DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
1 AVA Công ty TNHH tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam
2 BCĐKT Bảng cân đối kế toán
3 BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
4 BCTC Báo cáo tài chính
5 BGĐ Ban giám đốc
6 HĐ Hoá đơn
7 HĐQT Hội đồng quản trị
8 HTKSNB Hệ thống kiểm soát nội bộ
9 KSNB Kiểm soát nội bộ
10 KTV Kiểm toán viên
11 NK Nhập kho
12 NVL Nguyên vật liệu
13 PN Phiếu nhập
14 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
15 VN Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày nay, hoạt động
kiểm toán đã được hình thành và phát triển một cách nhanh chóng. Cùng với sự
ra đời của các công ty kiểm toán thì nhà nước hay đặc biệt là Bộ Tài chính đã
Trường ĐH Kinh tế quốc dân
Lớp Kiểm toán 46A
ban hành các quy định, quy chế, chuẩn mực kế toán và kiểm toán để tạo hành
lang pháp lý cho các tổ chức, ngành hoạt động một cách năng động hơn và có
định hướng phát triển một cách rõ ràng hơn. Hoạt động kiểm toán đã đóng một
vai trò tích cực trong sự phát triển chung của nền kinh tế ngày nay.
Kiểm toán đã trở thành một chuyên ngành đào tạo chính trong trường Đại học
Kinh tế quốc dân. Để giúp cho sinh viên nắm chắc được lý thuyết và đạt được
một sự hiểu biết nhất định về thực tế nhà trường có dành một kỳ cho sinh viên
thực tập.Trong quá trình thực tập tại các công ty Kiểm toán, chúng em được tìm
Khoá luận tốt nghiệp
3
Trường ĐH Kinh tế quốc dân
Lớp Kiểm toán 46A
Chương I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN CHU TRÌNH MUA
HÀNG – THANH TOÁN TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1. Chu trình kiểm toán mua hàng – thanh toán trong quá trình sản
xuất kinh doanh.
1.1.1. Đặc điểm, vị trí và nội dung của chu trình mua hàng – thanh toán
trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động kiểm toán đã phát triển
và ngày càng trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối với các hoạt động kinh
doanh. Đối tượng chủ yếu của hoạt động kiểm toán là kiểm toán báo cáo tài
chính, các kiểm toán viên thường chia công việc kiểm toán theo các chu trình,
theo cách này các nghiệp vụ và các tài khoản có liên quan chặt chẽ với nhau
được xếp vào cùng một phần hành.
Chu trình mua hàng – thanh toán là một chu trình quan trọng cần phải
được kiểm toán trong các đợt kiểm toán, bởi vì chi phí cho dịch vụ mua hàng
thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng
trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Quá trình mua vào của hàng hoá và dịch vụ bao gồm các khoản mục như
mua nguyên liệu, máy móc, thiết bị, vật tư, điện nước, sửa chữa bảo trì và nghiên
cứu phát triển. Chu trình mua hàng – thanh toán bao gồm các quyết định và các
quá trình cần thiết để có hàng hoá và dịch vụ cho quá trình hoạt động của doanh
nghiệp. Chu trình thường bắt đầu bằng việc lập một đơn đặt mua của người có
trách nhiệm tại bộ phận cần hàng hoá hay dịch vụ nhận được.
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp
5
Trường ĐH Kinh tế quốc dân
Lớp Kiểm toán 46A
- Tìm nhà cung cấp: bộ phận mua hàng căn cứ vào đơn yêu cầu mua hàng
này để xem xét, tìm kiếm nhà cung cấp. Về nguyên tắc, trước khi quyết
định mua một mặt hàng nào cũng phải tìm hiểu đơn chào hàng của nhiều
nhà cung cấp khác nhau để lựa chọn nhà cung cấp thích hợp nhất.
- Lựa chọn nhà cung cấp : sau khi đã xem xét đơn chào hàng của các nhà
cung cấp khác nhau, đơn vị sẽ chọn ra một nhà cung cấp phù hợp nhất. Sự
lựa chọn này căn cứ vào giá cả, chất lượng của hàng hoá và các điều kiện
ưu đãi như chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, phương thức
thanh toán…
- Giao đơn đặt hàng : đơn đặt hàng là một loại chứng từ trong đó ghi rõ loại
hàng, số lượng, các thông tin liên quan đến hàng hoá mà doanh nghiệp có
ý định mua vào. Tất cả các đơn đặt hàng đều phải đánh số trước, có đầy đủ
chữ ký của những người có thẩm quyền. Tất cả các đơn đặt hàng phải bao
gồm vừa đủ số cột và diện tích để hạn chế tối đa khả năng có gian lận trên
đơn đạt mua hàng này.
