Bệnh lý lệ đạo
1. Tắc lệ đạo.
1. Phân loại tắc lệ đạo.
1.1. Phân loại theo vị trí tắc.
* Tắc lệ đạo trước túi lệ:
Khong có điểm lệ, lệ quản hoặc tắc điểm lệ, lệ quản. Nguyên nhân có thể là
bẩm sinh hay mắc phải. Thường gặp nhất là sau chấn thương gây rách, đứt lệ quản.
Cũng có thể gặp sau thông lệ đạo gây tổn thương lệ quản.
* Tắc lệ đạo sau túi lệ:
Tắc cổ túi lệ (Thường gặp trong viêm túi lệ mãn) hoặc tắc ống lệ mũi bẩm
sinh.
1.2. Phân loại theo thời gian mắc bệnh.
* Tắc lệ đạo bẩm sinh:.
Xuất hiện từ khi trẻ mới đẻ được 1 – 2 tuần hoặc có thể muộn hơn. Nguyên
nhân thường do ứ đọng chất dịch trong lòng lệ đạo, hoặc do tồn tại một màng mỏng
che lấp đầu dưới của ống lệ mũi nơi đổ vào ngách mũi. Có thể do ống lệ mũi chưa
được tạo ống hoàn chỉnh ở thời kỳ đầu sau khi sinh. Sau 1 -2 tuần khi đã hoàn thành
quá trình tạo ống, ống lệ mũi sẽ thông thoáng.
Cũng có thể gặp những dị tật bất thường như điểm lệ lạc chỗ, không có điểm
lệ hoặc thay đổi cấu trúc giải phẫu của đầu dưới ống lệ mũi. Trong trường hợp tắc
ống lệ mũi bẩm sinh có thể gặp các loại như sau:
- ống lệ mũi kết thúc ở gần vòm thuộc phần trước ngách mũi dưới và ngăn
cách với ngách mũi bởi một lớp niêm mạc mỏng.
- ống lệ mũi kết thúc ở khoảng giữa vòm ngách dưới và sàn mũi, không có lỗ
dưới.
- ống lệ mũi kết thúc ở trong cuốn dưới.
- ống lệ mũi kết thúc ở thành trong xoang hàm trên.
- ống lệ mũi phát triển trong thành của xương hàm trên xuống sàn mũi và
không có lỗ mở vào ngách mũi.
- ống lệ mũi dọc theo thành bên của ngách mũi tới sàn mũi.
- Tắc hoàn toàn ống lệ mũi: Đầu dưới ống lệ mũi ngăn cách với niêm mạc
2.1. Khám lâm sàng.
- Phát hiện chảy nước mắt là do mắt bị kích thích từ kết, giác mạc như: viêm
kết mạc, viêm giác mạc, loét giác mạc, viêm mống mắt, Glôcôm cấp, dị vật kết giác
mạc
- Khám mi mắt phát hiện: Hẹp lỗ lệ, không có lỗ lệ, lỗ lệ lạc chỗ. Dấu hiệu
lộn mi, lộn điểm lệ (Lỗ lệ không tiếp xúc với nhãn cầu). Sờ nắn và ấn vào túi lệ để
kiểm tra túi lệ có sưng nề không? Có mủ trào qua điểm lệ không?
- Quan sát liềm nước mắt: Có trường hợp dấu hiệu chảy nước mắt không rõ
ràng nhưng có liềm nước mắt cao. Khi đó nước mắt đọng ở góc trong mắt vùng hồ
lệ thành ngấn. Có thể đo độ cao của ngấn nước mắt bằng ánh sáng lọc xanh cobalt
của máy sinh hoá hiển vi sau khi nhỏ vào túi cùng kết mạc một giọt Eluorescein
2%.
2.2. Test sạch thuốc nhuộm.
Nhỏ vào hai túi kết mạc mỗi bên một giọt Fluorescein 2%. Sau 5 phút, bình
thường không có hoặc còn rất ít thuốc nhuộm. Sự ứ đọng thuốc nhuộm chứng tỏ
tình trạng không thích ứng của quá trình dẫn lưu nước mắt.
2.3. Test trào ngược.
Là test đơn giản, dễ làm, có giá trị trong chẩn đoán tắc ống lệ mũi.
