Luận văn tốt nghiệp: “Quản lý vốn nhà nước tại doanh
nghiệp nhà nước (Nghiên cứu vận dụng tại Nhà máy len
Hà Đông)”
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt
nghiệp
MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, thành phần kinh tế nhà nước (mà trong đó
doanh nghiệp nhà nước là nòng cốt) giữ vai trò chủ đạo. Nhà nước thực hiện giao
vốn cho doanh nghiệp nhà nước để doanh nghiệp nhà nước hoàn thành nhiệm vụ
nhà nước giao. Việc Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp nhà nước đặt ra yêu cầu
phải quản lý số vốn đó. Đồng thời, việc thay đổi phương thức quản lý hiện vật
sang ph
ương thức quản lý bằng giá trị là chủ yếu đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa
vai trò của nhà nước trong công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Song
thực tế cho thấy, công tác quản lý đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà
nước còn có những bất cập trong chế độ chính sách quản lý, trong tổ chức bộ máy
Nội dung đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đối với phần vốn nhà nước tại Nhà
máy
len Hà Đông
Chương 3: Đề xuất hoàn thiện công tác quản lý đối với phần vốn nhà nước tại
Nhà máy len Hà Đông
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt
nghiệp
Nam.
Doanh nghiệp nhà nước mang các đặc điểm chung với các loại hình doanh
nghiệp khác như:
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt
nghiệp
Thứ nhất, chức năng kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước bao gồm: sản
xuất-cung ứng trao đổi, hợp tác và tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá dịch vụ.
Hai là, doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân. Tư cách pháp nhân của
doanh nghiệp nhà nước là điều kiện cơ bản quyết định sự atồn tại của doanh
nghiệp nhà nước trong hệ thống kinh tế quốc dân. Tư cách pháp nhân của doanh
nghiệp nhà nước
đòi hỏi doanh nghiệp nhà nước phải tự chịu trách nhiệm về quản
lý, về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi doanh
nghiệp phá sản hay giải thể. Với tư cách là một pháp nhân độc lập, doanh nghiệp
nhà nước có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt
động sản xuất kinh doanh. Tư cách này tạo cho doanh nghiệp nhà nước địa vị
pháp lý để đả
m bảo độc lập tự chủ.
Ba là, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước cũng chịu sự
chi phối và tác động của môi trường kinh tế.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhà nước có thể được phân biệt với các loại hình
doanh nghiệp khác bởi các đặc điểm sau đây:
Một là, doanh nghiệp nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp ra
quyết định thành l
ập nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao.
Như vậy doanh nghiệp nhà nước không chỉ được thành lập để thực hiện các hoạt
động kinh doanh (nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế) mà còn để thực hiện các
ực kinh tế quốc doanh (doanh nghiệp nhà nước) như trong nền kinh tế kế hoạch
hoá mà còn tồn tại dưới nhiều hình thức sở hữu bao gồm các loại hình tổ chức
doanh nghiệp khác nhau như: Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh Nhưng doanh nghiệp nhà nước có vị trí
đặc biệt quan trọng, nó là bộ phận nòng cốt của thành phần kinh tế nhà nước,
thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạ
o trong nền kinh tế. Vai trò của doanh nghiệp
nhà nước được thể hiện qua những chức năng cụ thể sau:
Thứ nhất, chức năng định hướng sự phát triển của nền kinh tế. Chức năng này
thể hiện ở chỗ doanh nghiệp nhà nước phải đi tiên phong trong các lĩnh vực chiến
lược theo đường lối phát triển của nhà nước tạo điều kiện cho các thành ph
ần kinh
tế khác tham gia; doanh nghiệp nhà nước phải là mẫu mực về trình độ quản lý, về