Các bước công việc trên cho thấy đơn đặt hàng (yêu cầu về sản phẩm hoặc
dịch vụ) được lập bởi người mua hàng là điểm khởi đầu của chu trình. Nó là một
chứng từ hợp pháp và được xem như một đề nghị để mua hàng hoá dịch vụ.
Trong một số trường hợp khác, nếu người mua và người bán lần đầu có quan hệ
giao dịch hoặc thực hiện những quan hệ giao dịch lớn và phức tạp thì đòi hỏi
phải ký hợp đồng cung ứng hàng hoá hay dịch vụ nhằm đảm bảo việc thực hiện
các quyền lợi hay nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng.
Mẫu của bản yêu cầu và sự phê chuẩn quy định phụ thuộc vào bản chất
của hàng hoá dịch vụ và quy định của công ty. Trong đó việc phê chuẩn đúng
đắn nghiệp vụ mua hàng có chức năng chính vì nó đảm bảo hàng hoá và dịch vụ
được mua theo đúng mục đích đã được phê chuẩn và tránh cho việc mua quá
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp
7
Trường ĐH Kinh tế quốc dân
Lớp Kiểm toán 46A
Thông thường các công ty có phòng tiếp nhận để nhận hàng, kiểm tra mẫu
mã, số lượng, quy cách và thời gian giao hàng để ngăn ngừa sự mất mát và lạm
dụng. Bộ phận này đồng thời lập biên bản hay báo cáo nhận hàng gửi cho thủ
kho một bản để tiến hành nhập kho hàng hoá và gửi cho kế toán vật tư để ghi
chép sổ sách kế toán.
Để tiện cho việc kiểm tra chéo thì nhân viên phòng tiếp nhận phải độc lập
với thủ kho và phòng kế toán. Cuối cùng, sổ sách kế toán sẽ phản ánh việc
chuyển giao trách nhiệm đối với hàng hoá khi hàng hoá được từ phòng tiếp nhận
qua kho và từ kho vào quá trình sản xuất hay đưa đi tiêu thụ.
1.1.2.3. Ghi nhận các khoản nợ người bán.
Sự ghi nhận đúng đắn về hàng hoá hay dịch vụ nhận đựoc đòi hỏi việc ghi
sổ chính xác và nhanh chóng. Việc ghi sổ ban đầu có ảnh hưởng quan trọng đến
các báo cáo tài chính và đến các khoản thanh toán thực tế nên kế toán chỉ được
phép ghi vào các lần mua có cơ sở hợp lý theo đúng số tiền.
Kế toán các khoản phải trả thường có trách nhiệm kiểm tra tính đúng đắn
của các lần mua và ghi chúng vào sổ Nhật ký và sổ hạch toán chi tiết “ các khoản
phải trả”. Khi kế toán các khoản phái trả nhận được hoá đơn của người bán thì
phải so sánh mẫu mã, giá, số lượng, phương thức và chi phí vận chuyển ghi trên
hoá đơn vơi thông tin trên đơn đặt mua ( hoặc hợp đồng ) và Báo cáo nhận hàng
( nếu hàng đã về ). Thường thì các phép nhân và các phép tổng cộng được kiểm
tra lại và được ghi vào hoá đơn. Sau đó số tiền được chuyển vào sổ hạch toán chi
tiết các khoản phải trả.
Một quá trình kiểm soát quan trọng đối với các khoản phải trả là quy định
tất cả những ai ghi sổ các khoản chi tiền mặt không được dính líu đến tiền mặt,
các chứng khoán thị trường và các tài sản khác.
nhận bởi khách hàng để chứng minh sự chuyển giao hàng hoá hay dịch vụ
thực tế.
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp
9
Trường ĐH Kinh tế quốc dân
Lớp Kiểm toán 46A
- Báo cáo nhận hàng : được bộ phận nhận hàng lập như một bằng chứng của
việc nhận hàng và sự kiểm tra hàng hoá ( dấu hiệu của sự kiểm soát ).
