ÔN TẬP LỊCH SỬ ĐẢNG
Câu 1: Trình bày bối cảnh lịch sử trước khi có Đảng cộng sản và hậu quả của chủ
nghĩa thực dân Pháp đối với XH Việt Nam
Tình hình thế giới:
Cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 CNTB phương tây chuyển sang thời đại ĐQCN. Nền kinh tế
tư bản phát triển nhanh, chúng đi xâm lược các nước nhỏ yếu vơ vét tài nguyên, bốc lột
nhân công rẻ mạt và tiêu thụ hàng hóa thừa ế. Cuộc đầu tư khai thác thuộc địa đem lại
những lợi nhuận kếch xù, bốc lột thuộc địa làm giàu cho chính quốc.
Chiến tranh phong kiến cũ được thay thế bằng chiến tranh ĐQ (Đại chiến thế giới thứ I
và sau đó là đại chiến thế giới thứ hai xuất hiện, mức độ tàn phá của chiến tranh nặng nề
hơn.
Mâu thuẫn thời đại mới xuất hiện: Mâu thuẫn giữa CNĐQ, CNTB và các dân tộc thuộc
địa. Mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc. Mâu thuẫn giữa tư bản và lao động. Mâu thuẫn
giữa phong trào dân tộc có tính cách mạng – XHCN (dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
theo hệ tư tưởng Mac Lênin) với các thế lực phản động đen tối của thời đại.
Thắng lợi của các cuộc CM dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản ở các nước và nhất là
thắng lợi của CM tháng 10 nga 1917 mở ra một thời đại CM mới cho sự thức tỉnh của
châu á, phong trào dân chủ của nhân dân ở châu âu, châu mỹ.
Tháng 3/1919 Quốc tế thứ 3 thành lập mở ra phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
rộng lớn bản sơ thảo lần thứ I “luận cương về dân tộc thuộc địa” của Lênin mở ra phong
trào giải phóng dân tộc cho các nước thuộc địa và phụ thuộc tường lối CM mới phù hợp
với xu thế thời đại.
Tình hình Việt Nam:
Triều đình phong kiến cuối cùng của nước ta (với 5 đời vua Nguyễn) sau khi đoạt ngôi
của Quang Trung – Nguyễn Huệ tính chất suy tàn của chế độ phong kiến đã thể hiện rõ.
Họ không canh tân được đất nước theo tiến bộ của thời đại, họ chỉ lo xây dựng đền đài
lăng mộ và bốc lột nhân dân, cho nên sức mạnh của dân tộc yếu đi, không còn sức chống
lại giặc ngoại xâm đến từ phương tây
Thực dân pháp xâm chiếm nước ta năm 1858, bắt đầu bằng cuộc tấn công quân sự vào đà
nẳng. Quân và dân ta đã chiên đấu oanh liệt nhưng triều đình huế nhu nhược đã ký “hòa
ước” dâng đất nước cho giặc.
Câu 2: Phân tích chủ trương chuyển hướng chiến lược của Đảng ở các hội nghị
trung ương 6,7,8 khóa I.
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ cho cách mạng tư sản dân quyền ở
nước ta là: Đánh đổ bọn đế quốc Pháp và bọn phong kiến cùng giai cấp tư sản phản cách
mạng, làm cho nước Việt Nam, dân giàu nước mạnh. Hai nhiệm vụ chiến lược của cách
mạng là chống đế quốc và chống phong kiến quan hệ khăng khít với nhau
Trước những biến chuyển mới của tình hình thế giới và trong nước, khi chiến tranh thế
giới thứ hai nổ ra, Đảng đã chỉ đạo các lực lượng cách mạng kịp thời rút vào bí mật.
Tháng 11-1939, Đảng họp hội nghị trung ương lần thứ 6. Phân tích tình hình, tính chất
của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, phân tích chính sách của thực dân pháp và nhận
định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là thực dân pháp; chúng đang đẩy
mạnh và đàn áp CM, bóp nghẹt mọi quyền tự do, dân chủ của nhân dân, mâu thuẩn dân
tộc đang nổi lên hàng đầu, yêu cầu cứu nước, giải phóng dân tộc được đặt ra cấp thiết. Vì
vậy Đảng đề ra chủ trương: + Đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên làm nhiệm vụ hàng đầu
và cấp bách của cách mạng Đông Dương. + Tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”
để phân hoá giai cấp địa chủ yêu nước đi với CM. Hội nghị chủ trương chỉ tịch thu ruộng
đất của bọn đế quốc và bọn Việt gian phản động làm của công hoặc tạm giao cho dân cày
nghèo cày cấy. Như vậy, nhiệm vụ dân chủ vẫn thực hiện nhưng chỉ được tiến hành từng
bước để phục vụ cho nhiệm vụ dân tộc. + Xúc tiến chuẩn bị mọi mặt để tiến tới một cuộc
khởi nghĩa vũ trang khi có thời cơ. + Tập hợp lực lượng yêu nước ở Đông Dương để
thành lập mặt trận chung lấy tên là: “Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương”
thay cho “Mặt trận dân chủ”. + Phát động quần chúng nổi dậy đấu tranh với nhiều hình
thức để thực hiện nhiệm vụ cứu nước giải phóng dân tộc.
