tỉnh cấp có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc.
2.2. Địa vị pháp lí của công ty hợp danh.
2.2.1. Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh.
Theo quy định của Điều 27 Nghị định 03/2000/NĐ-CP ngày
03/02/2000 các thành viên hợp danh có quyền và nghĩa vụ sau:
- Thành viên hợp danh có quyền:
+ Tham gia thảo luận và biểu quyết về tất cả các công việc của công
ty.
+ Được chia lợi nhuận theo thoả thuận quy định trong điều lệ công
ty.
+ Trực tiếp tham gia quản lí hoạt động kinh doanh của công ty.
+ Sử dụng tài sản của công ty để phục vụ cho lợi ích của công ty;
được hoàn trả lại mọi khoản chi đã thực hiện để phục vụ lợi ích của công
ty.
+ Các quyền khác quy định trong điều lệ công ty.
- Thành viên hợp danh có nghĩa vụ:
+ Góp đủ số vốn đã cam kết vào công ty.
+ Chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ
của công ty.
+ Trường hợp kinh doanh bị thua lỗ thì phải chịu lỗ theo nguyên tắc
quy định trong điều lệ công ty.
+ Khi quản lí hoặc thực hiện hoạt động kinh doanh nhân danh công
ty hoặc đại diện cho công ty phải hành động một cách trng thực, mẫn cán,
phục vụ lợi ích hợp pháp của công ty.
+ Chấp hành nội quy và quyết định của công ty.
+ Thành viên hợp danh không được đồng thời là thành viên hợp
danh của công ty hợp danh khác hoặc chủ doanh nghiệp tư nhân.
§ç H÷u ChiÕn LuËt kinh doanh 41 - A
11

Các vấn đề về tổ chức quản lý công ty hợp danh được qui định tại
Điều 29 Nghị định số 03/2000/NĐ-CP nội dung như sau:
§ç H÷u ChiÕn LuËt kinh doanh 41 - A
12

- Hội đồng thành viên gồm tất cả các thành viên hợp danh, là cơ quan
quyết định cao nhất của công ty. Hội đồng thành viên quyết định tất cả các
hoạt động của công ty. Khi biểu quyết, mỗi thành viên hợp danh chỉ có một
phiếu.
- Quyết định về các vấn đề sau đây phải được tất cả các thành viên
hợp danh có quyền biều quyết chấp nhận:
+ Cử giám đốc công ty.
+ Tiếp nhận thành viên.
+ Khai trừ thành viên hợp danh.
+ Bổ sung, sửa đổi điều lệ công ty.
+ Tổ chức lại, giải thể công ty.
+ Hợp đồng của công ty hợp danh, người có liên quan của thành
viên hợp danh.
- Quyết định về những vấn đề khác phải được đa số thành viên hợp
danh chấp nhận.
- Tất cả các quyết định của Hội đồng thành viên phải được ghi vào sổ
biên bản và phải được lưu giữ tại trụ sở chính của công ty.
- Trong quá trình hoạt động, các thành viên hợp danh phân công đảm
nhiệm các chức trách quản lý và kiểm soát hoạt động của công ty và cử một
người trong số họ làm giám đốc.
- Thành viên hợp danh chủ động thực hiện công việc được phân công
nhằm đạt được mục tiêu của công ty; đại diện cho công ty trong đàm phán,
ký kết hợp đồng thực hiện các công việc được giao; đại diện cho công ty
trước pháp luật và cơ quan nhà nước trong phạm vi công việc được phân
công.

+ Bị khai trừ khỏi công ty.
- Trong trường hợp chấm dứt tư cách thành viên theo qui định tại hai
điểm trên thì công ty vẫn có quyền sử dụng tài sản tương ứng với trách
nhiệm của người đó để thực hiện các nghĩa vụ của công ty.
- Trường hợp tư cách thành viên chấm dứt theo qui định tại hai điểm
cuối ở trên thì người đó phải liên đới chịu trách nhiệm về nghĩa vụ của
công ty đã phát sinh trước khi đăng ký việc chấm dứt tư cách thành viên đó
với cơ quan đăng ký kinh doanh.
- Tư cách thành viên chấm dứt khi thành viên đó chuyển nhượng phần
vốn góp của mình cho người khác.
2.3.3. Rút khỏi công ty.
Thành viên hợp danh được quyền rút khỏi công ty nếu được đa số
thành viên hợp còn lại đồng ý. Khi rút khỏi công ty phần vốn góp được
hoàn trả theo giá thoả thuận hoặc theo giá được xác định dựa trên nguyên
tắc qui định trong điều lệ công ty. Sau khi rút khỏi công ty người đó vẫn
phải liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty trước khi đăng
§ç H÷u ChiÕn LuËt kinh doanh 41 - A
15

ký rút khỏi công ty, chấm dứt tư cách thành viên với cơ quan đăng ky kinh
doanh. Trường hợp tên của thành viên đã rút khỏi công ty được sử dụng để
đặt tên công ty thì người đó có quyển yêu cầu công ty đổi tên.
Thành viên góp vốn có quyền rút phần vốn góp của mình ra khỏi
công ty nếu được đa số thành viên hợp danh đồng ý. Việc chuyển nhượng
phần vốn góp của thành viên góp vốn cho người khác được tự do thực hiện,
trừ trường hợp điều lệ công ty qui định khác.
3. Thực trạng và một số hạn chế về qui chế pháp lý thành lập và
hoạt động công ty hợp danh.
3.1. Nhận xét, đánh giá chung về thực trạng hoạt động của công ty hợp
danh hiện nay ở Việt Nam.

