Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Kiến trúc Tây Hồ” - Pdf 99




BÁO CÁO THỰC TẬP
Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm xây lắp
tại Công ty Kiến trúc Tây Hồ
Giáo viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Văn Chiến Chuyên đề thực tập

1
LỜI NÓI ĐẦU
Nền sản xuất xã hội ngày càng phát triển, kế toán ngày càng trở nên quan
trọng và trở thành công cụ không thể thiếu được trong quản lý kinh tế của Nhà
nước và của doanh nghiệp. Để điều hành quản lý được toàn bộ hoạt động kinh
doanh ở doanh nghiệp có hiệu quả nhất, các doanh nghiệp phải nắm bắt kịp thời,
chính xác các thông tin kinh tế và thi hành đầy đủ các chế độ kế toán, chế độ
quản
lý trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh và quá trình sử dụng


PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP.
Để đảm bảo kế toán đầy đủ, chính xác chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm, cung cấp thông tin kịp thời cho quản trị doanh nghiệp, kế toán trong các
doanh nghiệp xây lắp cần phải quán triệt các nguyên tắc sau:
1.1. Nội dung và bản chất kinh tế của chi phí.
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ
hao phí lao
động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt
động sản xuất kinh doanh trong thời kỳ nhất định( tháng, quý, năm). Tức chi phí
sản xuất được biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp tiêu dùng
trong một thời kỳ mà doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Như vậy, chi
phí là sự chuyển dịch vốn, chuyển dịch giá trị của các yếu tố
sản xuất vào các đối
tượng tính giá. Nên kế toán phải tổng hợp các thành phần chi phí cấu tạo nên sản
phẩm từ nguyên vật liệu, con người và khấu hao tài sản cố định phát sinh trong quá
trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Những chi phí này phải được phân loại theo
từng tiêu thức nhất định trong từng công trình và hạng mục công trình, toàn bộ chi
phí sản phẩm xây lắp được thể hiện qua các yếu tố sau:
1.2.Phân loại chi phí s
ản xuất.
Do chi phí sản xuất- kinh doanh có nhiều loại nên cần thiết phải phân loại chi phí
nhằm tạo thuận lợi cho công việc quản lý hạch toán chi phí. Phân loại chi phí nhằm
là việc sắp xếp các loại chi phí khác nhau vào từng nhóm theo đặc trưng nhất định.
Trong thực tế có rất nhiều cách phân loại khác nhau, tuy nhiên lựa chọn phương
pháp nào do cách quản lý và hạch toán. Vì vậy các doanh nghiệp cần phải áp dụng
cho mính sao cho sử dụng phương pháp nào để hạ
ch toán các chi phí không bị

ng, máy móc.
- Yếu tố chi phí và dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toán bộ chi phí và dịch vụ
mua ngoài trong quá trính sản xuất - kinh doanh.
- Yếu tố chi phí bằng tiền: Gồm các chi phí khách bằng tiền chưa phản ánh ở
các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
b. Phân theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm.
Chuyên đề thực tập

4
Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện
cho việc tính giá thành sản phẩm, chi phí được phân theo khoản mục. Cách phân
loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối
tượng. Theo quy định hiện hành giá thành khoản mục gồm 5 mục chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu
liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, chế tạo sả
n phẩm hay việc thực hiện lao vụ
dịch vụ như: Gạch, gỗ, xi măng, sắt, thép…
- Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm toàn bộ tiền lương ( tiền công) và các
khoản phụ cấp mang tính chất cho công nhân viên trực tiếp xây lắp hay thực hiện
các khoản lao vụ dịch vụ cùng với các khoản trích theo tỷ lệ quy định cho các quỹ
kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cũng có thể là công nhân thuê
ngoài.
- Chi phí sản xuất chung: Gồm toàn bộ các chi phí còn lại phát sinh trong
phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất sau khi đã loại trừ đi chi phí nguyên vật
liệu và chi phí nhân công trực tiếp nói trên.
c. Phân loại theo cách thức kết chuyển chi phí.
Theo cách thức kết chuyển, toán bộ chi phí sản xuất kinh doanh được chia
thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ. Chi phí sản phẩm là những chi phí gắn
liền với các sản phẩm được sản xuất ra hoặc đượ
c mua; còn chi phí thời kỳ là

