Khóa luận tốt nghiệp 1
LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi ra đời cho đến nay, lĩnh vực kiểm toán đã không ngừng phát triển cả trên
thế giới cũng như ở Việt Nam. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các công ty kiểm toán
và nhu cầu kiểm toán ngày một gia tăng trong những năm gần đây là thực tế chứng
minh vài trò và tầm quan trọng của loại hình dịch vụ này trong nền kinh tế hiện nay.
Cùng với xu thế phát triển chung đó, một số công ty kiểm toán đã thể hiện rõ sự phát
triển vượt bậc của mình trong số đó phải kể đến sự phát triển không ngừng cũng như
bề dầy lịch sử hoạt động trong lĩnh vực kế toán kiểm toán của Công ty Dịch vụ Tư
vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC).
Qua thời gian thực tập tại Công ty em đã tìm hiểu, nghiên cứu lý luận và thực
tiễn tại các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty AASC thực hiện. Em
nhận thấy rằng chu trình kiểm toán mua hàng thanh toán là chu trình kiểm
toán có ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản mục trên Báo cáo tài chính và có
ảnh hưởng lớn đến cuộc kiểm toán nên em đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công
tác kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán trong kiểm toán Báo cáo tài
chính do Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán thực
hiện”
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm tiếp cận lý luận về kiểm toán báo cáo tài
chính nói chung cũng như kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán nói riêng, mô tả
thực tế kiểm toán của chu trình do Công ty AASC thực hiện, từ đó đưa ra giải pháp
nhằm hoàn thiện kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiện cứu chuyên đề là lý luận về kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán
chu trình mua hàng thanh toán trong kiểm toán báo cáo tài chính và thực tiễn hoạt
động kiểm toán chu trình tại Công ty AASC.
Phạm vi nghiên cứu: Em nghiên cứu đề tài này trong phạm vi tìm hiểu và thực
tiễn hoạt động kiểm tóan chu trình mua hàng thanh toán tại hai khách hàng ABC và
SVTH: Dương Thị Thủy Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp 2
XYZ. Trong đó khách hàng ABC là khách hàng thường niên của công ty và khách
hành cơ bản của kiểm toán tài chính và có mối liên quan mật thiết với nhau. Đứng
trên góc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp, mua hàng cùng với tiền lương nhân
viên được xem là chi phí, nguồn sử dụng vốn không thể thiếu trong hoạt động của
mỗi doanh nghiệp. Các hoạt động của các chu trình này là liên tục, tuần hoàn lặp đi
lặp lại tạo nên chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quy mô, tính chất của
các chi phí này phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng hoạt động kinh doanh.
Chu trình mua hàng thanh toán được đề cập trong khóa luận này là chu trình
nghiệp vụ kinh tế của các doanh nghiệp thực hiện quá trình mua hàng thanh toán cho
hàng hóa và dịch vụ của nhà cung cấp. Quá trình mua vào của hàng hóa dịch vụ bao
gồm những khoản mục như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, vật tư, điện nước,…
Chu trình này không bao gồm quá trình mua hàng thanh toán các dịch vụ lao động
hoặc những sự chuyển nhượng và phân bổ chi phí bên trong tổ chức. Nó bao gồm các
quyết định, các quá trình cần thiết để có được hàng hóa dịch vụ cho quá trình hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Nó chuyển đổi quyền sở hữu hàng hóa từ nhà
cung cấp sang doanh nghiệp, doanh nghiệp có được nguyên nhiên vật liệu hàng hóa
để sản xuất, đổi lại doanh nghiệp phải mất 1 khoản vốn khi thanh toán số tiền mua
hàng.
SVTH: Dương Thị Thủy Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp 4
1.1.2 Chức năng của chu trình mua hàng thanh toán
Với mỗi doanh nghiệp, tùy vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của mình mà
thiết kế chu trình mua hàng thanh toán sao cho phù hợp. Tuy nhiên, mọi sơ đồ hoạt
động của chu trình đều nhằm mục đích kiểm soát hoạt động và đem lại hiệu quả cao
nhất cho mua hàng- thanh toán. Hiệu quả của quá trình này mà doanh nghiệp hướng
tới là thu mua được hàng hóa phù hợp yêu cầu sản xuất với giả cả hợp lý và đáp ứng
thời gian sản xuất. Với mục đích đó, thông thường chức năng của chu trình mua hàng
thanh toán được khái quát theo sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1 Chức năng của chu trình mua hàng thanh toán
SVTH: Dương Thị Thủy Kiểm toán 47A
Ghi nhận
Nhu cầu mua hàng được xây dựng từ từng bộ phận trong đó bộ phận sản xuất
thường đóng vai trò quan trọng và bước công việc này nhằm hướng tới nhu cầu của
bộ phận này.
