Tài liệu Đề tài " Kinh tế trọng điểm miền Bắc vững bứơc tới tương lai " - Pdf 98



Luận văn
Đề tài " Kinh tế trọng điểm miền Bắc vững
bứơc tới tương lai " 1

Kinh tế trọng điểm miền Bắc
vững bứơc tới tương lai.

A. NHỮNG THẾ MẠNH CỦA VÙNG.
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1.VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

thống đường bộ, hệ thống giao thông đường thuỷ tạo thuận lợi cho việc phát
triển kinh tế và xã hội.
D. DANH LAM THẮNG CẢNH.
Vùng có nhiều thắng cảnh thiên nhiên độc đáo( vịnh Hạ Long, đảo Cát Bà,
bán đoả Đồ Sơn), cùng các địa điểm du lịch lân cận như Đồng Mô- Ngải Sơn,
Côn Sơn- Kiếp Bạc, Chùa Hương, rừng Cúc Phương, Tam Cốc- Bích Động…
nổi tiếng của dân tộc ở Hà Nội, Hải Phòng, Hải
Dương, Quảng Ninh….có sức hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Đây là
lợi thế rất lớn để phát triển du lịch.

II. TÀI NGUYÊN NHÂN VĂN

Nguồn tài nguyên nhân văn của vùng cũng có những nét độc đáo. Vùng
kinh tế trọng điểm nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng- cái nôi của nền văn
minh lúa nứơc, có lịch sử hình thành sớm.
Lịch sử 4.000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta gắn liền với vùng
đất này. Trong vùng có rất nhiều tài nguyên văn hóa, lịch sử, những công trình
kiến trúc cổ như: đền vua Đinh, Lê, văn miếu Quốc Tử Giám, các làn điệu
dân ca quan họ Bắc Ninh… Nó đã nuôi dưỡng cho người dân nơi đây truyền
thống văn hoá, truyền thống yêu nứơc, truyền thống cần cù lao động.
Chính vì vậy mà chúng ta không quá ngạc nhiên khi biết trong vùng có số
người mù chữ trong độ tuổ lao động ít nhất cả nước:9.8%( so cả nước là
16.5%), số lao động có kỹ thuật cao nhất chiếm 14 % số người lao động ( cả
nước chỉ có 10% ),số cán bộ có trình độ đại học và cao đẳngchiếm 27% trong
tổng số của cả nứơc( vùng Đông Nam Bộ chỉ có 20.6%).
3

Nơi đây có mật độ dân số cao, cư dân trong vùng chủ yếu là người Kinh với
kinh nghiệm và truyền thống thâm canh lúa nước, xen gối vụ các loại hoa
mầu, các làng thủ công mỹ nghệ hoạt động vào thời gian nông nhàn. Vùng


cửa Cấm, cửa Nam Triệu… Hàng năm cần nạo vét một khối lượng lớn để
đảm bảo cho tàu thuyền ra vào.
Mùa bão lũ với những trận mưa lớn là nguyên nhân gây ra lũ trên sông. Về
mùa lũ, triều có ảnh hưởng ở vùng cửa sông. Khi triều lên, đoạn gần biển có
các dòng nước chảy ngược sông. ậ các đoạn sông trên, nứơc lũ và nước triều
gặp nhau gây ra hiện tượng dồn nước trên sông.
Vào mùa cạn từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau, lượng nước trên sông chỉ còn
20-30% lượng nước cả năm. Dòng chảy ngược khi triều lên mang theo nước
mặn vào khá sâu trong đất liền ( trên sông Hồng là 20 km, trên sông Thái
Bình là 40 km).
Ngoài ra đây còn là vùng đất chật, người đông, lao động thừa, việc làm
thiếu, là điểm xuất phát kinh tế thấp. Thu nhập bình quân đâù người thấp hơn
bình quân cả nước. Hệ thống thị trường còn lạc hậu, chưa đồng bộ. Hệ thống
tài chính còn sơ lược, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp còn ảnh hưởng đến
tâm lý, thói quen của cán bộ và nhân dân.Vấn đề thiếu vốn nghiêm trọng để
triển khai các hoạt động sản xuất kinh doanh, chưa có cơ chế tốt để huy động
sức vốn nhàn rỗi trong nhân dân. Hoạt động thương mại không phong phú, sử
dụng hợp lý cả đất đai và khí hậu, nước, tài nguyên sinh vật.
Về tài nguyên khoáng sản có khoảng gần 300 mỏ và điểm khoáng sản, đây là
con số không lớn. Hàng năm nguyên vật liệu nhập khẩu vào vùng chiếm
48.2% còn số nguyên vật liệu tại chỗ cho công nghiệp khoảng 20.3%, còn lại
là phải nhập từ vùng khác 31.4%.
Mức sống dân cư đô thị và nông thôn còn chênh lệch nhau lớn, thiếu sự liên
kết giữa các tỉnh, không tạo được sức mạnh tổng hợp cho phát triển.
6