suốt thời kỳ kế hoạch, giá thành định mức được xác định trên cơ sở định m
ức về
chi phí hiện hành từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch. Nên giá thành định
mức thường thay đổi phù hợp với định mức chi phí đạt được trong quá trình thực
hiện giá thành.
Giá thành kế hoạch: Giá thành này được xác định trước khi bước vào sản xuất kinh
doanh trên cơ sở thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán của kỳ kế hoạch
được tính theo từng công trình, hoặc h
ạng mục công trình.
Mặt khác, giá trị dự toán của từng CT, HMCT được xác định theo các định
mức, đơn giá( về vật liệu, nhân công, máy…) của các cơ quan có thẩm quyền ban
hành và dựa trên mặt bằng giá cả thị trường. Doanh nghiệp phải phấn đấu có lợi
nhuận cao vì vậy doanh nghiệp phải lập giá thành kế hoạch, dự kiến chỉ tiêu hạ giá
thành. Theo thông tư 09/2000/TT- BXD ngày 17/7/2000 thì giá thành dự toán được
áp dụng theo công thức sau:
Chuyên đề thực tập

6
Giá thành dự toán
của từng CT,
HMCT
=
Giá trị dự toán của
từng CT, HMCT
sau thuế
-
Thu nhập
chịu thuế
tính trước
-

các chi phí sản xuất thực tế mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra để hoàn thành một
khối lượng xây lắp nhất định. Nó được xác định theo số liệu kế toán cung cấp. Giá
thành thực tế không chỉ bao gồm những chi phí trong định mức mà có thể còn bao
gồm những chi phí thực tế ngoài dự toán và cả những khoản phát sinh nh
ư: mất
mát, hao hụt vật tư, lãng phí nguyên vật liệu…do nguyên nhân chủ quan và bản
thân doanh nghiệp.
Chuyên đề thực tập

7
Giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi kế thúc quá trình sản
xuất, dựa trên cơ sở các chi phí phát sinh trong quá trình xây lắp
Bên cạnh đó, theo phạm vi của chỉ tiêu đánh giá, giá thành sản phẩm xây lắp
lại chia ra giá thành sản xuất và giá thành toàn bộ. Giá thành sản xuất của sản
phẩm xây lắp chỉ bao gồm những chi phí phát sinh liên quan đến việc xây dựng
hay lắp đặt sản phẩm xây lắp ( gồm chi phí NVL trực tiếp, nhân công trực tiếp, chi
phí s
ản xuất chung). Giá thành sản phẩm toàn bộ xây lắp bao gồm giá thành sản
xuất xây lắp cộng với chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho
sản phẩm xây lắp. ở Công ty Kiến trúc Tây Hồ tính giá thành sản phẩm theo giá
thành sản xuất.
Giá thành toàn bộ
sản phẩm
=
Giá thành sản xuất
của sản phẩm
+
Chi phí quản lý
doanh nghiệp
+

thành trong kỳ. Được thể hiện trong mối quan hệ sau:
Tổng giá
thành sản
phẩm hoàn
thành
=
Chi phí sản
xuất dở dang
đầu kỳ
+
Chi phí phát
sinh trong kỳ
-
Chi phí dở dang
cuối kỳ
1.3.2. Nhiệm vụ
của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong doanh nghiệp xây lắp.
Do đặc thù của ngành xây dựng cơ bản như đã nêu trên nên việc quản lý về
đầu tư xây dựng rất khó khăn, phức tạp. Tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành
sản phẩm là một trong những mối quan tâm hàng đầu mà trong đó công tác kế toán
tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, đảm bảo phát huy tối đ
a tác
dụng của công cụ kế toán đối với quản lý sản xuất hết sức được coi trọng, nhiệm
vụ chủ yếu đặt ra cho công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm xây lắp là:
- Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành sản
phẩm xây lắp, vận dụng các phương pháp tập hợp và phâm bổ chi phí , phương
pháp tính giá thành sản phẩ
m phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp xây lắp.
1.4.1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất xây lắp.
Xác định đối tượng chi phí sản xuất xây lắp là công việc đầu tiên quan trọng
của kế toán trong quá trình hạch toán giá thành sản phẩm. Tổ chức kế toán quá
trình sản xuất bao gồm hai giai đ
oạn kế tiếp nhau và có quan hệ mật thiết với nhau.
Đó là giai đoạn kế toán chi tiết chi phí sản xuất phát sinh trong từng công trình,
HMCT, hay giai đoạn công việc để thuận tiện cho việc tính giá thành sản phẩm,
hay chi tiết từng công trình theo yêu cầu thực tế quản lý của Công ty. Việc phân
chia này xuất phát từ yêu cầu quản lý, kiểm tra phân tích chi phí của phòng kế
hoạch trong Công ty, hay phòng kỹ thuật. Có thể nói, kế toán tập hợp chi phí sản
xuấ
t được phân chia theo từng giai đoạn là do sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập
hợp chi phí trong quá trình xây lắp. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là
những phạm vi, giới hạn mà chi phí sản xuất cần được tập hợp phục vụ cho việc
kiểm tra, giám sát, tổng hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm. Xác định đúng
Chuyên đề thực tập