Bộ phận sản xuất, nhu cầu về hàng hóa được xác định dựa trên :
- Kế hoạch sản xuất : với kế hoạch đặt ra thì nhu cầu về nguyên vật liệu, hàng
hóa, dịch vụ là bao nhiêu. Nhu cầu này có thể được xác định bởi bộ phận kế
hoạch đã được trình bày trong bản kế hoạch sản xuất, hoặc cũng có thể do bộ
phận sản xuất thực hiện tính ra chi phí liên quan dựa trên sản phẩm kế hoạch
mà bộ phận kế hoạch đã đặt ra.
- Dự trữ : yêu cầu dự trữ của công ty quy định mức dự trữ tối thiểu trong kho là
bao nhiêu mà bộ phận kho đưa ra nhu cầu về dự trữ cho phù hợp
- Phục vụ sản xuất : Đây được xem là nhu cầu lớn nhất trong sản xuất, nó phản
ảnh nhu cầu về hàng hóa dịch vụ cho thực tại sản xuất tại doanh nghiệp
- Tiêu thụ thực tế : Mục đích của sản xuất là phải tiêu thụ được sản phẩm mình
làm ra, do đó dựa trên mức tiêu thụ thực tế là cở sở chính xác nhất cho sản
xuất.
Bộ phận khác : nhu cầu về hàng hóa dịch vụ, thiết bị,… được dựa trên nhu cầu sử
dụng và hạn mức sử dụng đã được quy định trong các văn bản của công ty.
Tổng hợp nhu cầu
Dựa trên các nhu cầu đã được đưa lên, phòng cung ứng vật tư có nhiệm vụ tổng
hợp các nhu cầu này, đây là nhu cầu thực tế của các bộ phận nhưng chưa phải là nhu
cầu mà doanh nghiệp cần lập đơn đặt hàng. Phòng vật tư phải xem xét tình hình dự
trữ đang có của doanh nghiệp đồng thời căn cứ vào kế hoạch sản xuất xem đã cần
thiết hay chưa. Sau khi tổng hợp và phân tích nhu cầu phòng vật tư sẽ đưa ra nhu cầu
hàng hóa, dịch vụ để lập đơn đặt hàng. Trong đơn đặt hàng nêu rõ chủng loại , số
lượng, quy cách hàng mua và thời điểm mua.
SVTH: Dương Thị Thủy Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp 6
Xét duyệt của ban giám đốc: mọi đơn đặt hàng đều phải được sự phê duyệt của
Ban giám đốc.
1.1.2.4 Thực hiện thanh toán
Thanh toán ngay: dựa trên hóa đơn, vận đơn, biên bản kiểm nhận hoặc điều
khoản thanh toán trong hợp đồng, kế toán lập phiếu chi nếu thanh toán bằng tiền mặt,
hoặc lập ủy nhiệm chi nếu thanh toán chuyển khoản. Phiếu chi và ủy nhiệm chi phải
được phê duyệt của giám đốc. Sau khi thanh toán, kế toán phản ánh chính xác và đầy
đủ trên sổ kế toán liên quan
Chưa thanh toán: kế toán thực hiện bút toán phản ánh nghĩa vụ phải trả trên sổ
chi tiết và sổ cái tài khoản 331. Khi thực hiện thanh toán, thực hiện các bước tương
tự như trên.
1.1.3 Chứng từ sổ sách và các tài khoản liên quan đến chu trình
1.1.3.1 Chứng từ
Yêu cầu mua : tài liệu được lập bởi bộ phân có nhu cầu hàng hóa dịch vụ để đề
nghị mua
Đơn đặt hàng : được lập sau khi đã tổng hợp , cân đối nhu cầu mua. Trong đơn
đặt hàng phản ánh đầy đủ chi tiết yêu cầu với nhà cung cấp về mặt hàng hoặc loại
hình dịch vụ doanh nghiệp đang cần đồng thời cũng là cơ sở để nhà cung cấp chuẩn
bị đáp ứng hàng hóa dịch vụ cho khách hàng.