- Hoá đơn của người bán : chứng từ nhận được từ người cung cấp hàng đề
nghị thanh toán cho các hàng hoá dịch vụ đã được chuyển giao.
- Nhật lý mua hàng : đây là những ghi chép đầu tiên trong hệ thống kế toán
để ghi lại các khoản mua. Nhật ký phải liệt kê danh sách các loại hàng
hoá, cùng với việc chỉ ra tên nhà cung cấp hàng, ngày hoá đơn và các
khoản tiền của hoá đơn đó.
- Sổ hạch toán chi tiết nợ phải trả nhà cung cấp : danh sách các khoản tiền
phải trả cho mỗi nhà cung cấp. Tổng số của tài khoản người cung cấp
hàng trong sổ hạch toán chi tiết phải bằng khoản tiền ghi trên khoản mục
phải trả người bán.
- Bảng đối chiếu của nhà cung cấp : báo cáo nhận được của nhà cung cấp
hàng ( thường là hàng tháng ) chỉ ra các hoá đơn chưa thanh toán vào một
ngày đối chiếu nhất định.
Sau đây là sơ đồ hạch toán đối với nghiệp vụ thanh toán nợ phải trả với
nhà cung cấp thông qua các tài khoản liên quan
Sơ đồ 1.1: Hạch toán nghiệp vụ phát sinh trong chu trình mua hàng – thanh toán
(thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ)
1.1.3.2. Quy trình tổ chức chứng từ mua hàng – thanh toán.
Quy trình tổ chức chứng từ kế toán chỉ ra dòng vận động của chứng từ kế
toán trong doanh nghiệp từ khi lập chứng từ, thực hiện nghiệp vụ đến khi đưa
chứng từ vào bảo quản, lưu trữ. Một quy trình luân chuyển chứng từ hợp lý giúp
hàng – thanh toán.
Các mục tiêu kiểm toán đặc thù đối với chu trình mua hàng – thanh toán
đã xác định được bao gồm bảy mục tiêu :
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp
11
Trường ĐH Kinh tế quốc dân
Lớp Kiểm toán 46A
- Tính có thực: của hàng hoá hay dịch vụ mua vào cũng như các khoản nợ
người bán với ý nghĩa các thông tin phản ánh tài sản hoặc công nợ phải
được đảm bảo bằng sự tồn tại của các tài sản cũng như công nợ đó.
- Tính đầy đủ: của việc ghi nhận các hàng hóa hay dịch vụ mua vào và các
khoản phải trả người bán với ý nghĩa thông tin phản ánh trên sổ sách, tài
liệu kế toán không bị vỏ sót trong quá trình xử lý.
- Tính đúng đắn trong việc tính giá vốn thực tế: hàng nhập kho được tính
theo chi phí thực tế thực hiện nghiệp vụ, việc tính toán các khoản phải trả
người bán phù hợp với hợp đồng mua bán, phù hợp với hoá đơn người bán
và biên bản giao nhận hành hoá hay dịch vụ.
- Tính đúng đắn trong việc phản ánh quyền và nghĩa vụ: với ý nghĩa tài sản
mua vào phản ánh trên BCTC phải thuộc quyền sở hữu của đơn vị và nợ
phải trả người bán thể hiện đúng nghĩa vụ của đơn vị này.
- Tính chính xác về số học: trong việc tính toán, cộng dồn, chuyển sổ đối với
các nghiệp vụ mua hàng – thanh toán.
- Tính đúng đắn trong việc phân loại và trình bày: các tài sản mua vào cũng
như các khoản phải trả người bán với ý nghĩa tuân thủ các quy định trong
việc phân loại các tài sản và công nợ cùng việc thể hiện đúng nghĩa vụ của
đơn vị này.
- Tính đúng kỳ: các nghiệp vụ kinh tế được ghi chép đúng kỳ kế toán đặc
biệt là các nghiệp vụ sau ngày kết thúc năm tài chính. Trong chu trình mua
hàng – thanh toán, các khoản nợ phải trả thường được ghi chậm so với
hàng – thanh toán cũng tuân theo các bước như sau :chuẩn bị kiểm toán, thu thập
thông tin cơ sỏ, thu thập thông tin về quyền và nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
và thực hiện các thủ tục phân tích, đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán, cuối
cùng là lập chương trình kiểm toán.