10
đắn, phù hợp với đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp có ý
nghĩa rất lớn trong việc tổ chức kế toán hạch toán chi phí sản xuất từ việc tổ chức
hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết.
Để xác định được đối tượng chi phí sản xuất ở từng doanh nghiệp cần că
n cứ vào
các yêu cầu sau :
- Đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp.
- Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất chế tạo sản phẩm.
- Mục đích, công dụng của chi phí đối với quá trình sản xuất.
- Yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp.
Xuất phát từ những đặc điểm của ngành xây dựng là quá trình thi công lâu

- Cu
ối kỳ hạch toán khi công trình hoàn thành phải kiểm kê số vật liệu lĩnh
về chưa sử dụng hết ở công trường và phải đánh giá phế liệu thu hồi theo từng đối
tượng sử dụng. Tổng chi phí
NVLTT phải
phân bổ trong kỳ

=
Giá trị thực tế
của NVL xuất
trong kỳ

-
Giá trị phế
liệu thu hồi
(nếu có)

-
Giá tr
ị NVL
dùng không
hết cuối kỳ
Sơ đồ kế toán tổng hợp chi phí NVL trực tiếp.
TK: 151,152,331,111
112,331,411,311 TK 621 TK 154

Kết chuyển chi phí
Lương CNV trực tiếp

sản xuất sản phẩm
TK338
Kết chuyển chi phí
nhân công trực tiếp
Các kho
ản trích
theo lương

c. Kế toán tập hợp chi phí sử dụng máy thi công .
Tài khoản sử dụng :
Chuyên đề thực tập

13
- TK 623 “CP SD MTC”: tài khoản này phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên
vật liệu, nhiên liệu, nhân công và các khoản chi phí khác bằng tiền có liên quan
đến quá trình sử dụng máy thi công cho hoạt động xây lắp công trình.
- Tài khoản này chỉ thực hiện tại doanh nghiệp áp dụng phương pháp thi
công bán cơ giới, nghĩa là vừa thủ công vừa máy móc .
- Tài khoản được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình
Sơ đồ kế toán tổng hợp chi phí máy thi công
TK 334,241 TK 623 TK 154 Chi phí máy liên quan

sản xuất sản phẩ


Sơ đồ kế toán tổng hợp chi phí sản xuất chung
TK 334,241 TK 627 TK 111,112,152

Các khoản thu hồi ghi giảm
Chi phí máy liên quan
chi phí sản xuất chung
sản xuất sản phẩm
TK 154
TK 152,153
Phân bổ(hoặc kết chuyển)
Chi phí nguyên vật liệu
Chi phí SXC các TP TK 632
TK 242,335
Kết chuyển CPSCC cố định


- Cuối kì các chi phí sẽ được tổng kết chuyển sang TK 154 để tập hợp chi
phí và tính giá thành sản phẩm.
Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất xây lắp
Chuyên đề thực tập

16
TK 154 TK 632,155
TK 152.331 TK 621
Kết chuyển chi phí
Chi phí nguyên vật liệu
VL trực tiếp trực tiếp SX
TK 623 Kết chuyển

K/C chi phí sử dụng Giá thành công
TK334 máy thi công Máy thi công
trình hoàn thành

TK 622 bàn giao cho chủ

CN trực tiếp K/C chi phí NC đầu tư hay chờ NV Phân xưởng Trực tiếp SX tiêu thụ
TK 214.338.111
112.142.335… TK 627