hiệu quả kinh doanh để các doanh nghiệp khác noi theo;
Thứ hai, chức năng hỗ trợ và phục vụ. Sự khác biệt giữa doanh nghiệp nhà
nước và các loại hình doanh nghiệp khác là sự phát triển của doanh nghiệp nhà
nước không phải đơn thuần vì bản thân nó mà quan trọng hơn cả là tạo điều kiện
cho sự phát triể
n của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Bởi vậy, doanh nghiệp nhà
nước được bố trí xây dựng ở những khu vực ngành nghề cần thiết tạo điều kiện
cho nền kinh tế phát triển đồng đều giữa các vùng của đất nước;
Thứ ba, chức năng đảm bảo sức mạnh vật chất để nhà nước điều tiết và hướng
dẫn n
ền kinh tế thị trường. Chức năng này được hiểu là các doanh nghiệp nhà
nước phải có đóng góp thích đáng cho sự phát triển kinh tế bằng việc kinh doanh
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt
nghiệp
thể như sau:
Một là, giá trị quyền sử dụng đất, Chính phủ giao đất cho doanh nghiệp nhà
nước hay cho doanh nghiệp thuê đất, thực hiện những chính sách ưu đãi về đất đai
đối với doanh nghiệp nhà nước;
Hai là, cấp vốn điều lệ và bổ sung vốn:
- Vốn điều lệ để san lấp mặt bằng, xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc
thiế
t bị đưa vào sản xuất;
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt
nghiệp
- Vốn bổ sung được cấp trong trường hợp doanh nghiệp nhà nước được giao
thêm nhiệm vụ;
Ba là, không thu khấu hao, miễn giảm thuế hay cấp tín dụng nhà nước ưu đãi
Những khoản đó được doanh nghiệp nhà nước sử dụng để tái đầu tư, thay thế đổi
mới tài sản cố định và sử dụng cho các yêu cầu kinh doanh khác theo quy định của
Chính phủ.
1.1.2.2. Tính tất yếu củ
a việc quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
Nhà nước phải quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước vì:
Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu nhà nước nhưng nhà nước giao
cho một số cá nhân, đơn vị sử dụng. Như vậy có sự tách biệt giữa người sở hữu
vốn và người sử dụng vốn, hai đối tượng này có thể
có mục tiêu không phù hợp
nhau. Các doanh nghiệp nhà nước không phải đương đầu với nguy cơ bị đối thủ
hiện các mục tiêu xã hội.
Thứ ba, đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh, phần lợi
nhuận sau thuế thuộc về nhà nước. Nhà nước sử dụng lợi nhuận đó để duy trì và
tái sản xuất mở rộng doanh nghi
ệp hoặc đáp ứng một lợi ích nào đó của nhà nước.
Do đó, để lợi nhuận sau thuế được tối đa hoá, nhà nước phải quản lý phần vốn đầu
tư của mình để nó được sử dụng một cách có hiệu quả, trên cở sở đó tăng lợi ích
nhà nước.
Tóm lại, việc nhà nước quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước là một
đòi hỏi khách quan để bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu trong việc bảo toàn vốn và tài
sản cũng như để thực hiện vai trò quản lý của mình.
1.2. Nội dung công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà
nước
1.2.1. Thiết lập căn cứ về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
Thiết lập căn cứ về quản lý vốn nhà nước t
ại doanh nghiệp nhà nước là việc
làm cần thiết nhằm tạo cơ sở giúp các đơn vị được giao vốn thực hiện quản lý vốn
được giao và giúp các cơ quan kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ giám sát của
mình.
Hình thức biểu hiện cụ thể của nội dung công tác này là việc xây dựng hệ thống
văn bản pháp luật về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Khác với cách thức
qu
ản lý doanh nghiệp trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, trong nền kinh tế thị
trường có sự điều tiết, Nhà nước quản lý doanh nghiệp một cách gián tiếp theo
nguyên tắc: Nhà nước điều chỉnh thị trường, thị trường điều chỉnh doanh nghiệp.