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp
13
Trường ĐH Kinh tế quốc dân
Lớp Kiểm toán 46A
1.2.1.1. Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán.
- Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán:
Trên thực tế không phải bất cứ một lời mời kiểm toán nào cũng được chấp
nhận ngay mà phải căn cứ vào khả năng cuả công ty và các điều kiện của khách
hàng. Trong giai đoạn này KTV đánh giá rủi ro có thể gặp phải khi tiến hành
kiểm toán chu trình mua hàng – thanh toán của doanh nghiệp, sau đó kết hợp với
việc đánh giá các chu trình khác để đưa ra quyết định có chấp nhận kiểm toán
cho doanh nghiệp hay không.
- Nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng:
Sau khi đã chấp nhận kiểm toán, công ty kiểm toán tiến hành xem xét các
lý do kiểm toán đối với chu trình mua hàng – thanh toán của khách hàng để từ đó
xác định số lượng bằng chứng kiểm toán phải thu thập và mức độ chính xác của
các ý kiến mà KTV đưa ra trong báo cáo kiểm toán nói chung.
- Lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán:
Thông qua việc nhận diện các lý do kiểm toán của khách hàng, công ty
kiểm toán ước lượng được quy mô phức tạp của cuộc kiểm toán, từ đó lựa chọn
đội ngũ nhân viên thích hợp để thực hiện kiểm toán. Cụ thể công ty kiểm toán sẽ
lựa chọn những nhân viên có nhiều kinh nghiệm trong kiểm toán chu trình mua
hàng – thanh toán để kiểm toán chu trình này. Số lượng và trình độ của các KTV
phụ thuộc vào tính phức tạp và mức rủi ro của chu trình.
- Hợp đồng kiểm toán :
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp
15
Trường ĐH Kinh tế quốc dân
Lớp Kiểm toán 46A
Việc thăm quan nhà xưởng sẽ cung cấp cho KTV những điều mắt thấy tai
nghe về quy trình sản xuất kinh doanh của khách hàng, giúp cho KTV đánh giá
tình trạng bảo quản, nhập và xuất hàng hoá từ đó đánh giá khả năng của bộ phận
mua hàng và những gian lận sai sót có thể xảy ra trong quá trình mua hàng. Cụ
thể, nếu việc sản xuất diễn ra đều đặn, hàng hoá không bị ứ đọng, chất lượng sản
phẩm không bị giảm sút có nghĩa là việc mua hàng tiến triển tốt, hàng hoá mua
vào có chất lượng đạt yêu cầu. Ngược lại, nếu sản xuất bị đình trệ thì đó là dấu
hiệu cho thấy khả năng đầu vào cung cấp không kịp thời, nếu hàng hoá tồn kho
quá nhiều thì có nghĩa là mua hàng không hợp với nhu cầu, chất lượng giảm sút
cho thấy chất lượng các yếu tố đầu vào không tốt.
- Nhận diện các bên hữu quan:
Trong giai đoạn này KTV cần xác định tất cả các bên hữu quan của khách
hàng. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam thì các bên hữu quan được hiểu là :
các bộ phận trực thuộc (các chi nhánh, các đại lý…), các nhà cung cấp, các cá
nhân tổ chức mà công ty có quan hệ. Trong quy trình kiểm toán chu trình mua
hàng – thanh toán các bên hữu quan mà KTV quan tâm chủ yếu là nhà cung cấp,
đại lý, các tổ chức có ảnh hưởng đến quyết định mua của công ty khách hàng.
Việc nhận diện các bên hữu quan sẽ giúp cho KTV trong quá trình thu
thập bằng chứng kiểm toán có nhiều thuận lợi hơn.
- Dự kiến nhu cầu chuyên gia bên ngoài:
Trong khi kiểm toán chu trình mua hàng – thanh toán, sẽ có những trường
hợp phải giám định giá trị của những hàng hoá mà doanh nghiệp mua vào. Nếu
trong nhóm kiểm toán không ai có khả năng giám định thì họ sẽ phải sử dụng
chuyên gia trong những lĩnh vực nói trên.
Sau khi có được những thông tin cơ sở về quy trình mua vào và thanh toán
quan ảnh hưởng tới nợ phải trả của khách hàng.