Nghị quyết 6 của Trung ương Đảng đã đề ra chủ trương đúng chuyển hướng cơ bản về
chỉ đạo chiến lược và phương pháp CM của Đảng.
Tháng 11-1940, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 khẳng định sự chuyển hướng chỉ
đạo chiến lược của Hội nghị Trung ương 6 là đúng đắn, quyết định phát triển ảnh hưởng
của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và đình chỉ cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ, nhấn mạnh nhiệm
vụ chống đế quốc và phong kiến là “hai bộ phận khăng khít của CM tư sản dân quyền”
Mùa thu 1940, phát xít Nhật vào Đông Dương, mâu thuẫn dân tộc ngày càng thêm gay
nhận sự đóng góp của Nguyễn Ái Quốc trong buổi đầu về nước, trực tiếp lãnh đạo CM
trong nước.
Câu 3: Trình bày nguyên nhân thành công, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm
của cách mạng tháng 8-1945
CMT8 là một cuộc CM dân tộc dân chủ nhân dân, làm hai nhiệm vụ: dân tộc và dân chủ.
CMT8 đã đánh đuổi được bọn đế quốc Pháp, quân phiệt Nhật, lật đổ được chế độ phong
kiến, giải phóng được dân tộc, tịch thu được một phần ruộng đất của bọn đế quốc và Việt
gian phản động chia cho dân cày nghèo, ban bố các quyền tự do dân chủ cho nhân dân.
Song trước hết, CMT8 làm nhiệm vụ giải phóng dân tộc, hoàn thành một nhiệm vụ cơ
bản nhất của CM dân tộc dân chủ nhân dân để tiếp tục tiến lên hoàn thành những nhiệm
vụ khác của cuộc CM này.
Ý nghĩa lịch sử: Đối với trong nước, CMT8 đã đánh đuổi được bọn đế quốc để giải
phóng dân tộc, lật đổ chế độ phong kiến, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - một
nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở miền Đông Nam Á. Sự kiện này đã đưa nước ta từ
một nước thuộc đại, nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, dân chủ cộng hoà, đưa
dân ta từ người nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, đưa đảng ta từ một đảng hoạt
động bất hợp pháp trở thành một đảng cầm quyền trong cả nước. CMT8 đã mở ra một kỉ
nguyên mới cho dân tộc ta - kỷ nguyên độc lập tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội, ghi
thêm một trang oanh liệt nữa vào truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm anh hùng bất
khuất của dân tộc ta. Đối với thế giới, cuộc đấu tranh chống nhật, tiếp đó cuộc CMT8 đã
góp phần đánh bại chủ nghĩa phát xít thế giới, trong đó có phát xít nhật ở Đông Dương.
CM thành công đã đưa nước ta vào hàng ngũ dân chủ nhân dân và chủ nghĩa xã hội trên
thế giới. Thắng lợi này cũng là một thắng lợi lớn, chung của phong trào giải phóng dân
tộc thế giới, có sức cổ vũ rất lớn lao đối với nhân dân các nước thuộc đại và phụ thuộc,
nhất là các nước thuộc địa của pháp đang nổi dậy đấu tranh giải phóng cho mình. Thắng
lợi này còn góp phần củng cố hoà bình ở khu vực Đông Nam Ánói riêng và trên toàn thế
giới nói chung.