Hợp đồng mua hàng: Sau khi thỏa thuận về các điều khoản cung ứng doanh
nghiệp và nhà cung cấp cần ký hợp đồng kinh tế về cung cấp hàng hóa dịch vụ. Đây
chính là cở sở pháp lý phản ánh quyền và nghĩa vụ các bên liên quan có trong hợp
đồng.
Chứng từ nhận hàng: bao gồm
Hóa đơn bán hàng, vận đơn : là cơ sở để kế toán hạch toán chi phí thu mua hàng hóa,
dịch vụ
Biên bản kiểm nhận hàng hóa : là chứng từ quan trọng khẳng định hàng hóa, dịch vụ
mà doanh nghiệp đã nhận của nhà cung cấp, là cơ sở để viết phiếu nhập kho.
SVTH: Dương Thị Thủy Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp 8
Nhật ký mua hàng : ghi chép đầu tiên trong hạch toán chi phí mua hàng. Nhật
ký mua hàng liệt kê danh sách các hóa đơn cùng với tên nhà cung cấp, ngày của hóa
từ
Lập
chứng
từ quỹ
Kế
toán
trưởng
Thủ
quỹ
Nhân viên
thanh toán
Ghi sổ
Kế
toán
Nhu
cầu
vật
liệu
hàng
hóa
Lưu
trữ và
bảo
quản
chứng
từ
Bộ
phận kế
hoạch
Lập
Kế
toán
Khóa luận tốt nghiệp 9
1.1.3.2 Quy trình hạch toán
Chu trình mua hàng thanh toán được bắt đầu từ xác định nhu cầu mua đến thực hiện
thanh toán với nhà cung cấp.
Tài khoản liên quan
Tài khoản liên quan đến mua hàng : TK HTK: TK 156, TK 152, TK 153, TK 151
TK Tài sản : TK 211, TK 213…
TK chi phí : TK 627, TK 642, TK 641
Tài khoản liên quan đến thanh toán: TK 331: phải trả nhà cung cấp
TK 111, TK 112: tiền mặt; TGNH
TK 113: Thuế GTGT được khấu trừ
Nghiệp vụ mua hàng thanh toán phát sinh được hạch toán theo sơ đồ 1.5 sau :
Sơ đồ 1.4: Quy trình hạch toán nghiệp vụ mua hàng thanh toán
SVTH: Dương Thị Thủy Kiểm toán 47A
TK 331
TK 111, 112
TK 156, 152, 153...
TK 156, 152, 153..
TK 627, 642, 641
TK 211, 213
TK 515
TK 142, 242
ứng trước hoặc trả nợ người
bán
Hàng trả lại hoặc được giảm
giá
Mua hàng nhập kho
Đầu tư TSCĐ
1.2.2 Những sai sót có thể xảy ra trong hạch toán chu trình mua hàng
thanh toán
Vi phạm tính hiệu lực , trọn vẹn : Các nghiệp vụ mua hàng không có đù chứng
từ kèm theo như hóa đơn hay biên bản kiểm nhận hàng mua vào; Sai sót trong ghi
sổ chi tiết, có thể nhầm lẫn các nhà cung cấp khi ghi sổ
SVTH: Dương Thị Thủy Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp 11
Vi phạm tính giá : Sai lệch trong phản ánh giá trị hàng mua, có sự sai lệch giữa
hóa đơn , biên bản kiểm nhận và số liệu đơn vị phản ánh trên sổ sách
Vi phạm quyền và nghĩa vụ về hàng hóa : đơn vị phản ánh hàng nhận giữ hộ
trong kho là của đơn vị mình. Vi phạm tính phân loại trình bày cũng làm ảnh hưởng
đến quyền và nghĩa vụ như phản ánh nhầm lẫn giữa tài khoản phải trả nhà cung cấp
với tài khoản phải trả khác, phản ánh sai bản chất tài khoản tạm ứng khi trả trước cho
người bán nhưng hạch toán vào tài khoản tạm ứng
Vi phạm tính phân loại và trình bày: Trong hạch toán mua hàng và hạch toán
thanh toán sai sót chủ yếu là vi phạm tính phân loại và trình bày. Bên nguồn vốn, các
tài khoản thuộc nhóm nợ phải trả nói chung đều phản ánh nghĩa vụ khoản nợ của
doanh nghiệp. Tìm hiểu chu trình mua hàng thanh toán ta cần quan tâm đến khoản nợ
phải trả nhà cung cấp nằm trong nợ ngắn hạn. Phân biệt tài khoản này với tài khoản
chi phí phải trả ở chỗ: Ta ghi nhận khoản nợ ngắn hạn với bên ngoài khi nhận được
hoá đơn hoặc chứng từ đòi nợ từ bên ngoài trong kỳ hạch toán. Còn với chi phí phải
trả là chi phí dự tính phát sinh trong kỳ và thực tế doanh nghiệp chưa chi trả số tiền
này và chưa có đủ bằng chứng chính xác để ghi nhận giá trị ( ví dụ : trích trước lãi trả
sau, trích trước chi phí sửa chữa lớn tài sản…). Vì vậy số phải trả chỉ là số ước tính,
mục đích là để khi thực tế chi phí phát sinh thì không gây đột biết lớn. Thông thường
các doanh nghiệp phân loại không đúng một số loại chi phí giữa khoản phải trả và
chi phí phải trả.
