Xây dựng website bán điện thoại di động – Minhphu mobile - Pdf 98

Báo cáo thực tập: “Xây dựng website bán điện thoại di động – Minhphu mobile”
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1. Giới thiệu sơ lược về cơ quan thực tập
1.1.1. Lịch sử hình thành của công ty
Với xu thế chung của xã hội là mở rộng quan hệ, hợp tác phát triển kinh tế trong
nước và quốc tế trong mọi lĩnh vực. Do vậy, ngày càng có nhiều công ty được thành
lập với các hình thức khác nhau như Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), Công ty
Cổ phần…
CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI XUẤT NHẬP KHẨU MINH PHÚ
được thành lập ngày 12/06/2004 thuộc hình thức Công ty TNHH, hoạt động theo
Luật Doanh Nghiệp và các quy định khác của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam
Tên giao dịch: Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu MINH PHÚ
Tên viết tắt: MINH PHU Co.,ltd
Địa chỉ trụ sở chính: Nhà 139 Bạch mai - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
1.1.2. Đôi nét về các lĩnh vực hoạt động của công ty
Hiện tại công ty đang hoạt động trong các lĩnh vực:
- Buôn bán tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng (chủ yếu là quần áo thể thao, các
trang thiết bị dụng cụ thể dục thể thao);
- Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá; Buôn bán trang thiết bị điện tử, tin
học.
- Môi giới thương mại
- Kinh doanh mua bán trang thiết bị y tế tại Việt nam. Tư vấn mua sắm trang
thiết bị phục vụ ngành dược và y tế.
- Sản xuất, mua bán trang thiết bị, dụng cụ, vật tư tiêu hao y tế.
- Buôn bán thuốc phòng và chữa bệnh cho người, dụng cụ y tế thông thường.
- Thiết kế phần mềm tin học; Tư vấn và sản xuất phần mềm tin học.
- Kinh doanh thiết bị vật tư trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật.
- Tư vấn và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật.
A. Cơ cấu tổ chức:
Sinh viên: Nguyễn Minh Phú Lớp CNTT K8C

Ngày nay, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên công nghệ thông tin, trong đó,
công nghệ thông tin đã và đang làm thay đổi mạnh mẽ, nhanh chóng phương thức
tiến hành hoạt động kinh doanh. Với sự ra đời của Internet, sự thay đổi này càng diễn
ra nhanh chóng và mạnh mẽ, làm thay đổi cơ bản các chiến lược và tổ chức của các
công ty. Internet đã tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt động của nền kinh tế, các ngành
kinh doanh và các loại hình doanh nghiệp. Chẳng hạn, nó đã góp phần tạo dựng môi
trường kinh doanh mới, hình thành kênh thông tin, cung cấp, phân phối mới trên các
thị trường điện tử… Ngày nay, các hoạt động thương mại điện tử như mua bán hàng
Sinh viên: Nguyễn Minh Phú Lớp CNTT K8C
Trang 3
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHÒNG TỔ CHỨC HÀNH
CHÍNH
PHÒNG
MARKETING
PHÒNG KẾ
TOÁN TÀI VỤ
PHÒNG KINH
DOANH XUẤT
NHẬP KHẨU
Báo cáo thực tập: “Xây dựng website bán điện thoại di động – Minhphu mobile”
hoá, dịch vụ, thông tin... đang tăng trưởng với tốc độ chóng mặt, với doanh số tăng
trưởng hàng năm rất lớn. Đối với các doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động xuất
nhập khẩu, Thương mại điện tử thực sự cần thiết vì những lợi ích to lớn mà nó đã,
đang và sẽ đem lại. Thương mại điện tử thực sự đã làm thay đổi bộ mặt thế giới, từ
các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cho đến thói quen sinh hoạt, mua sắm
của từng cá nhân. Năm 1997 khi Việt Nam bắt đầu kết nối internet, khái niệm
Thương mại điện tử được hình thành và ngày càng trở thành một khái niệm phổ biến.
Internet phát triển mạnh, rất nhiều các doanh nghiệp, công ty đã có các Website riêng