Nguyên nhân dẫn đến thành công của cuộc CM là do dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa vốn
có truyền thống yêu nước kiên cường, bất khuất. Vì thế, khi thực dân Pháp và phát xít
Nhật xiết chặt ách áp bức bốc lột tàn bạo, nhân dân ta đã vùng dậy quyết liệt, đập tan mọi
Sau khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa thành lập đứng trước vô vàn khó khăn với
tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”
+ Đối ngoại: Từ vĩ tuyến 16 ra Bắc 20 vạn quân Tưởng ồ ạt kéo vào dưới danh nghĩa giải
giáp quân Nhật. Quân Tưởng tìm mọi cách lật đổ chính quyền cách mạng, tiêu diệt Đảng
Cộng Sản, lập chính quyền tay sai. Từ vĩ tuyến 16 ra Nam 2 vạn quân Anh kéo vào dọn
đường cho việc Pháp quay lại tái chiếm Việt Nam.
+ Trong nước: ở miền Bắc bọn “Việt Quốc”, “Việt Cách” núp bóng quân Tưởng nổi dậy
chống phá chính quyền cách mạng. Ở miền Nam, các lực lượng phản cách mạng: Đảng
“Đại Việt”, bọn phản động trong các giáo phái ra sức chống phá cách mạng.
+ Kinh tế nền nông nghiệp lạc hậu bị chiến tranh tàn phá, hậu quả nặng nề của nạn đói
1944 – 1945 chưa khắc phục được, nguy cơ nạn đói mới đang đe dọa với 50% diện tích
bị bỏ hoang
+ Tài chính: ngân khố trên 1.200.000 đồng trong đó phân nửa bị rách nát không thể sử
dụng được, cùng với đó đồng tiền “quan kim”, quốc tệ” mất giá làm cho tình hình hình
tài chính càng rối loạn
+ Xã hội: hơn 90% dân số mù chữ, các tệ nạn xã hội còn phổ biến
Bên cạnh đó ta có những thuận lợi cơ bản:
+ Nhân dân ta đã giành chính quyền và làm chủ chính quyền, được hưởng quyền lợi từ
chính quyền mới, do đó gắn bó và tin tưởng vào chế độ mới
+ Có sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng và chính phủ đứng đầu là chủ tịch Hồ
Chí Minh đã chèo chống “con thuyền cách mạng” qua những ghềnh thác
+ Hệ thống XHCN hình thành, phong trào giải phóng dân tộc đang phát triển là nguồn
ủng hộ và cổ vũ vô cùng to lớn
Trứơc những khó khăn thách thức đối với cách mạng Việt Nam sau cách mạng tháng
Tám Đảng và chính phủ đã có 1 số biện pháp để từng bước thoát ra khỏi những khó khăn,
để bảo vệ thành quả cách mạng tháng Tám.
Củng cố chính quyền cách mạng:
+ 7/9/1945 chính phủ cách mạng lâm thời công bố lệnh Tổng tuyển cử trong cả nứơc, đến
20/9 lập ủy ban dự thảo Hiến pháp
+ 6/1/1946 cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên trong cả nước, vượt qua những hành động chống
kẻ thù, tập trung lực lượng chống Pháp ở miền Nam. Ta nhân nhượng cho Tưởng 1 số
yêu sách về kinh tế và chính trị: chấp nhận dùng tiền “quan kim”, “quốc tệ”, cung cấp
lương thực cho Tưởng, chấp nhận nhường 1 số ghế trong Quốc hội. Đối với bọn phản
cách mạng và tay sai ta kiên quyết vạch trần bộ mặt bán nứơc hại dân của chúng.
+ 2/1930 Pháp ký với Tưởng hiệp định Hoa – Pháp để cho quân Pháp ra miền Bắc thế
chân quân Tưởng. Trước tình thế mới Đảng và chính phủ buộc phải thay đổi chính sách
kịp thời. Do vậy ta đã chủ động ký Hiệp định sơ bộ với Pháp (9/3/946) nhằm tranh thủ
thời gian hòa bình để củng cố và xây dựng lực lượng.
Nội dung của Hiệp định sơ bộ
+ Chính phủ Pháp công nhân Việt Nam dân chủ cộng hòa là quốc gia tự do trong Liên
hiệp Pháp có chính phủ riêng, nghị viện riêng, quân đội và tài chính riêng
+ Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc thay thế quân Tưởng
và sẽ rút hết trong vòng 5 năm.
+ 2 bên ngừng bắn ở Nam bộ
31/5/1946 chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn ta sang Pháp tham dự đàm phán ở
Phôngtennơblô từ tháng 7 đế tháng 9. Tuy nhiên cuối cung thất bại do hành động trì hoãn
của phía Pháp. Để tỏ rõ thiện chí hòa bình và có thêm thời gian chuẩn bị mọi mặt cho
cuộc kháng chiến sau này chủ tịch Hồ Chí Minh ký với đại diện Pháp tạm ước 14/9/1946.