Vi phạm tính chính xác cơ học : các số liệu khi cộng sổ hoặc cộng trên các hóa
đơn bị sai
Vi phạm tính đúng kỳ : Các khoản nợ vi phạm tính đúng kỳ khi hoá đơn và thời
hàng chứng minh cho các quy định liên quan đến hàng hóa, dịch vụ đã ghi trong hợp
đồng.
Kiểm soát quá trình nhập kho: PNK do phòng vật tư lập còn thủ kho là người
ghi số lượng nhập. PNK đủ chữ kỳ của phụ trách vật tư và thủ kho.
Mục tiêu kiểm soát này nhằm đảm bảo hàng nhập kho phù hợp với hóa đơn,
hợp đồng, đảm bảo chất lượng, đúng quy cách mẫu mã.
Ghi chép sổ sách và hạch toán:
SVTH: Dương Thị Thủy Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp 13
Để đảm bảo chính xác trong ghi chép, kế toán, thủ kho có trách nhiệm kiểm tra
và thực hiện các phép tính tối thiểu 3 lần với số tổng cộng. Thực hiện đối chiếu biên
lại, biên bản kiểm nhận với hóa đơn của người bán về mẫu mã, giá, số lượng và
chủng loại.
Mục tiêu kiểm soát là đảm bảo mọi ghi chép sổ sách đều có kiểm tra, kiểm soát
của kế toán trưởng nhằm đảm bảo tính thống nhất và phát hiện sai sót kịp thời sửa
chữa.
Kiểm soát thanh toán
Thanh toán thông thường được thực hiện bằng ủy nhiệm chi hoặc phiếu chi.
Nhằm kiểm soát quá trình này mọi ủy nhiệm chi và phiếu chi đều phải có chữ ký của
kế toán trưởng. Chứng từ này được viết thành nhiều bản nhưng thông thường 1 bản
đưa cho người được thanh toán, 1 bản lưu lại trong bộ chứng từ của doanh nghiệp, 1
bản dùng để luân chuyên khi hạch toán.
Với những khoản chưa thanh toán ngay,doanh nghiệp theo dõi trên sổ chi tiết
phải trả nhà cung cấp đồng thời hàng tháng có giấy đòi nợ của nhà cung cấp, kế toán
trưởng hoặc giám đốc phê duyệt chi trả. Việc thực hiện thanh toán thực hiện tương tự
như trên.
Kiểm soát trong giai đoạn này giúp doanh nghiệp thực hiện chi đúng mục đích,
đúng số tiền và thanh toán kịp thời những khoản nợ đến hạn trả tránh bị phạt tiền lãi,
cân đối chi cho phù hợp
1.2.4 Vị trí của kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán trong kiểm
Thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, ta có 2 cách tiếp cận là theo khoản mục
và theo chu trình.
- Phân chia theo khoản mục là cách tiếp cận từng khoản mục hay nhóm khoản mục
theo thứ tự trong bảng cân đối số phát sinh các tài khoản. Cách tiếp cận này đơn giản
xong không hiệu quả do tách biệt các khoản mục.