Vùng Bắc bộ kể từ Thừa thiên- Huế trở ra có khoảng 36 triệu dân. Hiện
nay và trong tương lai gần, cuộc sống của đại bộ phận dân cư trông ccậy chủ
yếu vào sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp. Muốn phát triển nhanh phải có
động lực thíc đẩy mà trọng trách này thuộc về VKTTĐPB.
Trong vùng đã có hệ thống giao thông vận tải tương đối phát triển .Cấu
trúc nhiêu nghành với đường sắt, đường ô tô đường sông, đường biển, đường
hàng không, đường ống dẫn đã tạo nên mạng lưới dày kết hợp nhiều trong
không gian lãnh thổ của vùng với trung tâm qaun trọng là hà nội . Trong
mạng lưới này có nhiều trục và hướng đường có ý nghĩa chiến lược về kinh tế
và quốc phòng.
Hệ thống đường sắt được quy tụ tại hà nội, trung tâm của vùng với 1000
km , chiếm 1/3 chiều dàI đường sắt của toàn quốc từ hà nội, đường sắt toả ra
nhiều hướng. Quan trọng nhất trong hệ thống này là tuyyén đường sắt xuyên
Việt. Đoạn từ Hà nội đến đồng giao, Hà nội _ Đồng Đăng. Đoạn Hà Nội -
Đồng Giao là 134km qua 17 ga xuyên qua vùng lúa lớn với những thị xã,
thành phố quan trọng như phủ lí, Nam Định, Ninh Bình, một đoạn đường có
lưu lượng tàu qua lại từ phía bắc vào nam và ngược lại, lớn nhất trong hệ
thống đường sắt của cả nước.
Tuyến đường Hải Phòng –Hà Nội và Hà Nội –Lào Cai hợp thành tuyến
đường sắt Hải Phòng-Côn Minh, xuyên suốt dọc thung lũng sông hồng. Đoạn
hà nội –hải phòng 102km, nối liền cảng hải phòng, cửa xuất nhập khẩu lớn
nhất của vùng và thủ đô hà nội, trung tâm kinh tế chính trị văn hoá của vùng
và cả nước.Tuyến đường này đi qua thành phố công nghiệp hải dương đang
phát triển giữa vùng chuyên canh lúa tuy ngắn nhưng lại vận chuyển lượng
hàng hoá xuất nhập khẩu cao nhất trong vùng. Đay là tuyến đường huyết
mạch trong hệ thống đường sắt của ĐBSH.
Trong vùng đã hình thành mạng lưới đường ô tô qui tụ về trung tâm. Từ
Hà nội, mạng lưới đó toả ra theo nhiều hướng với các trục quan trọng chạy

vùng. Bên cạnh hai hệ thống trên , trong vùng còn hệ thống đường sông,
đường biển khá phát triển.
8