Nhà nước ban hành chính sách nhằm định hướng sự phát triển theo mục tiêu của
nước trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực
quản lý vốn và tài sản;
Hai là, nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp trong việc quản lý và sử
dụng các nguồn lực nhà nước giao. Thiết lập các cơ chế thích hợp để hướng sự
quan tâm và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo toàn và phát triển vốn như:
cơ chế trích lập dự phòng, cơ chế bù l
ỗ
Ba là, quy định các chính sách ưu đãi về mặt tài chính đối với các doanh
nghiệp nhà nước hoạt động công ích như: hỗ trợ vốn, bù chênh lệch khi thực hiện
các nhiệm vụ nhà nước giao, bảo đảm thoả đáng lợi ích vật chất cho người lao
động trong các doanh nghiệp nhà nước này Đồng thời thiết lập cơ chế quản lý
hợp lý đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý và sử
dụng các nguồn lực nhà
nước giao.
Chính sách quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước bao trùm các
nội dung quản lý sau:
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt
nghiệp a, Quản lý việc hình thành vốn của doanh nghiệp nhà nước:
Doanh nghiệp nhà nước có thể được đầu tư vốn khi mới thành lập hoặc đầu tư
bổ sung trong quá trình hoạt động. Ngoại trừ các doanh nghiệp hình thành do kết
quả quốc hữu hoá, các doanh nghiệp nhà nước đều được hình thành trên cơ sở
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt
nghiệp
giao vốn thuộc sở hữu nhà nước hiện có tại doanh nghiệp sau khi đã được kiểm
tra, thẩm định theo quy định hiện hành của nhà nước.
Số vốn giao cho doanh nghiệp được xác định như sau:
+ Đối với doanh nghiệp thành lập mới là số vốn nhà nước ghi trong quyết toán
vốn đầu tư xây dựng cơ bản bàn giao sang sản xuất kinh doanh, vốn điều lệ được
nhà nước bổ sung và v
ốn khác thuộc sở hữu nhà nước (nếu có).
+ Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động và thành lập lại (sáp nhập, chia
tách) là số vốn sở hữu hiện có tại doanh nghiệp hoặc các doanh nghiệp thành viên,
sau khi đã được kiểm tra, thẩm định theo quy định hiện hành của nhà nước.
Trong khi khu vực kinh tế tư nhân có thể được huy động một cách tự chủ và
linh động trong môi trường kinh doanh, khu vực kinh tế nhà nước thườ
ng chỉ được
phép huy động vốn dưới một số hình thức nhất định, các kênh huy động vốn đó là:
Thứ nhất, huy động vốn từ Ngân sách nhà nước: Các doanh nghiệp khi có nhu
cầu về vốn có thể đề nghị nhà nước xét duyệt cấp vốn cho doanh nghiệp mình.
Đây là nguồn vốn đặc biệt , chỉ các doanh nghiệp nhà nước mới có đặc quyền
được yêu cầu và đây cũng là nguồn vốn ch
ủ lực của các doanh nghiệp nhà nước.
Thứ hai, huy động vốn thông qua hoạt động liên doanh, liên kết: Đây là việc
góp tiền hoặc tài sản với các doanh nghiệp khác để mở rộng sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp có thể liên doanh liên kết với các doanh nghiệp, tổ chức khác để
tổ chức sản xuất kinh doanh. Mục tiêu cuối cùng của chính sách quản lý sử dụng
vốn và tài sả
n là bảo toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp. Vì thế, doanh nghiệp
có nghĩa vụ theo dõi chặt chẽ sự biến động của vốn và tài sản, đảm bảo theo đúng
các nguyên tắc kế toán hiện hành, tránh thất thoát tài sản, mất vốn của nhà nước.
Đồng thời doanh nghiệp cũng phải được trao quyền lựa chọn cơ cấu tài sản và các
loại vốn cho hợp lý nhằm phát triển kinh doanh có hiệu quả.