hỗ trợ kỹ thuật, giải trí, hỗ trợ các dịch vụ, tin tức thông tin thị trường …
Quản trị hệ thống: quản lý thành viên quản trị, thông tin góp ý của các khách
hàng, quản lý menu và liên kết, quản lý liên kết quảng cáo, quản lý thống kê
các sản phẩm bán chạy và được nhiều khách hàng quan tâm.
Sinh viên: Nguyễn Minh Phú Lớp CNTT K8C
Trang 5
Báo cáo thực tập: “Xây dựng website bán điện thoại di động – Minhphu mobile”
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. Tổng quan về bài toán thương mại điện tử
Ngày nay người ta thường nhắc đến thương mại điện tử. Vậy thương mại điện
tử là gì? Và một website thương mại điện tử phải có những gì? mục đích của việc áp
dụng thương mại điện tử trong kinh doanh?
2.1.1. Khái niệm về thương mại điện tử
Thương mại điện tử (còn gọi là thị trường điện tử, thị trường ảo, E-Commerce
hay E-Business) là quy trình mua bán ảo thông qua việc truyền dữ liệu giữa các máy
tính trong chính sách phân phối của tiếp thị. Tại đây một mối quan hệ thương mại
hay dịch vụ trực tiếp giữa người cung cấp và khách hàng được tiến hành thông qua
Internet. Hiểu theo nghĩa rộng, thương mại điện tử bao gồm tất cả các loại giao dịch
thương mại mà trong đó các đối tác giao dịch sử dụng các kỹ thuật thông tin trong
khuôn khổ chào mời, thoả thuận hay cung cấp dịch vụ. Thông qua một chiến dịch
quảng cáo của IBM trong thập niên 1990, khái niệm Electronic Business, thường
được dùng trong các tài liệu, bắt đầu thông dụng.
Thuật ngữ ICT (viết tắt của từ tiếng Anh Information Commercial Technology)
cũng có nghĩa là thương mại điện tử, nhưng ICT được hiểu theo khía cạnh công việc
của các chuyên viên công nghệ.
Theo Uỷ ban châu Âu: "Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt
động kinh doanh qua các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ
liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh".
Thương mại điện tử trong định nghĩa này gồm nhiều hành vi trong đó: hoạt
động mua bán hàng hoá; dịch vụ; giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng;

Nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp
Khai thác các kênh bán hàng mới
Có thêm khách hàng mới
Tăng doanh thu, hiệu quả
Sinh viên: Nguyễn Minh Phú Lớp CNTT K8C
Trang 7
Báo cáo thực tập: “Xây dựng website bán điện thoại di động – Minhphu mobile”
2.1.3. Khái niệm về Website thương mại điện tử
Cửa hàng trực tuyến đưa hàng vào trong Internet để giới thiệu và bán. Đây là
một chương trình phần mềm có tính năng giỏ hàng. Người mua chọn lựa các sản
phẩm và đặt chúng vào giỏ hàng. Đằng sau một cửa hàng trực tuyến như thế là một
việc kinh doanh thật sự, tiến hành các đơn đặt hàng.
Có nhiều chương trình phần mềm cho kênh bán hàng này. Một cửa hàng trực
tuyến hiện đại không chỉ tạo khả năng cho người dùng xem món hàng hai chiều và
đọc một ít thông số kỹ thuật của món hàng đó. Trong lãnh vực hàng tiêu dùng cao
cấp người ta cũng đã tạo ảnh ba chiều của sản phẩm để cảm giác của khách hàng
càng gần hiện thực càng tốt. Ngoài ra còn có các chương trình cấu hình mà qua đó
màu sắc, trang bị và thiết kế của sản phẩm có thể thay đổi để phù hợp với tưởng
tượng cá nhân của từng khách hàng. Bằng cách này người sản xuất hay người chào
bán còn có thêm thông tin rất có giá trị về ý thích của khách hàng. Các hình thức
được biết nhiều của thương mại điện tử là mua bán sách và nhạc cũng như mua bán
đấu giá trong Internet.
Thông qua việc Internet bùng nổ vào cuối thập niên 1990, cửa hàng trực tuyến
ngày càng có tầm quan trọng nhiều hơn. Những người bán hàng trong Internet có lợi
thế là họ không cần đến một diện tích bán hàng thật sự mà thông qua các trang Web
sử dụng một không gian bán hàng ảo. Các cửa hàng trực tuyến cũng thường hay
không cần đến nhà kho hay chỉ cần đến rất ít, vì thường có thể cung cấp cho khách
hàng trực tiếp từ người sản xuất hay có thể đặt hàng theo nhu cầu. Lợi thế do tiết
kiệm được những phí tổn cố định này có thể được tiếp tục chuyển tiếp cho khách
hàng. Ngay cả những người bán sách trong Internet tại Đức, bắt buộc phải bán sách