- Phân chia theo chu trình: là cách tiếp cận căn cứ vào mối liên hệ chặt chẽ lẫn nhau
giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành, các yếu tố trong một chu trình hoạt
động tài chính. Theo cách tiếp cận này, công việc kiểm toán tiết kiệm hơn về thời
SVTH: Dương Thị Thủy Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp 15
gian và giúp kiểm toán viên thực bao quát hơn dó đó nó được thực hiện phổ biến
trong cuộc kiểm toán báo cáo tài chính. Theo các phân chia theo chu trình, kiểm toán
báo cáo tài chính thường bao gồm các phần hành cơ bản sau:
- Kiểm toán chu trình bán hàng- thu tiền
- Kiểm toán chu trình mua hành thanh toán
- Kiểm toán chu trình tiền lương nhân viên
- Kiểm toán chu trình hàng tồn kho
- Kiểm toán chu trình tiếp nhận và hoàn trả vốn
Mối liên hệ của các chu trình đã được thể hiện ở sơ đồ 1.5
Sơ đồ 1.5 : Phần hành kiểm toán cơ bản của kiểm toán tài chính
(3)
1.2.2 Kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán
Kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán được tìm hiểu thông qua 3 giai đoạn
của cuộc kiểm toán:
Sơ đồ 1.6: Quy trình kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán
Lập kế hoạch và thiết kế các thử nghiệm kiểm toán chu trình
Thực hiện kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán
Kết thúc công việc kiểm toán
SVTH: Dương Thị Thủy Kiểm toán 47A
Bán
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp
lý và thực hiện phân tích sơ bộ
Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm
toán
Tìm hiểu hệ thống KSNB và đánh giá
rủi ro kiểm soát
Lập chương trình kiểm toán
Chuẩn bị kiểm toán
SVTH: Dương Thị Thủy Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp 17
Một cuộc kiểm toán được bắt đầu khi KTV và công ty kiểm toán thu nhận một
khách hàng. Trên cơ sở đó, các công việc cần thiết để chuẩn bị cho lập kế hoạch kiểm
toán được tiến hành như sau:
- Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán: KTV cân nhắc
mức độ rủi ro có thể chấp nhận đối với cuộc kiểm toán.
- Nhận diện các lý do kiểm toán của khách hàng: thực chất
là xác định người sử dụng báo cáo và mục đích của họ. Qua công việc này, KTV có
thể xác định được hướng sai phạm có thể xảy ra với báo cáo tài chính của doanh
nghiệp
- Lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán : việc
lựa chọn này dựa trên yêu cầu về số lượng và trình độ chuyên môn
- Hợp đồng kiểm toán : là sự thỏa thuận chính thức giữa
công ty kiểm toán và khách hàng về thực hiện kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Một trong những thông tin đầu tiên cần thu thập là tìm hiểu hoạt động kinh
doanh của khách hàng. Những khía cạnh đặc thù của khách hàng cũng cần được quan
tâm như cơ cấu tổ chức, dịch vụ sản xuất… Phục vụ cho kiểm toán chu trình mua
hàng thanh toán, trong bước này KTV sẽ biết được chủng loại hàng hóa mà doanh
nghiệp đang sử dụng cho hoạt động kinh doanh của mình, đánh giá thêm thông qua
đối chiếu với các cam kết bằng văn bản hay giấy phép đầu tư. Các thông tin này sẽ
KTV phải áp dụng quy trình phân tích trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán để tìm
hiểu tình hình kinh doanh của đơn vị và xác định những vùng có thể có rủi ro” . Với
chu trình mua hàng thanh toán, thủ tục phân tích sơ bộ thường thực hiện như sau
- So sánh chi phí mua hàng kỳ này với kỳ trước để xem xét biến động bất
thường
- Phân tích xu hướng tăng , giảm hoặc kiểm tra tính hợp lý của yếu tố chi phí giữa
các kì kế toán để phát hiện những biến động bất thường
- Phân tích tỷ lệ chi phí mua hàng từng tháng với nợ phải trả được ghi nhận trong
từng tháng hoặc với khoản thực tế đã thanh toán
SVTH: Dương Thị Thủy Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp 19
- Phân tích chi phí mua hàng với các yếu tố khác như : chi phí sản xuất kinh doanh,
doanh thu tiêu thụ, chi phí nhân công…
Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán
- Đánh giá trọng yếu
KTV căn cứ vào các thông tin đã thu thập được ở các bước trên, thực hiện tổng
hợp và đánh giá. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320- Tính trọng yếu trong
kiểm toán : “ Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông
tin trong báo cáo tài chính. Thông tin được voi là trọng yếu nếu thông tin đó hoặc
nếu độ thiếu chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng tới quyết định của người sử
dụng báo cáo tài chính….” Thông qua xác định tính trọng yếu của thông tin KTV
đưa ra lịch trình và phạm vi thực hiện các thủ tục kiểm toán
Đánh giá mức trọng yếu trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, trước hết KTV
phải đưa ra mức trọng yếu cho toàn bộ báo cáo tài chính, sau đó phân bổ mức trọng
yếu này cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính. Cở sở để tiến hành phân bổ là:
bản chất và quy mô các khoản mục, sự ảnh hưởng của khoản mục đó đến các thông
tin khác, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá sơ bộ trong bước trên và
một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phân bổ này là kinh nghiệm làm việc của
KTV , thời gian thực hiện và chi phí của cuộc kiểm toán. Khoản mục các có tính
trọng yếu cao, tức là sai phạm của nó ảnh hưởng lớn đến các khoản mục khác hoặc
Theo VSA số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: “ KTV phải có một sự
hiểu biết đầy đủ về hệ thống kế toán và KSNB của khách hàng để lập kế hoạch kiểm
toán tổng thể và chương trình kiểm toán thích hợp có hiệu quả.”