Doanh nghiệp có trách nhiệm mở sổ và ghi sổ kế toán theo dõi chính xác toàn
bộ tài sản và vốn hiện có theo đúng chế độ hạch toán kế toán, thống kê hiện hành;
phản ánh trung thực, kịp thời tình hình sử dụng, biến động của tài sản và vốn trong
quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp được quyền sử dụng vốn và qũy để kinh doanh theo nguyên tắc
có hiệu qủa, bảo toàn và phát triển vốn. Trường hợp sử
dụng các loại vốn và qũy
khác với mục đích sử dụng đã quy định cho các loại vốn và qũy đó thì phải theo
nguyên tắc hoàn trả, như: dùng các qũy dự phòng, qũy khen thưởng, qũy phúc
lợi để kinh doanh thì phải hoàn trả qũy đó khi có nhu cầu sử dụng. Doanh nghiệp
được quyền thay đổi cơ cấu tài sản và các loại vốn cho việc phát triển kinh doanh
có hiệu qủa, bảo toàn và phát triển v
ốn
Doanh nghiệp Nhà nước phải xây dựng quy chế quản lý, bảo quản, sử dụng tài
sản của doanh nghiệp; quy định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân đối với
các trường hợp làm hư hỏng, mất mát tài sản.
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt
sổ kế toán và chi phí nhượng bán, thanh lý (nếu có) được hạch toán vào kết qủa
kinh doanh của doanh nghiệp.
Mọi tổn thất tài sản của doanh nghiệp phải lập biên bản xác định mức độ,
nguyên nhân và trách nhiệm đưa ra biện pháp xử lý.
Doanh nghiệp được đánh giá lại tài sản và hạch toán tăng giảm vốn kho
ản
chênh lệch do đánh giá lại tài sản trong các trường hợp sau: Kiểm kê đánh giá lại
tài sản theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; Thực hiện cổ phần
hóa, đa dạng hóa hình thức sở hữu, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp; Dùng tài sản
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt
nghiệp
để liên doanh, góp vốn cổ phần (khi đem tài sản đi góp vốn và khi nhận tài sản
về).
Quản lý vốn đầu tư ra ngoài doanh nghiệp:
Doanh nghiệp được sử dụng vốn, tài sản để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp theo
nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, tăng thu nhập và đảm bảo
nhiệm vụ thu nộp Ngân sách nhà nnớc; việc đầu tư phải tuân theo các quy định
hiệ
n hành của pháp luật Các hình thức đầu tư ra ngoài doanh nghiệp gồm: mua
cổ phiếu, góp vốn liên doanh, góp cổ phần và các hình thức đầu tư khác
Doanh nghiệp Nhà nước được phép đưa vốn và tài sản đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài theo quy định của pháp luật.
hoặc sau thuế) để bù lỗ các năm trước, được hạch toán một số thiệt hại (thiên tai,
dịch bệnh ) vào chi phí hoặc kết qủa kinh doanh theo qui định của Nhà nước.
1.2.2. Phân cấp trong quản lý
Để quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, mỗi nước đều tổ chức cho
mình một bộ máy quản lý khác nhau với cách thức quản lý khác nhau. Bộ máy
này bao gồm bản thân doanh nghiệp nhà nước (với t
ư cách là người trực tiếp quản
lý, sử dụng vốn nhà nước giao) và các cơ quan quản lý cấp trên (giám sát việc
thực hiện quản lý, sử dụng vốn nhà nước của doanh nghiệp nhà nước và ra các
quyết định quản lý). Mỗi cấp quản lý được phân rõ chức năng nhiệm vụ trong việc
thực hiện hoạt động quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước.
Ở Pháp và Malaysia, nhà nước trự
c tiếp cử nhân viên của mình làm công tác
kiểm tra tại doanh nghiệp, nhân viên đó thuộc biên chế Bộ tài chính; ngoài ra mỗi
doanh nghiệp còn chịu sự điều tra của một nhân viên do toá án chỉ định, có chức
năng kiểm tra tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó, ở các doanh
nghiệp còn có Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng này là đại diện của nhà
nước, đại diện cho doanh nghiệp và đại diện của công nhân.