các cơ sở dữ liệu. ASP thường làm việc với hai người bạn đồng nghiệp là Access và
hệ cơ sở dữ liệu SQL.Component rất hữu ích giúp chúng ta có thể kết nối vào một cơ
sở dữ liệu bằng cách sử dụng ActiveX Data Object để viết nội dung lên màn hình
trình duyệt và tạo lập hoặc cập nhật các file cơ sở dữ liệu. Cơ sở dữ liệu là một phần
không thể thiếu của một bài toán quản lý áp dụng công nghệ thông tin. Cơ sở dữ liệu
được định nghĩa là kho thông tin về một chủ đề, được tổ chức hợp lý để dễ dàng quản
lý và truy tìm. Bất kỳ kho thông tin nào đáp ứng được yêu cầu này đều có thể coi là
một cơ sở dữ liệu.
Sinh viên: Nguyễn Minh Phú Lớp CNTT K8C
Trang 9
Báo cáo thực tập: “Xây dựng website bán điện thoại di động – Minhphu mobile”
b. Quản trị cơ sở dữ liệu
Chương trình quản trị cơ sở dữ liệu là một chương trình ứng dụng trên máy tính
có các công cụ để truy tìm, sửa chữa, xoá và chèn thêm dữ liệu. Các chương trình này
cũng có thể dùng để tạo lập một cơ sở dữ liệu và tạo ra các báo cáo, thống kê. Các
chương trình quản trị cơ sở dữ liệu liên quan khá thông dụng hiện nay tại Việt Nam
là Foxpro, Access cho ứng dụng nhỏ, DBL, MSSQL và Oracle cho ứng dụng vừa và
lớn.
Cơ sở dữ liệu (database): kho thông tin về một chủ đề, được tổ chức hợp lý để
dễ dàng quản lý và truy tìm. Bất kỳ kho thông tin nào đáp ứng được yêu cầu này đều
có thể coi là một cơ sở dữ liệu (CSDL). Như trên đây, bạn có hai cơ sở dữ liệu:
CSDL người quen ghi trong sổ và CSDL trên máy tính. Thông thường, những thông
tin trong CSDL được chia thành nhiều mẫu tin có cấu trúc tương đối giống nhau
Bảng (table): Là một thành phần cơ bản trong chương trình quản trị cơ sở dữ
liệu quan hệ. Bảng được hình thành khi sắp xếp các thông tin có liên quan với nhau
theo hàng và cột. Các hàng tương ứng với các bản ghi (record) dữ liệu và các cột
tương ứng với trường dữ liệu. Các bạn hãy xem bảng Người quen. Các hàng là
người, mỗi hàng tương ứng với một người. Các cột là trường (hay lĩnh vực) của
thông tin. Ta có các cột Họ tên, Ngày sinh, Điện thoại, Địa chỉ, Tên cơ quan.
Bản ghi (record): trong chương trình quản trị cơ sở dữ liệu, đây là một đơn vị