Dựa trên mạng lưới sông ngòi tương đối dày, nhất là hệ thống sông Hồng
và sông Thái Bình, trong vùng đã hình thành một hệ thống đường sông có ý
nghĩa kinh tế lớn. Các thành phố lớn, từ duyên hải đến tận trung du, miền núi
(Hải Phòng, Nam Định ,Hà Nội, Việt Trì, Bắc Giang Thái Nguyên…) Cho
đến các vùng chuyên canh nông nghiệp đều nằm trong mạng lưới đó. Mức
nước ở nhiều cửa sông của nhiều mạng lưới sông Hồng và sông Thái Bình có
thể cho phép tàu biển có trọng tải lớn vào sâu trong đất liền(Cửa Nam Triệu
có nhiều chỗ sâu trên 9m, mức nước sâu 2.5m đến tận Việt Trì và 1.5m đến
tận trung lưu còn ở thượng lưu chỉ có 0.6 m ) . Từ đây đã tạo ra các luồng
vận tải hành khách và hàng hoá theo nhiều hưống đến nhiều địa điểm khác
nhau.
Các luồng chở khách chính bao gồm:
Hà Nội- Thái Bình : 118 km , trong đó các bến chính: Hưng Yên( cách Hà
Nội 75km) Nam Định (108 Km) Hải Dương- Chũ :93 km với các bến Phả
Lại( 28 km), Lục Nam (61 km) và Chũ (93 km). Sơn Tây – Chợ Bờ( Hoà
Bình) : 113 km, qua 10 bến với các bến quan trọng Việt Trì, Hoà Bình, Chợ
Bờ. Hải Phòng- Bắc Giang: 107 km với nhiều bến trong đó có các bến Đông
Ttriều, Chí Linh, Phả Lại có ý nghĩa quan trọng nhất
Hải phòng – Cẩm Phả: 90 km (3/5 chiều dài đi ven bờ biển với các bến
Quảng Yên , Cát Hải, Hồng Gai, Cẩm Phả. Hải Phòng-Móng Cái:196km qua
các bế Hồng Gai, Cẩm Phả, Mũi Ngọc, Móng Cái( phần lớn đi theo đường
ven biển. Hải Phong- Nam Định :153km, từ sông Cấm sang sông Đuống về
sông Hồng đén bến Hới(Tiên Lữ- Hưng Yên)và phân thành hai luồng : một
luồng qua Hưng Yên đến Dốc Lã(140km), một đường đi Nam Định (153km)
Ngoài ra còn có các luồng chở hàng hoá Hà Nội – Hải Phòng:198 km
chuyên chở chủ yếu các sản phẩm công nghiệp vật liệu xây dựng lương thực

Hồng.Từ một địa điểm trên sông Cấm,cảng thông với sông Bạch Đằng để ra
cửa Nam Triệu.Với mức nước sâu trên 7m, tàu một vạn tấn có thể ra vào dễ
dàng. Đay là đầu mối của tuyến đường sắt Hà nội – Hải phòng và của nhiều
tuyến đường bộ, đường sông, đường hàng không, đường ống để xuyên vào
10