Ở một số nước khác như Trung Quốc thì việc quản lý vốn nhà nước tại doanh
nghiệp nhà nước lại do các Công ty đầu tư tài chính nhà nước đảm nhận. Hoạt
động của Công ty tài chính là hoạt động kinh doanh, khác với việc cử đại diện của
Bộ tài chính làm công việc kiểm tra trực tiếp tại doanh nghiệp. Đây là một tổ chức
tài chính do Chính phủ thành lập giúp Chính phủ thành lập chức năng kinh doanh
các nguồn v
ốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp. Công ty đầu tư tài chính nhà
nước có những đặc điểm sau:
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và đại diện chủ sở hữu đối với số vốn
nhà nước đã đầu tư vào doanh nghiệp. Chức năng của Cục tài chính doanh nghiệp
được cụ thể hoá như sau:
Một là, thống nhất quản lý nhà nước về tài chính doanh nghiệp thuộc các thanh
phần kinh tế trong cả nước, có thể tóm tắt các công việc cơ bản nh
ư sau:
+ Tổ chức nghiên cứu chiến lược và đề xuất các vấn đề cóm liên quan đến tài
chính doanh nghiệp; dự báo khả năng động viên tài chính từ doanh nghiệp, qua đó
xây dựng các chính sách, chế độ quản lý tài chính doanh nghiệp, chế độ quản lý,
bảo toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp, chế độ hỗ trợ tài chính cho doanh
nghiệp và các chế độ khác có liên quan đến quản lý tài chính doanh nghiệp theo
quy định của Bộ trưởng Bộ tài chính;
+ H
ướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chính sách, chế độ quản lý tài chính; chế
độ quản lý vốn nhà nước; chế độ kế toán, kiểm toán doanh nghiệp thống nhất
trong cả nước;
+ Tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp trong cả
nước, đồng thời tổ chức thông tin tài chính doanh nghiệp nhằm cung cấp cho các
cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp và khách hàng những thông tin cập
nhật, chính xác đầy đủ về tình hình tài chính doanh nghiệp; hướng d
ẫn, bồi dưỡng
nghiệp vụ quản lý tài chính doanh nghiệp;
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt
nghiệp
Thứ hai, quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp do Thủ tướng chính
+ Hướng dẫn các Sở tài chính-vật giá thống nhất quản lý nhà nước về tài chính
đối với doanh nghiệp do tỉnh thành phố thành lập hoặc góp vốn, tổng hợp phân
tích tình hình tài chính doanh nghiệp trên địa bàn;
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưở
ng Bộ tài chính giao.
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt
nghiệp
Dưới Cục tài chính doanh nghiệp, ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
có các Chi cục tài chính doanh nghiệp thuộc Sở tài chính vật giá. Cục tài chính
doanh nghiệp quản lý trực tiêp các doanh nghiệp nhà nước trung ương. Các doanh
nghiệp nhà nước địa phương chịu sự quản lý trực tiếp của các Chi cục tài chính
doanh nghiệp thuộc Sở tài chính-vật giá tỉnh, thành phố.
Hình thức phân công mới này có ưu điểm ở chỗ do doanh nghiệp nhà n
ước vẫn
được tổ chức theo hai hình thức, đó là doanh nghiệp trung ương và doanh nghiệp
địa phương, đồng thời việc tổ chức cán bộ ở địa phương do UBND tỉnh quyết
định, ở trung ương do Bộ ngành quyết định. Mặt khác các doanh nghiệp trung
ương lớn thường có các chi nhánh ở các địa phương khác nhau nên việc quản lý
theo vùng sẽ hạn chế, đặc biệt là các Tổng công ty thường tập trung ở các địa bàn
thành phố
lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ khiến cho
việc quản lý ở các địa phương rất phức tạp.
Sơ đồ quản lý như sau:
định.