Theo đó ta nhượng thêm cho Pháp 1 số quyền lợi về kinh tế, văn hóa.
Như vậy với ký kết hiệp định Sơ bộ 6/3 và Tạm ước 14/9 ta đã đập tan âm mưu cấu
kết giữa Tưởng và Pháp, quan trọng hơn ta có thời gian hòa bình vô cùng quý giá để
chuẩn bị cho cuộc kháng chiến sau này.
Tóm lại, đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” nhân dân ta dưới sự lãnh đọa của
Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã bảo vệ được thành quả của đã bảo vệ thành quả của
cách mạng, xây dựng và củng cố lực lượng để chuẩn bị kháng chiến lâu dài chống thực
dân Pháp.
Câu 5: Trình bày ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống pháp
Nguyên nhân thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp: +Có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt
của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra đường lối kháng chiến: Toàn dân, toàn
5/1975) dài hơn bất cứ cuộc chiến tranh nào trong lịch sử và phải chống lại một cưòng
quốc đế quốc mạnh nhất là Mĩ. Cuối cùng nhân dân ta đã giành được chiến thắng, thực
hiện trọn vẹn mục tiêu giải phóng hoàn toàn miền nam, bảo vệ chế độ XHCN ở miền bắc,
thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước “Mãi mãi
được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về
sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng CM và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới
như một chiến công vĩ đại của thế kỉ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế lớn lao và
có tính thời đại sâu sắc”. Đối với dân tộc Việt Nam cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu
nước thắng lợi đã kết thúc 21 năm chiến đấu chống Mĩ và 30 năm chiến tranh giải phóng
dân tộc, bảo vệ tổ quốc từ CMT8/1945, chấm dứt vĩnh viễn cách thống trị của chủ nghĩa
đế quốc và chế độ phong kiến ở nước ta, rửa sạch cái nhục và nỗi đau mất nước hơn một
thế kỉ. Trên cơ sở đó hoàn thành về cơ bản cuộc CM dân tộc dân chủ nhân dân trong cả
nước, bảo vệ và phát triển những thành tựu của CMXHCN ở miền bắc, xoá bỏ chướng
ngại trên con đường thực hiện thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống Mĩ cứu nước đã mở ra một kỉ nguyên mới của CM Việt Nam - Kỉ nguyên đất nước
độc lập, thống nhất, đi lên CNXH. Đó là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất, hiển hách
nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đối với thế giới, cuộc kháng
chiến chống Mĩ cứu nước thắng lợi đã đập tan cuộc phản kích lớn nhất vào lực lượng CM
sau chiến tranh thế giới thứ hai của tên đế quốc đầu sỏ, phá vỡ phòng tuyến quan trọng
ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á của đế quốc Mĩ, góp phần làm đảo lộn
chiến lược phản CM của chúng. Thắng lợi của nhân dân ta và thất bại của đế quốc Mĩ,
có tác động đến nội tình nước Mĩ và cục diện thế giới, có ảnh hưởng và là nguồn cổ vũ to
lớn đối với phong trào CM thế giới, các dân tộc đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc.
Nguyên nhân thắng lợi: Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta đã kết
thúc thắng lợi, do nhiều nguyên nhân chủ qua và khách quan tạo nên. Trước hết là sự
lãnh đạo của đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối chính trị, quân sự độc lập, tự
chủ, đúng đắn, sáng tạo. Đó là đường lối tiến hành đồng thời CM dân tộc dân chủ nhân
dân ở miền nam, về CM XHCN ở miền bắc. Nhân dân ta có truyền thống yêu nước nồng
nàn. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước do Đảng lãnh đạo, truyền thống đó
được phát huy cao độ, sức mạnh của dân tộc được tạo ra bởi truyền thống đó nhân lên
- Do nhân dân lao động làm chủ.
- Tất cả mọi công dân đúng độ tuổi quy định, không bị những hạn chế do nhà nước quy
định đều có quyền tham gia bầu cử.
- Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu
về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
- Con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột bất công, làm theo năng lực hưởng theo
lao động.
- Có nền Văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng phát triển.
- Không phân biệt sắc tộc.
- Có quan hệ hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc
lập chủ quyền của nhau.