các vấn đề sau đây:
- Lưu trữ dữ liệu
- Truy nhập dữ liệu
- Bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu
Ba vấn đề chính ở trên có mối quan hệ mật thiết, phụ thuộc lẫn nhau và chúng
được liệt kê theo thứ tự thực hiện mỗi ứng dụng.
Mô hình cơ sở dữ liệu quan hệ (Relationship Database Management System -
RDMS) được xây dựng làm đơn giản hoá quá trình lưu và đọc dữ liệu RDMS cung
cấp khả năng giao tiếp tốt với dữ liệu và giúp người lập trình tự do trong lĩnh vực
quản lý truy cập cơ sở dữ liệu.
Sau đây là các bước xây dựng một cơ sở dữ liệu theo mô hình cơ sở dữ liệu
quan hệ:
Sinh viên: Nguyễn Minh Phú Lớp CNTT K8C
Trang 11
Báo cáo thực tập: “Xây dựng website bán điện thoại di động – Minhphu mobile”
- Tổ chức dữ liệu theo nhóm logic (table)
- Xác định các mối quan hệ giữa các table
- Tạo tập tin cơ sở dữ liệu và định nghĩa cấu trúc của các table trong cơ sở dữ
liệu.
- Lưu dữ liệu
Hai bước đầu là hai bước thiết kế cơ sở dữ liệu và đây là hai bước cực kỳ quan
trọng. Nếu được thiết kế tốt, các khía cạnh khác sẽ được giải quyết dễ dàng hơn;
ngược lại việc khai thác cơ sở dữ liệu sẽ không hiệu quả và chương trình sẽ có những
lỗi rất khó phát hiện.
Các bước chính khi tiến hành thiết kế một cơ sở dữ liệu:
- Xác định dữ liệu cần trong ứng dụng
- Xác định nguồn gốc dữ liệu
- Tổ chức dữ liệu thành các nhóm logic
- Tiêu chuẩn hoá dữ liệu và các mối quan hệ giữa chúng
- Xác định cách sử dụng các bảng

một đường kẻ ngang.
Đối với thẻ mang thông tin, khi có một thẻ mở thì phải có một thẻ đóng tương
ứng, thẻ đóng giống như thẻ mở nhưng trước nó có gạch chéo (/). Ví dụ, thẻ mở cho
kiểu chữ in nghiêng là <I>, và thẻ đóng tương ứng là </I>.
Cấu trúc cơ bản của một trang HTML
<!DOCTYPE HTML PUBLIC "-//W3C//DTD HTML 3.2//EN">
<HTML>
<HEAD>
<!-- thông tin tiêu đề được sử dụng để chứa thông tin phụ về tài liệu này, nó
không được hiển thị trong trang. -->
</HEAD>
<BODY>
<!— Nội dung chính của HTML được trình diễn ở đây -->
…………..
</BODY> </HTML>
Sinh viên: Nguyễn Minh Phú Lớp CNTT K8C
Trang 13
Báo cáo thực tập: “Xây dựng website bán điện thoại di động – Minhphu mobile”
b. Ngôn ngữ ASP (Active Server Page)
• Khái niệm ASP (Active Server Page)
Microsoft Active Server Pages (ASP) không hẳn là một ngôn ngữ lập trình ,
Microsoft gọi ASP là môi trường kịch bản trên máy chủ (Server-Side Scripting
Enviroment), môi trường này cho phép tạo và chạy các các ứng dụng Web server
động , tương tác và có hiệu quả cao. Các đoạn chương trình nhỏ được gọi là Script sẽ
được nhúng vào các trang của ASP phục vụ cho việc đóng mở và thao tác với dữ liệu
cũng như điều khiển, có tính bảo mật cao và làm tăng khả năng giao tiếp của chương
trình ứng dụng. Ðể làm việc trong môi trường này , các ASP coder thường sử dụng
VBScript hoặc JavaScript, cả hai loại này đều tự động hỗ trợ ASP
Các đoạn ASP script có thể xuất hiện ở mọi nơi trong trang HTML, ASP &
HTML có sự gắn bó chặt chẽ với nhau. Với ASP ta có thể chen các script thực thi