1.2.3.1. Quản lý việc hình thành vốn của doanh nghiệp nhà nước
Một việc không dễ song không thể thiếu trong hoạt động quản lý là phải xác
định được nhu cầu vốn của doanh nghiệp, trên cơ sở đó đánh giá và xét duyệt các
trường hợp để đầu tư, giao vốn cho doanh nghiệp một cách hợp lý.
Nhu cầu vốn của doanh nghiệp trong bất cứ thời điểm nào cũng chính bằng
tổng giá trị tài sản mà doanh nghiệp cần phải có để đảm bảo cho hoạt động kinh
doanh. Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu vốn của doanh nghiệp thường xuyên
biến động tuỳ thuộc vào xu hướng biến động của thị trường. Đồng thời các doanh
nghiệp khác nhau với những đặc điểm kinh tế kỹ thuật khác nhau thì nhu cầu về
vốn cũng khác nhau. Do vậy, xác định nhu cầu v
ốn của doanh nghiệp là việc làm
cần thiết của các nhà quản lý. Các nhà quản lý thường dùng hai phương pháp sau:
Thứ nhất, phương pháp tỷ lệ phần trăm trên doanh thu, đây là phương pháp dự
tính ngắn hạn, đơn giản nhưng đòi hỏi phải hiểu rõ quy trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, đồng thời phải hiểu rõ tính quy luật của mối quan hệ giữa
doanh thu tiêu thụ sản phẩm với tài s
ản, vốn và phân phối lợi nhuận của doanh
nghiệp. Đây có thể là phương pháp ước tính nhu cầu vốn của doanh nghiệp trong
thời gian ngắn, vì cơ bản nó dựa trên giả thiết cho rằng tất cả các chi phí thành
phẩm sẽ chiếm một tỷ lệ ổn định trong doanh thu bán hàng tương lai, không thay
đổi so với tỷ lệ của chúng trong quá khứ. Tỷ lệ phần trăm trên doanh thu này là tỷ
lệ chi phí trung bình trong hai năm gần đ
ây và mỗi khoản mục của báo cáo nhu
cầu vốn dự kiến được tính theo tỷ lệ phần trăm trung bình của doanh thu. Khi tìm
được tỷ lệ phần trăm trung bình của doanh thu thì việc xây dựng báo cáo nhu cầu
động =
Vòng quay vốn lưu động
Nếu trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp thiếu vốn, số vốn thiếu
xin được cấp bổ sung. Nhu cầu vốn cấp bổ sung tính theo công thức:
Số vốn thiếu xin được
cấp bổ sung
=
Nhu cầu vốn lưu
động
-
Số vốn lưu động hiện
có tài doanh nghiệp
Trong những năm qua, Chính phủ đã xét duyệt để cấp vốn bổ sung cho nhiều
doanh nghiệ
p theo nhiều dự án. Trong 3 năm 1997 >1999, Nhà nước đã đầu tư
trực tiếp cho các doanh nghiệp nhà nước gần 8000 tỷ đồng, trong đó 6428 tỷ đồng
là để cấp vốn bổ sung cho các doanh nghiệp. Có thể thấy việc quản lý nhu cầu, cấp
phát vốn đã từng bước chặt chẽ hơn. Nhà nước đã chú ý đầu tư cho các doanh
nghiệp nhà nước một cách có trọng điểm hơn chứ không dàn trải nh
ư trước. Vốn
được cấp cho doanh nghiệp nhà nước một cách hợp lý hơn. Các doanh nghiệp
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt
nghiệp
được nhà nước đầu tư vốn phải nằm trong chiến lược phát triển của Nhà nước và
Tổng công ty nhà nước được ưu tiên các điều kiện vật chất, nguồn lự
c để phát
triển song hiện vẫn có tới gần 80% số Tổng công ty có mức vốn nhà nước dưới
mức vốn bình quân của các Tổng công ty, trong đó 35% Tổng công ty có mức vốn
nhà nước dưới 1000 tỷ đồng. Con số này chứng tỏ có tình trạng chênh lệch về vốn
khá lớn giữa các Tổng công ty và số Tổng công ty thiếu vốn, ít vốn là chiếm đa số.