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp
17
Trường ĐH Kinh tế quốc dân
Lớp Kiểm toán 46A
- Các quy định chính sách về mua hàng – thanh toán: qua đây KTV xem xét
có phù hợp với các quy định chính sách của Nhà nước hay không
1.2.1.4. Thực hiện các thủ tục phân tích.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam : “KTV phải áp dụng quy trình phân
tích trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán để tìm hiểu tình hình kinh doanh của
đơn vị và xác định những vùng có thể rủi ro”. Như vậy, với các thông tin cơ sở
thu thập được, bằng thủ tục phân tích sơ bộ như so sánh các số liệu năm nay vói
số liệu năm trước đã được kiểm toán, KTV có thể tìm ra những xu hướng biến
động và những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác…Từ
đó lập một kế hoạch kiểm toán thích hợp.
Đối với chu trình mua hàng – thanh toán, thủ tục phân tích sơ bộ thường
được thực hiện như sau :
- So sánh chi phí mua hàng của kỳ này với kỳ trước để xem xét những biến
động bất thường.
- Phân tích xu hướng tăng, giảm hoặc kiểm tra tính hợp lý của các yếu tố
chi phí giữa các kỳ kế toán để phát hiện những biến động bất thường.
- Phân tích tỷ lệ chi phí mua hàng của từng tháng với nợ phải trả được ghi
nhận trong từng tháng hoặc với các khoản thực tế đã thanh toán.
1.2.1.5. Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán.
Nếu ở các bước trên, KTV mới chỉ thu thập các thông tin mang tính khách
quan về khách hàng thì ở bước này, KTV sẽ căn cứ vào các thông tin đã thu thập
để đánh giá, nhận xét nhằm đưa ra một kế hoạch kiểm toán phù hợp.
a. Đánh giá tính trọng yếu.
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp
19
Trường ĐH Kinh tế quốc dân
Lớp Kiểm toán 46A
hoạch kiểm toán, KTV phải xác định rủi ro kiểm toán mong muốn (AR) cho toàn
bộ BCTC được kiểm toán thông qua việc đánh giá ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng
(IR), rủi ro kiểm soát (CR) và rủi ro phát hiện (DR).
Trong đó rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát sẽ được KTV đánh giá đối
với từng khoản mục. Trong chu trình mua hàng – thanh toán, các rủi ro cơ bản
thường gặp đối với các nghiệp vụ trong chu trình là :
Giá trị hàng hoá, dịch vụ : chi phí mua hàng thấp hơn thực tế.
- Hàng hoá, dịch vụ đã nhận được, chi phí đã phát sinh nhưng chưa được
ghi nhận.
- Giá trị hàng hoá, dịch vụ mua: chi phí mua hàng được ghi sổ thấp hơn
thực tế.
- Hàng hoá, dịch vụ đã nhận được hoặc đã phát sinh chi phí trong kỳ này
nhưng được ghi sổ vào kỳ sau.
Hàng hoá trả lại nhà cung cấp cao hơn giá trị thực tế
- Ghi giảm Nợ phải trả nhà cung cấp nhưng hàng chưa trả lại.
- Ghi giảm Nợ phải trả nhà cung cấp cao hơn giá trị hàng trả lại thực tế.
- Hàng trả lại vào kỳ sau nhưng ghi sổ nghiệp vụ vào kỳ này.
Giá trị thanh toán nợ cao hơn thực tế
- Ghi sổ thanh toán nhưng chưa trả tiền.
- Ghi sổ thanh toán cao hơn thực tế.
- Trả tiền kỳ sau nhưng ghi sổ thanh toán vào kỳ này.
Số dư Nợ phải trả nhà cung cấp không hợp lý
- Số dư Nợ phải trả nhà cung cấp không tính toán đúng.
- Trình bày các số dư Nợ phải trả nhà cung cấp không hợp lý.
Trọng yếu và rủi ro là hai khái niệm đặc biệt quan trọng trong kiểm toán
phần “chức năng của chu trình mua hàng – thanh toán”.
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp
21
Trường ĐH Kinh tế quốc dân
Lớp Kiểm toán 46A
Qua quá trình tìm hiểu, KTV sẽ xác định được các nhược điểm của
HTKSNB, từ đó có thể đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát đối với từng mục
tiêu kiểm soát của nghiệp vụ mua hàng – thanh toán. Nếu HTKSNB được thiết
kế và vận hành hữu hiệu thì rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức độ thấp và
ngược lại.