Trong nước: Qua 4 năm đổi mới tình hình tuy có khởi sắc nhưng chưa ra khỏi sự khủng
hoảng, về kinh tế những khó khăn còn chồng chất như lạm phát, hậu quả của hai cuộc
chiến tranh phía bắc và phía tây nam đã làm cho những khó khăn ngày càng gay gắt. Thế
giới có những chuyển biến hết sức phức tạp, cuộc khủng hoảng toàn diện của hệ thống
XHCN ở liên xô và đông âu đã gây cho nước ta những khó khăn về tư tưởng mối quan hệ
đối ngoại truyền thống của nước ta không còn nữa. Kẻ thù của CM Việt Nam nhân cơ hội
đó ra sức chống phá chúng tạo ra diễn biến hoà bình nhằm xoá bỏ chế độ XHCN ở nước
ta.
Phương hướng cơ bản: Đại hội đã báo cáo chính trị khẳng định đường lối mới đúng đắn
của đại hội VI, tiếp tục đẩy mạnh những bước đi của CMVN để đưa nước ta ra khỏi
khủng hoảng về chiến tranh kinh tế trong một tình hình thế giới bất lợi. Mục tiêu CM của
đại hội khẳng định là giữ vững định hướng XHCN phát huy tinh thần độc lập tự chủ sáng
tạo kiên trì vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò lãnh
đạo của đảng và tích cực tìm ra những giải pháp thích hợp để xây dựng đất nước. Đại hội
đã đề ra chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội 1990-2000 mục tiêu tổng quát của
chiến lược là vượt qua khó khăn thử thách ổn định kinh tế xã hội. đẩy lùi tiêu cực bất
công trong XH đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế. sau đại hội VII sự nghiệp đổi
mới càng đi vào chiều sâu càng gặt hái được những thành quả to lớn, đã chấm dứt thiếu
mẫu của Đảng viên, đối mới phương thức lãnh đạo, nâng cao trình độ và hiệu quả lãnh
đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Đối với một đảng cầm quyền hoạt động trong nền kinh tế thị trường lại có sự tác động
của những thủ đoạn diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch từ bên ngoài thì việc luôn
luôn cảnh giác với hai nguy cơ chệch hướng và tha hoá biến chất của đội ngũ dẫn đến xa
dân.
Câu 9: Trình bày bài học kinh nghiệm nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội
Đây là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam, cơ sở lý luận khoa học có tính
nền tảng của bài học này để hoàn thành mục tiêu, cương lĩnh, đường lối CM Việt Nam là
chủ nghĩa Mac – Lênin và tư tưởng HCM. Ngay từ cương lĩnh đầu tiên của đảng đã
khẳng định giành độc lập dân tộc và đưa đất nước tiến lên XHCN. Đấy là mục tiêu,
đường lối phù hợp với khát vọng ngàn đời của dân tộc, về một đất nước độc lập và về
một xã hội tiến bộ (không có áp bức, bốc lột và bất công xã hội) cho nên đã được nhân
dân lao động và các dân tộc ở nước ta đoàn kết thống nhất ý chí và hành động đóng góp
sức người, sức của để làm CM thắng lợi. Đặt CM giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của
CM vô sản là sự lựa chọn đúng đắn sáng suốt của Nguyễn Ái Quốc – HCM điều đó phù
hợp với mục tiêu và xu thế của thời đại, cho nên trong suốt quá trình CM Việt Nam luôn
được sự cổ vũ ủng hộ của các tổ chức CM quốc tế và nhân dân yêu hòa bình công lý trên
thế giới, nhờ đó sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại (cả về tư tưởng và vật chất) đã
tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn cho CM Việt Nam thắng lợi. Từng giai đoạn việc
nắm vững và giương cao ngọn cờ Đoàn kết Dân tộc và CNXH đã tạo thành những đường
lối chiến lược, sách lược khác nhau phù hợp với thực tiễn tình hình.
Thời kì CMT8-1945 và thời kỳ chống Pháp: Nhiệm vụ giải phóng dân tộc là chủ yếu,
nhưng mục tiêu chiến lược lâu dài vẫn luôn được nhắc nhở trong nghị quyết của Đại hội
đảng
Thời kì đất nước tạm chia làm hai miền thì đồng thời tiến hành hai chiến lược CM miền
bắc xây dựng CNXH tạo cơ sở CM vững chắc cho cả nước… và miền Nam hoàn thành
CM dân tộc, dân chủ để giải phóng Miền Nam thống nhất tổ quốc
Thời kì đất nước thống nhất cả nước đi vào thời kì quá độ tiến lên CNXH, làm tốt hai