nội địa với nhiều hướng khác nhau. Hàng năm cảng có thể tiếp nhận 2 triệu
tấn hàng( trong tương lai còn lớn hơn). Từ cảng này, Đồng bằng sông Hồng
xuất ra các sản phâme quan trọng như: qụng kim loại, nông sản,lâm sản, hàng
công nghệ… và nhập vào nhiên liệu lỏng, thiết bị máy móc, hàng tiêu dùng,
lương thực thực phẩm, các phương tiện vận tải…Từ đây đã tạo ra được các
mối quan hệ kinh tế với các vùng phía nam và với các nước khác. Trong
tương lai cảng sẽ mở rộng để nâng cao năng lực tiếp nhận hàng hoá xuất nhập
khẩu với khối lượng lớn, đồng thời mở thêm tiền cảng Hòn Dấu.
Trên sông Bạch Đàng lịch sử, đoạn tử Quảng Yên ra cửa Nam Triệu có
khả năng thiết lập cảng mới có thể nhận tàu viễn dương và xây dựng them
đường sắt từ Uông Bí xuống Quảng Yên rồi ra cảng.Điều đó sẽ tạo thêm điều
kiện mới để mở rộng mối quan hệ kinh tế quốc tế của vùng.
Với các cảng trên , ĐBSH đã có hệ thống đường biển để tạo ra mối liên
kết kinh tế và quốc phòng giữa các vùng trong nước :Hải Phòng – Bến Thuỷ;
Hải Phòng - Đà Nẵng. Hải Phòng – Qui nhơn, Hải phòng – Sài gòn… hoặc
các tuyến đường biển quốc tế: Hải phòng –Hồng công; Hải phòng –Hà khẩu;
Hải phòng –Bắc hải; Hải phòng – Tôkyô; Hải phòng –Vladivôxtôc.
ĐBSH có mạng lưới đường tương đối phát triển, tạo điều kiện thuân lợi
cho việc liên hệ với các vùng trong và ngoài nước. Từ Hà nội có các đường
bay nội địa và quốc tế. Đáng lưu ý nhất là sân bay quốc tế nội bài.
Nằm ở phía bắc thành phố, sân bay quốc tế nội bài có đường bay dài nhất
và hệ thống viễn thông hiện đại nhất trong vùng, có thể tiếp nhận các loại máy
bay dân dụng và quân sự hạng nặng. Đó là sân bay quốc tế duy nhất trong
vùng và là một trong ba sân bay quốc tế của cả nước. Ngoài ra trong vùng còn

Công nghiệp ngoài
quốc doanh
659462 620091 649051 724300

Tỷ trọng lao động công nghiệp tuy chiếm32% nhưng mới chỉ sản xuất ra
khoảng 22% giá trị sản lượng công nghiệp của cả nước. Nguyên nhân cơ bản
là do sự phân công , quản lý lao động theo nghành và lãnh thổ của sản xuất
công nghiệp chưa hợp lí.
4. DỊCH VỤ.
12

Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ là một trung tâm thương mại lớn của cả nước.
Tổng mức bán lẻ chiếm 30%, xuất khẩu chiếm 18% so với cả nước, hàng
nhập khẩu chỉ có 11% so với cả nước.
Vùng là một trung tâm du lịch lớn của cả nước. Năm 2000 đã có 753000
lượt khách quốc tế và hơn 2 triệu lượt khách du lịch nội địa . Doanh thu du
lịch quốc tế đạt 92.5 nghìn $, có một số khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 3 đến 5
sao như : Dae-woo, Bảo sơn, Horison…
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Tăng tỷ trọng công nghiệp,
dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Đây là một chiều hướng tích cực.
D.NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC
BỘ

Phát triển Đồng Bằng Sông Hồng chính là phát triển nôi văn hoá cội nguồn
của dân tộc, tạo dựng một vùng lãnh thổ phát triển đi đầu trong nhiều lĩnh
vực, biểu hiện trình độ phát triển cao của Việt Nam trong bối cảnh phát triển
không ngừng của thế giới. Mục tiêu chung của Vùng kinh tế trọng điểm phía
Bắc là xây dựng vùng này trở thành một trong những vùng kinh tế phát triển
nhanh, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn với các vùng khác trong cả
nước.

HảI Phòng, Hạ Long với các nước trên thế giới và trong khu vực. Xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng gắn khai thác với tôn tạo, bảo vệ tài
nguyên du lịch, truyền thống văn hoá dân tộc.
 Đặc biệt, dịch vụ tài chính ngân hàng và viễn thông phải được hiện đại hoá
và đạt trình độ tiên tiến so với thế giới. Từng bước trở thành trung tâm dịch
vụ tàI chính lớn trong nước và khu vực.

