Xây dựng một Website bán hàng Điện thoại di động - Pdf 32

Báo cáo tiểu luận Môn Phát triển ứng dụng web.
PHẦN I.
GIỚI THIỆU VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1. Thương mại điện tử là gì?
a. Khái niệm:
Có nhiều khái niệm về thương mại điện tử (TMĐT), nhưng hiểu một cách
tổng quát, TMĐT là việc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại
bằng những phương tiện điện tử. TMĐT vẫn mang bản chất như các hoạt động
thương mại truyền thống. Tuy nhiên, thông qua các phương tiện điện tử mới, các
hoạt động thương mại được thực hiện nhanh hơn, hiệu quả hơn, giúp tiết kiệm chi
phí và mở rộng không gian kinh doanh.
TMĐT càng được biết tới như một phương thức kinhdoanh hiệu quả từ khi
Internet hình thành và phát triển. Chính vì vậy, nhiều người hiểu TMĐT theo
nghĩa cụ thể hơn là giao dịch thương mại, mua sắm qua Internet và mạng (ví dụ
mạng Intranet của doanh nghiệp).
b.Các đặc trưng của Thương mại điện tử:
- Đế xây dựng khung pháp luật thống nhất cho Thương mại điện tử, chúng ta
cần nghiên cứu và tìm ra các đặc trưng của Thương mại điện tử. So với các hoạt
động Thương mại truyền thống, thương mại điện tử có một số điểm khác biệt cơ
bản sau:
+ Các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không tiếp xúc trực
tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước.
+ Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của
khái niệm biên giới quốc gia, còn thương mại điện tử được thực hiện trong một
thị trường không có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu). Thương mại điện
tử trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu.
+ Trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham ra của ít
nhất ba chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấp dịch
vụ mạng, các cơ quan chứng thực.
+ Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương
tiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin

mình qua Web, bởi không có một dịch vụ khách hàng nào có thể đại diện cho
những hoạt động kinh doanh như thế nên Cisco dự tính rằng họ có thể bớt được
500.000 cuộc gọi mỗi tháng và mỗi năm có thể tiết kiệm được hơn 500 triệu đô
la.

GV: Trần Văn Trung -2- SV: Phạm Xuân Nhiên
Báo cáo tiểu luận Môn Phát triển ứng dụng web.
- TMĐT tăng cơ hội bán cho người bán đồng thời cũng tăng cơ hội mua cho
người kinh doanh cũng như người mua. Các doanh nghiệp có thể dùng TMĐT
trong quá trình mua bán để xác định các đối tác cung và cầu mới. Trong TMĐT
thì thoả thuận về giá cả và chuyển giao các mặt hàng dễ dàng hơn bởi vì Web có
thể cung cấp thông tin cạnh tranh về giá cả rất hiệu quả. TMĐT đẩy mạnh tốc độ
và tính chính xác để các doang nghiệp có thể trao đổi thông tin và giảm chi phí
cho cả hai bên trong các giao dịch.
- TMĐT cho người kinh doanh nhiều sự lựa chọn hơn là thương mại truyền
thống bởi họ có thể đồng thời biết nhiều loại sản phẩm và các loại dịch vụ từ
nhiều người bán khác nhau luôn sẵn sàng hàng ngày, hàng giờ. Có khách hàng thì
muốn sử dụng một lượng thông tin lớn khi quyết định mua bán trong khi những
người khác không cần nhiều như vậy.
- TMĐT cung cấp cho người kinh doanh cách dễ dàng nhất để tuỳ chỉnh
các cấp độ thông tin trong mua bán. Thay vì phải đợi nhiều ngày để gửi thư từ,
mang theo một quyển mẫu hoặc các trang mô phỏng sản phẩm hoặc thậm chí
nhanh hơn là nhờ vào những giao dịch qua fax, thì người kinh doanh có thể truy
cập ngay vào những thông tin chi tiết trên Web. Với một số sản phẩm như phần
mềm, các audio clip, các hình ảnh thậm chí là có thể được chuyển qua Internet,
giảm được thời gian mà người kinh doanh phải chờ để bắt đầu việc mua hàng.
- Lợi nhuận của TMĐT cũng đã tăng thêm phúc lợi xã hội. Thanh toán
điện tử của việc trả thuế, lương hưu, và phúc lợi xã hội chi phí thấp, an toàn và
nhanh chóng khi giao dịch qua Internet. Hơn nữa các thanh toán điện tử có thể
kiểm toán và điều hành dễ dàng hơn các thanh toán bằng séc có thể chống thất

cơ sở dữ liệu đang hiện hành và phần mềm xử lý giao dịch được thiết kế cho
thương mại truyền thống thành phần mềm có thể dành riêng cho TMĐT.
- Cùng với các vấn đề về công nghệ và phần mềm, nhiều doanh nghiệp
phải đối mặt với những trở ngại về văn hoá và luật pháp trong TMĐT. Nhiều
người tiêu dùng ở một mức độ nào đó vẫn e ngại việc gửi số thẻ tín dụng trên
Internet, có một số người tiêu dùng khác đơn giản thường hơn có thể thích hợp
được với sự thay đổi và cảm thấy không thoải mái trong việc xem các hàng hoá
trên màn hình máy tính hơn là xem trực tiếp.
- Môi trường pháp lý mà TMĐT được quản lý là các bộ luật hoàn toàn
không rõ ràng và mâu thuẫn với nhau. Luật kiểm soát TMĐT được viết ra khi các
tài liệu được ký dự tính hợp lý trong bất kỳ giao dịch kinh doanh nào. Khi có
nhiều các doanh nghiệp và cá nhân thấy được lợi ích của TMĐT là hấp dẫn, thì
những bất lợi liên quan đến công nghệ và văn hoá này sẽ không còn tồn tại nữa.
5. Thương mại điện tử trong việc Tin học hoá:
- TMĐT ở VN hiện nay mới ở mức sơ khai, chủ yếu giới thiệu DN, gửi,
nhận thông tin, còn khâu quan trọng là thanh toán trực tuyến thì chưa phổ biến.
Có một số dịch vụ khác được cung cấp qua Internet, như may áo dài, quần jean
theo số đo của khách, nhưng chỉ có ít DN thực hiện được. Nhìn chung, thành
công trong TMĐT của một DN phụ thuộc nhiều vào sự nỗ lực của tự thân DN đó.

GV: Trần Văn Trung -4- SV: Phạm Xuân Nhiên
Báo cáo tiểu luận Môn Phát triển ứng dụng web.
- Tuy nhiên, những cố gắng đơn lẻ thường không mang lại nhiều hiệu quả.
Trên thực tế, DN trong nước phụ thuộc rất nhiều vào nhà cung ứng (vốn chủ yếu
là các cơ sở sản xuất nhỏ, lẻ, thậm chí là các hộ gia đình sản xuất nhỏ). Ví dụ một
nhà hàng ở Hà Nội phải đặt thực phẩm từ các hộ gia đình. Nhà hàng đó có thể có
website, có khả năng giao dịch điện tử, nhưng các hộ gia đình chỉ có thể gọi điện
thoại và giao dịch trực tiếp mà thôi. Vì vậy, để quan hệ trong TMĐT được thông
đồng bén giọt, cần có sự nỗ lực đầu tư từ nhiều phía. DN cần khuyến khích, thúc
đẩy các DN cung ứng đầu vào, các nhà cung cấp dịch vụ trợ giúp (nguyên vật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status