là loại hình công ty đối nhân tức là việc thành lập dựa trên cơ sở quan hệ
thân thích là chính, vốn là yếu tố phụ, còn các doanh nghiệp kể trên thuộc
loại hình doanh nghiệp đối vốn tức là việc thành lập dựa trên cơ sở góp vốn
giữa các thành viên, vấn đề quan hệ là thứ yếu. Công ty hợp danh chịu
trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của công ty , còn các loại hình doanh
nghiệp kể trên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp
vào công ty. Như vậy, về lý thuyết thì khả năng thực hiện nghĩa vụ của
công ty hợp danh là tốt hơn các doanh nghiệp khác, tạo ra được uy tín, tín
nhiệm cao hơn trong hoạt động kinh doanh.
Thứ ba là so với các qui chế pháp lý về loại hình công ty hợp danh,
ở một số nước phát triển ta thấy tương đối giống tuy nhiên còn có một số
điểm khác như: việc một số nước qui định bắt buộc phải thành lập công ty
hợp danh đối với một ngành nghề đòi hỏi trách nhiệm cao như luật sư, y tế,
kiểm toán còn ở nước ta không có những qui định bắt buộc này.
Thứ tư công ty hợp danh là loại hình công ty đối nhân, việc thành
lập dựa trên cơ sở quan hệ thân thích là chủ yếu, phần vốn góp là thứ yếu.
Như vậy đối với Việt Nam, đất nước mang đậm tập quán phương đông, coi
trọng tình nghĩa thì việc loại hình doanh nghiệp này có thể rất phát triển
trong tương lai. Tuy nhiên hiện nay loại hình doanh nghiệp này còn rất ít ở
nước ta có thể do đây là loại hình doanh nghiệp mới, còn ít người biết đến.
Vấn đề thực trạng hoạt động của số ít loại hình doanh nghiệp này như thế
nào thì ở đây chưa thể đưa ra câu trả lời chính xác.

§ç H÷u ChiÕn LuËt kinh doanh 41 - A
17

3.2 . Một số hạn chế của qui chế pháp lý về công ty hợp danh.
Qua nội dung trình bày ở trên ta có thể thấy được khái quát chung
về qui chế pháp lý thành lập và hoạt động của công ty hợp danh. Nhưng
thực tế cho thấy số công ty hợp danh ở nước ta rất hạn chế, nguyên nhân có


Thứ ba, theo khoản 2 Điều 97 Luật Doanh nghiệp qui định: “Các
thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề của
công ty”. Công ty hợp danh là công ty đối nhân, quan hệ giữa các thành
viên là chủ yếu, phần vốn góp là thứ yếu tuy nhiên với bất kỳ loại hình
doanh nghiệp nào thì khả năng thực hiện các nghĩa vụ trong hoạt động kinh
doanh vẫn là yếu tố quan trọng nhất, qui định trên có thể tạo sự bình đẳng
đối với các thành viên khi quyết định các vấn đề liên quan đến công ty
nhưng nó gây ra sự thiếu công bằng đối với thành viên có số vốn góp lớn
hơn.
Thứ tư, theo khoản 1 Điều 95 Luật Doanh nghiệp, một trong những
điều kiện để thành lập doanh nghiệp hợp danh là phải có ít nhất hai thành
viên hợp danh. Qui định này tỏ ra cứng nhắc bởi qui định về công ty hợp
danh ở một số nước như Mỹ, Thái Lan công ty hợp danh có thể được
thành lập bởi một thành viên hợp danh và một thành viên góp vốn trở lên.
Loại hình doanh nghiệp này có thể gọi là công ty hợp danh hữu hạn, ở một
số nước khác gọi là công ty hợp vốn. Như vậy không nhất thiết công ty hợp
danh phải có ít nhất hai thành viên hợp dạnh trở lên như qui định ở Điều 95
khoản 1.

III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰN HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ
THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY HỢP DANH.
1. Khả năng hoạt động của công ty hợp danh trên thị trường và
triển vọng phát triển loại hình doanh nghiệp này ở Việt Nam.
Như đã phân tích ở trên những ưu điểm của loại hình công ty hợp
danh như khả năng huy động vốn lớn, là công ty có trách nhiệm vô hạn về
các nghĩa vụ nên có uy tín lơn trong hoạt động kinh doanh của mình, khả
năng được các đối tác tin tưởng, quan hệ kinh doanh cao Hơn nữa loại
hình doanh nghiệp này được thành lập trên cơ sở quan hệ họ hàng, thân
thích giữa các thành viên là chủ yếu. Đối với Việt Nam, đất nước mang

đề liên quan đến công ty so với các thành viên góp ít vốn hơn.
Thứ tư, cần có những qui định nới lỏng hơn về điều kiện thành lập
công ty hợp danh. Trong qui định thì điều kiện thành lập là phải có ít nhất
hai thành viên hợp danh trở lên thì có thể qui định lại là thành viên hợp
danh có một và có ít nhất một thành viên góp vốn trở lên, điều này có thể
tạo điều kiện dễ dàng hơn trong quá trình thành lập công ty hợp danh. §ç H÷u ChiÕn LuËt kinh doanh 41 - A
20 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

1. Luật Doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 12/6/1999.
2. Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 về đăng ký kinh doanh.
3. Nghị định 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật Doanh nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status