III.VỀ NÔNG, LÂM, NGƯ NGHIỆP:
 Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đưa tỉ trọng chăn nuôI từ 36% hiện nay
lên 45% vào năm 2010. Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của các thành phố lớn. Các khu công
14

nghiệp tập trung, tạo nguồn nguyên liệu cho việc chế biến sản phẩm cao cấp
phục vụ xuất khẩu.
 Phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ, vùng rừng ngập mặn ven biển. Tăng
cường việc trồng cây xanh trong các đô thị và các khu công nghiệp.
 Đẩy mạnh việc nuôi trồng thuỷ, hải sản nước ngọt, nước lợ. Tăng cường
đánh bắt hảI sản xa bờ. Sớm hình thanh một số trung tâm dịch vụ nghề cá ở
vinh Bắc Bộ.

IV.VỀ KẾT CẤU HẠ TẦNG

 Kết hợp cải tạo, nâng cấp và xây dựng hệ thống cảng biển, sân bay. đường
sắt, đường bộ , đường thuỷ. Hoàn chỉnh hệ thống giao thông công cộng ở các
thành phố lớn.
 Nâng cao và xây sựng mạng luới điện tương ứng với nguồn điện, đáp ứng yêu
cầu của sản xuất và đời sống nhân dân.
 Hiện đại hoá mạng lưới thông tin liên lạc, cải tạo, nâng cấp và xây dựng hệ
thống cấp nước ở các đô thị lớn. Các khu công nghiệp tập trung.

số đô thị vệ tinh như Nội Bài (khoảng 3 000 ha và 14-15 vạn dân vào năm
2010), Hoà Lạc (khoảng 7 000 ha và 30 vạn dân vào năm 2010), v.v…
 Thành phố Hải Phòng tíêp tục giữ vai trò là một trong những đầu mối lớn
về giao lưu liên vùng và cửa ngõ mở ra thế giới của cả nước ở phía Bắc, trên
cơ sở phát huy tiềm năng và lợi thế về cảng, công nghiệp nặng, công nghiệp
nhẹ và dịch vụ. Không gian thành phố sẽ mở rộng ra vùng ven đô phía Nam
và Đông Nam: hình thành khu phố mới ở phía Bắc sông Cấm gắn với việc
xây dựng cầu Bính (thuộc khu vực Tân Dương, Vũ Yên của huyện Thuỷ
Nguyên). Dân số của thành phố vào năm 2010 khoảng 75 vạn dân, sau đó có
thể lên tới trên 1 triệu. Phát triển các điểm vệ tinh ở khu vực Minh Đức, Vật
Cách, Kiến An, Đình Vũ… để cùng với nội thành hình thành một chùm đô
thị.
16

 Thành phố Hạ Long trong tương lai có dân số khoảng 30 – 50 vạn người.
Đây là thành phố du lịch hàng đầu của cả nước, gắn với cảng biển lớn nhất ở
Bắc Bộ trong tương lai. Việc phát triển công nghiệp, cảng biển theo các mục
tiêu nêu trên.
 Phát triển các cụm đô thị Chí Linh – Phả Lại, Đông Triều – Mạo Khê với quy
mô mỗi cụm đô thị khoảng 30 – 35 vạn dân.

 VỀ CÁC TUYẾN TRỤC (HÀNH LANG) KINH TẾ:

Tuyến hành lang đường 5 có vai trò quan trọng trong các tuyến hành lang của
vùng này nói riêng và Bắc Bộ nói chung, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Ưu
tiên bố trí các ngành công nghiệp với công nghệ tiên tiến, đòi hỏi sử dụng
nhiều lao động, đặc biệt là lao động lành nghề, hạn chế việc sử dụng đất nông
nghiệp, nhất là đất lúa. Tập trung sức đầu tư khai thác tiềm năng để phát triển
công nghiệp chế biến nông sản và công nghiệp nhẹ hướng về xuất khẩu cũng
như các dịch vụ, thúc đẩy sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả

a/Hướng tới khai thác hải sản xa bờ, kết hợp với tăng cường quốc phòng an ninh
trên biển
b/Phát triển cảng biển và các đội vận tải biển để mở rộng giao lưu quốc tế, đảm
nhận chức năng xuất nhập khẩu hàng hoá cho cả vùng lớn.
c/Phát triển du lịch trên toàn tuyến duyên hải từ Đồ Sơn đến Móng Cái, đặc biệt
chú ý phát triển du lịch biển trong mối quan hệ chặt chẽ với việc bảo vệ môi
trường sinnh thái, phát triển kinh tế ở các hải đảo, sử dụng hiệu quả tài
nguyên, tăng cường cơ sở hạ tầng, tiến hành di dân, đẩy mạnh khai thác hải
sản, phát triển du lịch, dịch vụ, kết hợp với quốc phòng an ninh.
 PHỐI KẾT HỢP GIỮA VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA BẮC VỚI CÁC VÙNG XUNG QUANH: trước hết
với các lãnh thổ trong vòng bán kính 50 – 100 km thuộc các tỉnh phụ cận
trong các lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp, thương
mại, du lịch , chuyển giao công nghệ, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực và
18

thu hút nguyên liệu nông lâm thuỷ sản và thực phẩm từ các vùng xung quanh
vào vùng trọng điểm.
E.MỘT SỐ GIẢI PHÁP

 Trong các tỉnh còn thiếu sự liên kết chặt chẽ, nên chưa tận dụng đựơc khả
năng của sự đồng thuận cùng phát triển. Chúng ta nên thành lập hội đồng
vùng. Chúng ta có thể mô tả bằng sơ đồ sau:
 Thực hiện thủ tục hành chính đơn giản, thông thoáng: “ Chế độ một cửa” để
các nhà đâù tư nhanh chóng xin giấp phép, đặc biệt là các nhà đâù tư nước
ngoài khi đem nguồn vồn FDI đến kinh doanh tại Việt Nam.
 Thị trường tài chính: minh bạch, công khai tài chính của các doanh nghiệp để
người dân có điều kiện tiếp xúc với công ty một cách dễ dàng, từ đó họ sẽ
mạnh dạn hơn trong việc mua chứng khoán của công ty. Đây là một cách huy
động nguồn tiền nhàn rỗi trong dân chúng hiệu quả.
- Phát triển nhanh chóng các quỹ tín dụng và tổ chức tài chính trung gian để
người dân có thể tiếp xúc với nguồn vốn khi muống phát triển công việc kinh
doanh của mình. Đặc biệt là phát triển mạnh hơn nữa hệ thống này ở nông
thôn và dành cho nông dân. Ngoài ra để tạo niềm tin cho dân chúng khi đem
tiền đi gưỉ, các ngân hàng nên thực hiện “bảo hiểm tiền gửi” cho số tiền trong
quỹ của mình.
- Song song đó là việc sắp xếp lại tiến hành cổ phần hoá
các doanh nghiệp nhà nước. Với các doanh nghiệp làm ăn không có lãi thì
nhà nước không bao cấp, hỗ trợ nữa mà nên xoá sổ để tạo sự công bằng trong
cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế.
- Cơ sở hạ tầng: Tăng cường mở rộng tuyến đường vành đai, hành lang
đặc biệt là vành đai Côn Minh- Móng Cái, vành đai Đông Tây nối Việt Nam
với các khu kinh tế mở của Trung Quốc.
Hệ thống giao thông đường thuỷ cần có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước
đảm bảo chất lượng an toàn của các phương tiện khi đi lại, tạo sự tin cậy cho
người tham gia giao thông và mới có được tiền đề cần thiết cho giao thông
đường thuỷ phát triển, giao lưu hàng hóa được mở rộng.
-Trước tình trạng thừa thầy, thiếu thợ như hiện nay thì các doang nghiệp nên
tự mở các lớp đào tạo tay nghề cho người lao động và có chính sách thu hút
người lao động đã được đào tạo. Điều này tạo ra sự linh hoạt cho các doanh
20

nghiệp khi có nhu cầu lao động phù hợp cho lĩnh vực kinh doanh của mình,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status