Chi phí sản xuất chung khác Phân bổ chi phí SXC

1.5. Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuố

KLXL thực hiện
trong kỳ

Chi phí
XL dở
dang
cuối kỳ
=
CP theo dự toán của
KLXL hoàn thành bàn
giao

+
CP theo dự toán
của KLXLDD
cuối kỳ x

CP theo
dự toán
của
KLXLD
D cuối kỳ

b. Đánh giá chi phí sản xuất xây lắp dở dang theo giá trị dự toán :
1.5.2. Kỳ tính giá thành sản phẩm xây lắp:
Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán phải tiến hành công việc tính
giá thành cho các sản phẩm xây lắp. Xác định kỳ tính giá thành thích hợp sẽ giúp
cho việc tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm được hợp lý, khoa học, đảm bảo
cung cấp số liệu về giá thành thực tế kịp thời, phát huy được đầy đủ chức năng
giám sát tình hình thực hiện kế hoạ
ch giá thành sản phẩm của kế toán.
Để xác định kỳ tính giá thành thích hợp, kế toán phải căn cứ vào đặc điểm tổ
chức sản xuất sản phẩm và chu kỳ sản xuất sản phẩm. Căn cứ vào đặc điểm riêng
của ngành XDCB mà kỳ tính giá thành có thể được xác định như sau :
Chuyên đề thực tập

18
- Đối với các sản phẩm được sản xuất liên tục, cung cấp cho những đối
tượng khác nhau liên tục, chu kỳ sản xuất ngắn như gạch, ngói…thì kỳ tính giá
thành là một tháng.
- Đối với các sản phẩm theo đơn đặt hàng có thời gian sản xuất thi công dài,
công viếc được coi là hoàn thành khi kết thúc mọi công việc trong đơn đặt hàng thì
khi hoàn thành toàn bộ đơn đặt hàng mới tính giá thành.
- Đối với CT, HMCT lớn, thời gian thi công dài thì chỉ khi nào có một b

phận hoàn thành có giá trị sử dụng được nghiệm thu, bàn giao, thanh toán thì mới
tính giá thành thực tế bộ phận đó.
- Đối với những công trình xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị có thời gian
thi công nhiều năm mà không tách ra được từng bộ phận công trình nhỏ đưa vào sử
dụng thì khi từng bộ phận xây lắp đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý, theo thiết kế
kỹ thuậ
t có ghi trong hợp đồng thi công sẽ được bàn giao thành toán thì DNXL

CP thực tế
phát sinh
trong kỳ
-
CP thực tế
dở dang
cuối kỳ
- Nếu chi phí sản xuất tập hợp cho cả công trình nhưng giá thành thực tế
phải tính riêng cho từng HMCT, kế toán xác định giá thành theo công thức:
Giá thành thực tế
của
HMCT i
=
Giá trị dự toán của
HMCT i

x

Hệ số
- Trong đó, hệ số phân bổ giá thành thực tế được xác định theo công thức (
Trường hợp CT, HMCT đã hoàn thành)
C
H = x 100% C : Tổng CPtt cả CT, HMCT
Gdt Gdt : Tổng dự toán của tất cả các HMCT
b. Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng:
Phương pháp này áp dụng thích hợp trong trường hợp doanh nghiệp nhận
thầu xây lắp theo đơn đặt hàng. Khi đó, đối tương tập hợp CPSX và đối tượng tính
giá thành là từng đơn đặt hàng.
Theo phương pháp này CPSX th
ực tế phát sinh được tập hợp theo từng đơn