Theo chuẩn mực kiểm toán Quốc tế số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát
nội bộ, đoạn 08: “HTKSNB là toàn bộ những chính sách và thut tục do BGĐ của
đơn vị thiết lập nhằm đảm bảo việc quản lý chặt chẽ và sự hiệu quả của các hoạt
động trong khả năng có thể. HTKSNB bao gồm các yếu tố : môi trường kiểm
soát, hệ thống kế toán, các thủ tục kiểm soát và kiểm toán nộ bộ”. Các yếu tố cấu
thành trong HTKSNB và những đánh giá.
• Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát bao gồm toán bộ những nhân tố bên trong đơn vị và
bên ngoài đơn vị có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử
lý dữ liệu của các loại hình kiểm soát.
Nhưng đối với chu trình mua hàng – thanh toán thì có thể hiểu môi trường
kiểm soát là các chính sách, quyết định nói chung tác động đến việc xử lý dữ
liệu, việc ghi sổ, việc lập báo cáo…
Để có sự hiểu biết về môi trường kiểm soát, KTV căn cứ vào các nhân tố
chủ yếu sau: đặc thù về quản lý của đơn vị, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự,
công tác kế hoạch, uỷ ban kiểm soát và ảnh hưởng của các chính sách từ bên
ngoài của Nhà nước.
• Hệ thống kế toán
Đối với một hệ thống kế toán hữu hiệu không chỉ cung cấp những thông
kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán”. Các thủ tục kiểm soát
được thiết lập dựa trên ba nguyên tắc: nguyên tắc phân công , phân nhuệm rõ
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp
23
Trường ĐH Kinh tế quốc dân
Lớp Kiểm toán 46A
ràng; nguyên tắc bất kiêm nhiệm và nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn. Để có sự
hiểu biết về các thủ tục kiểm soát, KTV xem xét các khía cạnh cụ thể sau:
Nguyên tắc phân công, phân nhiệm
KTV cần tìm hiểu xem đơn vị có sự phân chia nhiệm vụ giữa các bộ phận
hay không. Chẳng hạn, kế toán không được kiêm nhiệm làm thủ kho, thủ quỹ,
tiếp liệu và các công tác phụ trách vật chất khác, lãnh đạo đơn vị kể cả lãnh đạo
công tác tài chính, kế toán của các đơn vị không được bố trí những người thân
trong gia đình làm công tác tài chính, kế toán, thủ kho, thủ quỹ tại đơn vị mình.
Việc phân công, phân nhiệm rõ ràng tạo sự chuyên môn hoá trong công việc, sai
sót ít xảy ra và khi xảy ra thường dễ phát hiện do có sự kiểm tra chéo.
Nguyên tắc bất kiêm nhiệm
Nguyên tắc này quy định sự cách ly thích hợp về trách nhiệm trong các
nghiệp vụ có liên quan nhằm ngăn ngừa các sai phạm và hành vi lạm dụng quyền
hạn.
Trong chu trình mua hàng – thanh toán có một số công việc đòi hỏi phải
do hai người độc lập tiến hành như: người lập đơn đặt hàng với người lý duyệt
đon, người nhận hàng với kế toán vật tư, kế toán ghi sổ chi tiết các khoản phải
trả nhà cung cấp với người thanh toán cho nhà cung cấp.
Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn
Cụ thể, các lần mua tài sản thường xuyên vượt quá một giới hạn tiền nhất
định nào đó thì do HĐQT phê chuẩn, các vật tư và những dịch vụ có giá trị thấp
hơn một giá trị quy định thì được phê chuẩn bởi quản đốc và trưởng phòng, hoặc
các nghiệp vụ thanh toán ở một giá trị cho phép thì kế toán trưởng có quyền phê
đánh giá rủi ro kiểm soát ban đầu đối với từng mục tiêu kiểm soát của
từng loại nghiệp vụ trong chu trình. KTV có thể đánh giá rủi ro theo yếu
tố định tính thấp. trung bình, cao hoặc theo tỷ lệ phần trăm. Rủi ro kiểm
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Khoá luận tốt nghiệp
25