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt
nghiệp
Bên cạnh nguồn vốn nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý, sử dụng, nguồn
vốn huy động được bằng việc sử dụng các khoản nợ, đặc biệt là các khoản vay
cũng được quản lý khá chặt chẽ do nó ảnh hưởng đến cơ cấu vốn, cơ cấu tài sản
của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn chủ sở
hữu. Ở nước
ta, các khoản nợ phải trả cũng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn của các doanh
nghiệp nhà nước. Theo kết quả kiểm kê nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước
thời điểm 0 giờ ngày 1/1/2000, tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước là
527.267 tỷ đồng trong đó vốn chủ sở hữu là 173.857 tỷ đồng (chiếm 32,9%), còn
tổng vố
n huy động qua các khoản nợ phải trả là 353.410 tỷ đồng (chiếm tới 67%
tổng nguồn vốn). Việc huy động vốn qua các khoản nợ cũng ngày một tăng. Nợ
của các doanh nghiệp nhà nước ngày càng tăng về quy mô cũng như về tỷ trọng
trong cơ cấu vốn đối với một số doanh nghiệp nhà nước. Điều này phản ánh khả
năng huy động vốn của các doanh nghi
ệp có tăng lên.
b, Quản lý việc sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước
chế độ tài chính, chuẩn mực kế toán hiện hành và
đánh giá tổng thể về tình hình
hoạt động sản xuất kinh đoanh của doanh nghiệp để phục vụ cho việc ban hành,
hoàn thiện các chính sách vĩ mô và chế độ đối với doanh nghiệp trong từng ngành,
từng lĩnh vực, thực hiện sự hỗ trợ đối với trường hợp cần hỗ trợ của nhà nước
nhằm khắc phục những khó khăn tạm thời và phát triển doanh nghiệ
p. Các hình
thức giám sát doanh nghiệp nhà nước bao gồm:
Thứ nhất, giám sát từ bên trong: là giám sát nội bộ do các tổ chức của doanh
nghiệp như kiểm toán nội bộ, ban kiểm soát, thanh tra nhân dân và do doanh
nghiệp tự tổ chức thực hiện.
Thứ hai, giám sát từ bên ngoài: là giám sát do cơ quan chức năng của nhà
nước hoặc các tổ chức cá nhân bên ngoài doanh nghiệp tổ chức thực hiện. Việc
giám sát bên ngoài doanh nghiệp được thực hiện dướ
i hai hình thức:
Một là, giám sát gián tiếp: là theo dõi và kiểm tra từ xa thông qua báo cáo
tài chính, thống kê và chế độ báo cáo khác do các cơ quan chức năng của nhà
nước quy định, thông qua báo cáo công khai tình hình tài chính tại thị trường
vốn, thị trường chứng khoán.
Hai là, giám sát trực tiếp: được thực hiện bằng các hoạt động kiểm tra,
thanh tra, khảo sát nắm tình hình trực tiếp tại doanh nghiệp.
Ngoài ra, còn có thể thông qua các công ty tư vấn (bao gồm công ty tư vấn tài
chính kế toán, thu
ế, các công ty kiểm toán độc lập, công ty đánh giá tài sản ) để
thực hiện các dịch vụ về giám sát doanh nghiệp.
Tổng lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu=
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này được dùng để xem xét một đồng vốn chủ sở hữu đem lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
Mức độ bảo toàn vốn:
Số vốn nhà
nước bảo toàn
cuối kỳ
=
Số vốn nhà
nước đầu kỳ
+
Số vốn nhà nước
đầu tư thêm hoặc
rút về
+
Số vốn đầu tư
thêm từ lợ
i
nhuận sau thuế
Khả năng thanh toán:
Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
Khả năng thanh toán hiện thời =
Nợ ngắn hạn