Phân định ranh giới (Delimiter): Các trang của HTML được phân định với text
dựa vào các phân định ranh giới. Một phân định ranh giới là một ký tự hay các thứ tự
đánh dấu điểm bắt đầu và kết thúc của một đơn vị. Trong trường hợp của HTML, các
ký hiệu ranh giới (<) và (>). Tương tự, các lệnh của Script ASP và các biểu thức đầu
ra được phân biệt giữa text và các trang HTML bằng các phân định ranh giới ASP sử
dụng phân định ranh giới là <% ... %> để chứa các lệnh Script. VD: <%
Sport=”Football”%> tức là gán giá trị football cho biến sport. ASP sử dụng phân định
ranh giới là <%=...%> để chứa các biểu thức đầu ra. Như VD trên, biểu thức đầu ra <
%=Sport%> sẽ gửi giá trị football (giá trị hiện thời của biến) cho trình duyệt.
• Các tính chất và ưu điểm của ASP
Các ASP script thông thường chạy trên các server cài IIS ( Microsoft Internet
Information Server). Nhưng ASPvẫn có thể làm việc với đa số các Web server trên
NT (Netscape, Oreilly ) sử dụng ChiliSoft ASP, có thể trên một số hệ điều hành khác
nh Linux, SunSolaris.
Sinh viên: Nguyễn Minh Phú Lớp CNTT K8C
Trang 15
Báo cáo thực tập: “Xây dựng website bán điện thoại di động – Minhphu mobile”
Quy trình thực hiện một của ASP như sau : khi một user thông qua trình duyệt
web gửi yêu cầu tới một file .asp ở server thì script chứa trong file đó sẽ được chạy
trên server và trả kết quả về cho browser đó. Khi Web server nhận được yêu cầu tới
một file .asp thì nó sẽ đọc từ đầu tới cuối file .asp đó, thực hiện các lệnh script trong
đó và trả kết quả về cho Web brower là một trang HTML.
Thực ra thì quá trình tạo trang HTML và thực thi script là hai quá trình riêng
biệt, script sẽ được ASP engine dịch và thực thi trước khi chuyển kết quả cho Web
server, tới giai đoạn này các mã HTML và kết quả sẽ kết hợp để tạo nên một trang
Web. Việc nhúng HTML và script chỉ để làm đẩy nhanh tốc độ phát triển ứng dụng
mà thôi. Do môi trường hoạt động là mạng nên một script ASP khi được viết ra có
thể sử dụng được ở mọi nơi, không cần trình biên dịch hay kết nối.
Các ASP script được viết dựa trên các ngôn ngữ hướng đối tượng nên rất tiện
lợi, sẵn có các object đi kèm như: Request, Response, Application, Server, Session.

Server Object:
Server object cho phép thực thi một chuỗi các tác vụ chẳng hạn như ánh xạ một
đường dẫn ảo tới một đường dẫn vật lý và tạo một instance của một componnet.
Session Object:
Sử dụng object này chúng ta có thể lưu thông tin liên quan tới từng user đã truy
nhập vào site của bạn.
Khác với các object, các ASP components là các điều khiển ActiveX ghép nối
với ASP để đơn giản hoá các thủ tục thông thường. Chúng ta sẽ lướt qua số
components thường được sử dụng.
Browser Capabilities:
Component này cho phép xác định trình duyệt của user là gì và những tính năng
nào được hỗ trợ bởi trình duyệt đó.
Collaboration Data Objects (CDO):
CDO được liên kết chặt chẽ vói IIS SMTP server, CDO hỗ trợ chúng ta gửi và
nhận email. Ví dụ với CDO chúng ta có thể xử lý một form mà không cần nhận biết
đó là Perl script hay CGI.
Sinh viên: Nguyễn Minh Phú Lớp CNTT K8C
Trang 17
Báo cáo thực tập: “Xây dựng website bán điện thoại di động – Minhphu mobile”
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG
A: Phân tích sơ đồ phân cấp chức năng của hệ thống
3.1.1 Yêu cầu cần thiết của bài toán
Trang Web thương mại điện tử bán điện thoại di động – MINH PHÚ mobile
phải đáp ứng những yêu cầu cần thiết sau:
• Đối với các khách hàng khi truy cập vào trang Web:
- Trang web phải có mục riêng để giới thiệu về công ty, địa chỉ liên hệ…để
Khi họ truy cập vào trang Web họ có thể xem thông tin về công ty như: Quá trình
hình thành, hoạt động kinh doanh, đối tác của công ty cũng như năng lực làm việc
của công ty qua những hợp đồng đã ký kết. Thông tin về sản phẩm - dịch vụ, thông
tin chi tiết từng sản phẩm cũng như tham khảo giá cả của các mặt hàng