Chuyên đề thực tập

21
Phần II
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY XÂY DỰNG KIẾN
TRÚC TÂY HỒ.
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển Công ty.
- Công ty cổ phần Kiến trúc Tây Hồ trực thuộc UBND thành phố Hà Nội,
trước đây là công ty TNHH Kiến trúc Tây Hồ thành lập theo giấy phép số 4588
GP/TLDN ngày 10/09/1999 do UBND thành phố Hà Nội cấp.
- Trụ sở giao dịch: Số 3 ngõ 276 đường Nghi Tàm- Tây Hồ - Hà Nội.
- Công ty có hơn 30 cán bộ công nhân viên và cộng tác viên được đào tạo
chính quy tại các trường, hàng trăm công nhân lành nghề như
các lĩnh vực nội thất,
điện lực, tin học…
- Công ty có tuổi còn trẻ nhưng đã có những thành tích rất khả quan nhiều
hợp đồng kinh tế có nhiều công trình mang tính chất quốc gia, nhiều công trình có
giá trị lớn tại các tỉnh, nhất là các tỉnh như ở Quảng Ninh, Hà Tĩnh, thành phố Hà
Nội. Đến nay Công ty đã đổi thành : Công ty cổ phần Kiến trúc Tây Hồ với tên
giao dịch- CT KTTH " Tayho archtec ture company".
- Công ty cổ phần Kiế
n trúc Tây Hồ được cấp chứng chỉ hành nghề xây
đựng số 29/CP - XD do sở xây dựng Hà Nội cấp ngày 16/10/1999.
- Công ty có đội ngũ cán bộ công nhân viên các kỹ thuật viên ở các lĩnh vực
có trình độ năng lực cao nên Công ty đã có nhiều công trình trong cả nước. Trong
đó chủ yếu là thiết kế và thi công. Bên cạnh đó Công ty luôn chú trọng các ngành
và lĩnh vực liên quan như nội thất, ngoại thất công trình. với tinh thần học hỏi và
nâng cao chất lượng, ti
ếp thu công nghệ mới nên luôn quan tâm đến sự phát triển

trọng. Quan tâm đến đời sống của nhân viên cả về tinh thần, vật chất vì thế Công ty
luôn biết được rằng để tái sản xuất thì trước hết phải đảm bảo tái sản xuất sức lao
động, nghĩa là sức lao động mà con người b
ỏ ra phải được bồi hoàn dưới dạng thù
lao lao động. Tiền lương chính là khoản thu nhập của người lao động mà Công ty
trả cho người lao dộng thường là theo khối lượng và chất lượng công việc của họ.
Nhận biết được tiền lương cho người lao động là đòn bẩy kinh tế để khuyến khích
tinh thần hăng hái lao động, kích thích tạo mối quan tâm của người lao động đến
kết quả công vi
ệc của họ, thúc đẩy năng xuất lao động tạo sự phát triển cho Công
ty.
Chuyên đề thực tập

23
- Lợi nhuận: Chính là kết quả quá trình lao động sản xuất kinh doanh của Công ty,
đánh giá sự phát triển của Công ty trong những năm qua, được thể hiện qua chỉ
tiêu thực tế. Lợi nhuận này chủ yếu công ty bổ sung vào nguồn vốn hoạt động kinh
doanh, đảm bảo khả năng đầu tư cho các công trình, hạng mục công trình thường
xuyên.
- Thuế: Công ty cổ phần Kiến trúc Tây Hồ là một pháp nhân hoạt động độc lập,
nên thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước theo quy định hiện hành, Công ty trực tiếp
nộp thuế cho chi cục thuế quận Tây Hồ.
Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh.
STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
1 Doanh thu Đồng 4.950.000.000 5.876.500.000 6.202.504.000
2 Giá Vốn Đồng 3.665.000.000 4.654.000.000 5.203.000.000
3 Thuế Đồng 60.000.000 76.000.000 98.500.000
4 Mức lao động
bình quân
Đồng 169.347.000 177.532.000 197.651.000

công nghiệp.
2.2.Đặc đ
iểm tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Kiến trúc Tây Hồ.
2.2.1. Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty.
Để có được sự phát triển như ngày hôm nay, Công ty đã không ngừng học
hỏi để hoàn thiện tổ chức bộ máy hoạt động đảm bảo liên quan chặt chẽ với nhau,
từ khâu thiết kế đến thi công hay các lĩnh vực khác nhau tạo điều kiện tiến độ công
vi
ệc theo đúng tinh thần hợp đồng và nhu cầu của khách hàng. Mô hình của công
ty mang tính quản lý trực tuyến từ giám đốc đến đơn vị thi công, các phòng ban có
quan hệ chặt chẽ với nhau, phụ trợ cho nhau để cùng hoàn thành công việc được
giao.
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty cổ phần Kiến trúc Tây Hồ 2004

Trích đoạn Hệ thống tài khoản kế toán Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung Kỳ tính giá thành và phương pháp tính giá thành
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status