Kỹ thuật: Nhỏ Fluorescein 2% vào túi cùng kết mạc. Yêu cầu người bệnh
chớp mắt 5 lần để kích hoạt bơm nước mắt. Sau đó kiểm tra sự trào ngược của nước
mắt đã nhuộm màu Fluorescein qua điểm lệ dưới bằng cách quan sát dưới ánh sáng
xanh Cobalt của đèn soi đáy mắt khi xoa nắn ngón tay trỏ vào vùng túi lệ. Thử
nghiệm dương tính khi có nước mắt được nhuộm màu trào qua điểm lệ dưới.
2.4. Bơm thăm dò lệ đạo.
Đây là một phương pháp khá chính xác để đánh giá tắc lệ đạo. Bơm dung
dịch nước muối sinh lý qua một trong hai lệ quản, có thể xảy ra những tình huống
sau:
- Khó đưa kim vào, không bơm được nước vào: Tắc lệ quản hoàn toàn.
của lệ đạo như: Lỗ lệ, lệ quản hoặc bơm nước mắt bị hỏng.
2.7. Chụp đường lệ có thuốc cản quang.
Xác định giới hạn giải phẫu túi lệ, ít có tác dụng đánh giá sinh lý sự lưu
thông nước mắt.
2.8. Chụp cắt lớp.
Thường áp dụng sau chấn thương, dị dạng bẩm sinh, nghi ngờ khối u.
2.9. Chụp nhấp nháy.
Bằng đồng vị phóng xạ, phương pháp này rất hữu ích vì có thể đánh giá được
sự dẫn lưu nước mắt trong điều kiện sinh lý.
3. Điều trị tắc lệ đạo.
Điều trị tắc lệ đạo tùy thuộc vào nguyên nhân và hình thái tắc lệ đạo.
3.1. Điều trị bảo tồn.
Điều trị bảo tồn tắc lệ đạo là phương pháp điều trị không làm thay đổi cấu
trúc giải phẫu và sinh lý bình thường của lệ đạo. Thường áp dụng cho tắc lệ đạo
bẩm sinh, còn tắc lệ đạo mắc phải ít có kết quả.
Điều trị bảo tồn gồm có: Nhỏ thuốc kháng sinh, day nắn túi lệ, bơm rửa lệ
đạo, thông lệ đạo, đặt ống Silicon, nong ống lệ mũi, điện đông ống lệ mũi.
* Day nắn túi lệ, nhỏ thuốc kháng sinh:
Phương pháp này được Crigler mô tả lần đầu tiên vào năm 1923. Đối với tắc
lệ đạo bẩm sinh, day nắn túi lệ kết hợp với tra thuốc kháng sinh tại chỗ và thuốc
chống xung huyết mũi có tỷ lệ khỏi cao với trẻ dưới 12 tháng tuổi. Với trẻ lớn
phương pháp này ít kết quả hơn.
Chỉ định: Day nắn, nhỏ thuốc kháng sinh có thể áp dụng cho tất cả các
trường hợp tắc ống lệ mũi bẩm sinh dưới 1 tuổi.
Chống chỉ định: Viêm túi lệ cấp.
Phương pháp này thường được lựa chọn đầu tiên để điều trị tắc ống lệ mũi
bẩm sinh, nhất là những trường hợp trẻ còn quá nhỏ. Do tính an toàn, rẻ tiền, đơn
giản, hiệu quả, dễ thực hiện nên đa số các tác giả áp dụng điều trị với thời gian khá
dài. Mỗi liệu trình điều trị thường từ 6 – 12 tháng.
Day nắn làm tăng áp lực trong lòng túi lệ và đẩy về phía ống lệ mũi làm
Các trường hợp tắc ống lệ mũi bẩm sinh điều trị bằng thông lệ đạo có 90%
khỏi sau lần thông thứ nhất và thêm 6% nữa ở lần thông thứ hai (Cách nhau 1 tuần).
Còn những trường hợp thất bại thường là do ống lệ mũi có cấu trúc giải phẫu bất
thường và có thể phát hiện trong khi thông lệ đạo. Những trường hợp này phải điều
trị phẫu thuật nối thông túi lệ mũi khi trẻ được 3 – 4 tuổi.