hàng mà khách đã đăng ký mua.
• Đối với bộ phận kinh doanh:
- Cần phải cập nhật và thay đổi các thông tin về sản phẩm - dịch vụ, thông tin thị
trường, bảo hành…, Ngoài ra cần phải tập hợp các đơn đặt hàng của khách để xử lý.
3.1.2. Sơ đồ phân cấp chức năng
Sơ đồ phân cấp chức năng cho ta cái nhìn tổng quát về các chức năng chính của
hệ thống, nó giúp xác định phạm vi của hệ thống cần phân tích và tăng cường cách
tiếp cận logic tới phân tích hệ thống
Hệ thống bao gồm các chức năng chính:
- Quản lý bán hàng: giới thiệu các tính năng giá cả của sản phẩm
Sinh viên: Nguyễn Minh Phú Lớp CNTT K8C
Trang 19
Báo cáo thực tập: “Xây dựng website bán điện thoại di động – Minhphu mobile”
Với việc phân tích yêu cầu của bài toán theo các mục trên ta cần phải thiết kế
Website gồm các chức năng chính sau: (Hình 3.1)
Sinh viên: Nguyễn Minh Phú Lớp CNTT K8C
Trang 20
Quản lý Website phu
mobile
Quản lý bán
hàng
Xem thông tin và
chọn hàng
Tìm kiếm sản phẩm
Quản lý
thông tin
Giới thiệu công ty,
liên hệ
Quản lý tin tức, giải
trí,

Giới thiệu công ty,
liên hệ
Quản lý tin tức, giải
trí,
Hỗ trợ giải đáp
khuyễn mãi, bảo
hành
Đặt hàng
Quản lý đơn đặt
hàng
Quản lý thành viên
quản trị, members
Quản trị hệ
thống
Cập nhật danh mục
sản phẩm dich vụ
Quản lý liên kết
quảng cáo
Quản lý đơn đặt
hàng từ các khách
hàng gửi đến
Báo cáo thực tập: “Xây dựng website bán điện thoại di động – Minhphu mobile”

Trong 1 số chức năng ta lại có thể có biểu đồ phân cấp thành những chức
năng nhỏ hơn. Ví dụ như Biểu đồ phân cấp chức năng Tìm kiếm
Sinh viên: Nguyễn Minh Phú Lớp CNTT K8C
Trang 22
Tìm Kiếm Sản
Phẩm
Nhận thông

Hệ thống website
Phòng bán
hàng
Bắt đầu vào
trang web
Đặt hàng
Sau khi đặt
mua hàng
Sinh viên: Nguyễn Minh Phú Lớp CNTT K8C
Trang 24

Sản
phẩm
Mua hàng
Giỏ hàng
Kiểm tra đơn
đặt hàng
Cập nhật
thông tin
hàng
Thông tin
hàng
Giới thiệu hàng
Đơn đặt hàng
Tổng hợp
đơn đặt
hàng
Đặt hàng
Hoá đơn
In đơn đặt

- Ký hiệu : Biểu thị kho dữ liệu.
Sinh viên: Nguyễn Minh Phú Lớp CNTT K8C
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status