Để hiệu về hệ thống kiểm soát nội bộ của chu trình mua hàng thanh toán, KTV
cần nắm bắt được nguyên tắc hoạt động, quản lý, hạch toán hàng mua, ghi nhận nợ
phải trả, và thanh toán với nhà cung cấp cũng như nắm bắt được chính sách của đơn
vị liên quan đến chu trình này. Trên cở sở nắm bắt được hoạt động của hệ thống
KSNB, KTV đưa ra đánh giá của mình cho hệ thống này, nếu KSNB của doanh
nghiệp khách hàng hoạt động tốt thì rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp và ngược lại.
Điều này có ý nghĩa quan trọng khi thiết kế các thử nghiệm tuân thủ và thử nghiệm
cơ bản.
SVTH: Dương Thị Thủy Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp 21
Khi đánh giá hệ thống KSNB, KTV cần tìm hiểu các nội dung sau:
- Môi trường kiểm soát :
Môi trường kiểm soát bao gồm các nhân tố bên trong như: quản lý của đơn vị,
cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, ủy ban kiểm soát, công tác kế hoạch… và bên
ngoài như chính sách của Nhà nước, thị trường hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp
đang thu mua,… ảnh hưởng đến hoạt động chu trình mua hàng thanh toán của doanh
nghiệp.
- Hiểu biết về hệ thống, chính sách kế toán
Hệ thống kế toán đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh và kiểm soát hoạt
động của đơn vị nói chung cũng như của chu trình nói riêng. Để tìm hiểu về hệ thống
kế toán của doanh nghiệp liên quan đến chu trình KTV cần nắm được : chính sách kế
toán, hệ thống chứng từ sổ sách kế toán, sự phân công phân nhiệm trong thực hiện
các công việc kế toán, cơ cấu hoạt động của bộ phận này.
- Tìm hiểu thủ tục kiểm soát liên quan đến chu trình:
Thủ tục kiểm soát là tất cả những yêu cầu cần phải làm khi thực hiện các hoạt
động trong doanh nghiệp do ban lãnh đạo đơn vị thiết lập nhằm thực hiện mục tiêu
quản lý. Việc tìm hiểu các thủ tục kiểm soát và bước công việc quan trọng trong quá
chỉ ra người được phỏng vấn, thời gian thực hiện. Mục tiêu là đưa ra được nhận xét
về việc áp dụng thủ tục kiểm soát đối với chu trình
- Thủ tục kiểm tra từ đầu đến cuối : phân công KTV hoặc trợ lý kiểm toán thực hiện,
thời gian thực hiện kiểm tra chọn mẫu một vài nghiệp vụ từ khi bắt đầu đến khi kết
thúc chu trình mua hàng thanh toán. Mục tiêu là vẽ lại được sơ đồ hoạt động thực tế
của chu trình, đối chiếu với những đánh giá ban đầu về hệ thống kiểm soát nội bộ
- Các bước tiến hành kiểm tra dấu hiệu của kiểm soát nội bộ như kiểm tra dấu hiệu
của sự phê chuẩn, dấu hiệu của kiểm tra nội bộ…
Thực hiện thử nghiệm kiểm soát là cở sở để KTV thu hẹp hay mở rộng các thử
nghiệm cơ bản. Khi hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá tốt, rủi ro kiểm soát là
thấp, ta có thể tăng cường các thử nghiệm kiểm soát để chứng minh cho đánh giá đó,
từ đó giảm các thử nghiệm cơ bản. Ngược lại, khi hệ thống KSNB được đánh giá
SVTH: Dương Thị Thủy Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp 23
thấp, rủi ro kiểm soát cao, khi đó thử nghiệm cơ bản là chủ yếu, kiểm toán tuân thủ là
không cần thiết.