Nhiều tác giả còn chưa thống nhat về thời gian tốt nhất để thông lệ đạo. Đa
số đều cho rằng không nên thông trước 6 tháng tuổi vì ở thời kỳ này tắc ống lệ mũi
bẩm sinh còn đáp ứng cao với điều trị day nắn và để tránh những nguy cơ khi gây
mê ở trẻ nhỏ. Tuy nhiên điều trị day nắn không nên kéo dài quá với những trường
hợp không đáp ứng, nếu để lâu ngày tỷ lệ thành công càng giảm khi áp dụng các
phương pháp điều trị khác. Đa số các tác giả đều cho rằng nên thông lệ đạo trước 12
tháng tuổi vì tắc ống lệ mũi lâu ngày, hiện tượng viêm nhiễm kéo dài làm cho ống
lệ mũi hẹp lại bởi thâm nhiễm và phù nề. Mủ nhiều trong túi lệ dẫn tới giãn túi lệ,
mất trương lực làm giảm sút hiệu quả của bơm nước mắt. Biến chứng áp xe quanh
tuí lệ cũng gây biến đổi mô tế bào, chèn ép vào đường lệ. Các yếu tố đó làm cho
việc chữa trị những trường hợp tắc ống lệ mũi bẩm sinh lâu ngày trở nên khó khăn
hơn.
Trong quá trình thông lệ đạo, qua nội soi mũi có thể phát hiện được những
trường hợp bất thường như: ống lệ mũi kéo dài dọc theo thành bên của ngách mũi
tới sàn mũi nên không có lỗ dưới ống lệ mũi. Những trường hợp này cần phải trích
rạch thành ống để tạo mới lỗ dưới ống lệ mũi. Còn với hẹp ngách mũi dưới hoặc
cuốn dưới chèn ép gây bít tắc lỗ dưới của ống lệ mũi thì phải tiến hành bẻ cuốn mũi
dưới.
Trường hợp phải thông nhiều lần nên thông qua lệ quản trên để bảo vệ lệ
quản dưới.
Đối với tắc ống lệ mũi, một số tác giả chủ trương thông ngược từ dưới lên
qua đường mũi để bảo vệ lệ quản khỏi tổn thương nhưng phương pháp này khó thực
hiện nên ít áp dụng.
* Đặt vật ngăn cách trong lệ đạo:
Đối với một số hình thái tắc lệ đạo như: Tắc lệ quản, tắc hỗn hợp, hẹp ông lệ
của nội soi mũi cho tỷ lệ thành công cao.
* Nong ống lệ mũi:
Chỉ định: Các trường hợp tắc ống lệ mũi bẩm sinh đã điều trị thông lệ đạo
hoặc đặt ống Silicon thất bại.
Kỹ thuật: Luồn một ống thông đặc biệt (Có thể co giãn được) vào ống lệ
mũi, sau đó bơm khí vào để nong ống lệ mũi trong thời gian là 90 giây.
* Điện đông ống lệ mũi (Electrocoagulation of the nasolacrimal duct):
Dùng điện cực đặc biệt đưa vào lệ đạo đến chỗ tắc. Sức nóng của điện cực sẽ
làm thông chỗ tắc.
3.2. Điều trị phẫu thuật
Có nhiều phương pháp phẫu thuật điều trị tắc lệ đạo. Tuỳ thuộc vào từng vị
trí tắc, từ đơn giản đến phức tạp.
* Tắc trước túi lệ:
- Mở rộng điểm lệ.
- Cắt chỗ hẹp lệ quản.
- Nối thông hồ lệ – miệng: Tạo một đường hầm từ hồ lệ xuống miệng.
- Nối thông kết mạc – xoang hàm.
- Nối thông kết mạc – túi lệ.
- Nối thông kết mạc – túi lệ – mũi.
* Tắc sau túi lệ:
Chủ yếu là phẫu thuật nối thông túi lệ mũi.
Nguyên lý là tạo một đường dẫn nước mắt mới từ túi lệ sang hốc mũi không
qua ống lệ mũi bị tắc. Đây là phương pháp chính điều trị tắc ống lệ mũi mắc phải.
Có hai phương pháp phẫu thuật, đó là: Phẫu thuật nối thông túi lệ mũi qua đường
mũi và phẫu thuật nối thông túi lệ mũi qua đường rạch da.
+ Phẫu thuật nối thông túi lệ mũi qua đường mũi: Có ưu điểm là thời gian
phẫu thuật ngắn, ít sang chấn mô lành xung quanh đường lệ, không để lại sẹo nhưng
kết quả thường thấp hơn phẫu thuật nối thông túi lệ mũi qua đường rạch da.
+ Phẫu thuật nối thông túi lệ mũi qua đường rạch da: Hiện nay có hai phẫu
thuật chính thường áp dụng là phẫu thuật Taumi và phẫu thuật Dupuy-Dutemps.