Thiết kế thử nghiệm cơ bản:
Thử nghiệm cơ bản được thiết kế để thu thập các bằng chứng về sự hoàn chỉnh,
chính xác và hiệu lực của các dữ liệu do hệ thống kế toán xử lý.. Các thử nghiệm cơ
bản được thực hiện thông qua các trắc nghiệm : trắc nghiệm độ vững chãi, trắc
nghiệm phân tích, trắc nghiệm trực tiếp số dư.
- Trắc nghiệm độ vững chãi:
KTV rà soát thông tin về giá trị, tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ gốc như
hóa đơn của nhà cung cấp, phiếu nhập kho, phiếu chi, hợp đồng kinh tế mua bán với
nhà cung cấp,… KTV thực hiện đối chiếu giá trị và số lượng hàng mua trên các
chứng từ xem có khớp đúng hay không, kiểm tra sự phê duyệt trên các chứng từ chi.
Ngoài ra, KTV cũng cần tính toán lại số tiền trên các chứng từ nếu có nghi ngờ, thực
hiện tính số tổng và đối chiếu sổ chi tiết các khoản phải trả, sổ nhật ký mua hàng,
bảng cân đối tài khoản 331. Qua đó kiểm tra tính đúng đắn và độ tin cậy của các số
liệu kế toán trong chu trình mua hàng thanh toán
thu mua hàng hóa.
Các thử nghiệm cơ bản đi sâu vào kiểm tra chi tiết nên thường tốn nhiều thời
gian và chi phí. Do đó KTV cần thực hiện đánh giá hệ thống KSNB của khách hàng
trước khi soạn thảo chương trình kiểm toán, KSNB được đánh giá tốt thì trong
chương trình kiểm toán , KTV giảm thử nghiệm cơ bản
1.2.2.2 Thực hiện kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán
Thực hiện kiểm toán chu trình, KTV vận dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm
toán phù hợp theo nội dung đã được nêu trong chương trình kiểm toán với mục tiêu
tìm ra bằng chứng kiểm toán cụ thể có độ tin cậy cao.
Các trắc nghiệm thực hiện riêng với 2 phần hành : mua hàng và thanh toán. Trong đó
với phần hành mua hàng, trắc nghiệm được thực hiện quan tâm đến chức năng : lập
và xử lý đơn đặt hàng, nhận hàng và ghi nhận nợ phải trả còn với phân hành thanh
SVTH: Dương Thị Thủy Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp 25
toán, trắc nghiệm quan tâm tới chức năng : xử lý và ghi sổ các khoản thanh toán cho
người bán.
Các trắc nghiệm thực hiện với nghiệp vụ mua hàng
Các trắc nghiệm đối với nghiệp vụ mua hàng được thể hiện trong bảng 1 sau
đây :
Bảng 1.1 : Bảng tổng hợp trắc nghiệm đối với nghiệp vụ mua hàng
Mục tiêu kiểm
toán
Quá trình kiểm soát
nội bộ chủ yếu
Trắc nghiệm
đạt yêu cầu
Trắc nghiệm độ vững
chãi
Các nghiệp vụ
mua vào hàng
chức vụ người
ký )
Kiểm tra dấu
hiệu của hủy
bỏ
Kiểm tra dấu
hiệu của kiểm
soát nội bộ
Xem xét, đối chiếu sổ
nhật ký mua hàng, sổ
cái và sổ phụ khoản
phải trả nhà cung cấp
với những khoản tiền
lớn và có dấu hiệu bất
thường
Kiểm tra tính hợp lý và
tính xác thực của
chứng từ ( hóa đơn,
vận đơn, biên bản
kiểm nhận, đơn đặt
hàng, yêu cầu mua
hàng )
Đối chiếu hàng tồn
kho mua vào trên thẻ
kho với sổ sách trên
Kiểm tra các tài sản
mua vào có tình chất
lâu dài hoặc giá trị lớn
Các nghiệp vụ
mua vào được