Tài liệu Tiểu luận “Quá trình phân phối và các giải pháp để nâng cao, hoàn thiện quan hệ phân phối ở Việt Nam” - Pdf 99

TRƯỜNG
KHOA

TIỂU LUẬN “Quá trình phân phối và các giải
pháp để nâng cao, hoàn thiện quan
hệ phân phối ở Việt Nam” LỜI MỞ ĐẦU Quá trình tái sản xuất là sự kết hợp hai hoà giữa các khâu: Sản xuất,
phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Trong đó phân phối là một khâu quan trọng
và không thể thiếu được của quá trình này. Nó nối liền sản xuất với trao đổi,
tiêu dùng, phục vụ và thúc đẩy sản xuất, phục vụ tiêu dùng. Không những
thế, quan hệ phân phối còn là một yếu tố rất trọng yếu của quan hệ sản xuất,
nó phản ánh mố
i quan hệ giữa lợi ích của mỗi thành viên và lợi ích của toàn
xã hội.

nét, đặc biệt là khi nền kinh tế nước ta còn đang trong quá trình quá độ và
gặp nhiều khó khăn.
Đề tài này được bố cục gồm 2 chương chính :
Chương I
: Lý luận chung về phân phối trong nền kinh tế thị trường
Trong phần này sẽ trình bày những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất về
phân phối: bản chất, vai trò của quan hệ phân phối và nội dung chủ yếu của
quan hệ phân phối, đặc biệt phần này còn có kinh nghiệm của một số nước
về phân phối
Chương II
: Thực trạng của quá trình phân phối và các giải pháp để
nâng cao, hoàn thiện quan hệ phân phối ở Việt Nam trong thời gian tới
Từ những vấn đề cơ bản về phân phối, ở chương này sẽ nghiên cứu cụ
thể quá trình phân phối ở Việt Nam, các hình thức phân phối đặc biệt là
phân phối thu nhập. Thông qua đó nêu ra các giải pháp nhằm thực hiện quan
hệ phân phối để đạt mục tiêu công bằng xã hộ
i.
Em xin trân thành cảm ơn sự hướng dẫn và quan tâm của thầy đã giúp
em hoàn thành đề án này. Trong bài viết còn nhiều sai sót mong thầy chỉ bảo
để em rút kinh nghiệm lần sau sửa chữa. Em cám ơn thầy.

3
CHƯƠNG 1
BẢN CHẤT MỐI QUAN HỆ PHÂN PHỐI VÀ CÁC HÌNH THỨC
PHÂN PHỐI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1. BẢN CHẤT CỦA QUAN HỆ PHÂN PHỐI.
Phân phối là một khâu không thể thiếu được của quá trình tái sản
xuất. Nó nối liền sản xuất và tiêu dùng, phục vụ và thúc đẩy sản xuất, phục
vụ tiêu dùng. Mặt khác, quan hệ phân phối còn là một yếu tố rất trọng yếu

Như vậy sản xuất, phân phối, tiêu dùng hình thành một tam đoạn luận
đúng cách: Sản xuất là cái chung, phân phối và trao đổi là cái đặc thù, tiêu
dùng là cái đơn nhất khép kín tổng thể. Đương nhiên, cái đó đúng là một
mối liên hệ, nhưng là mối liên hệ hời h
ợt bề ngoài. Sản xuất hình như là do
các quy luật phổ biến của tự nhiên quy định ; phân phối do sự ngẫu nhiên
của xã hội quyết định, vì vậy nó có thể ảnh hưởng ít nhiều thuận lợi đến sản
xuất ; trao đổi nằm giữa hai khâu đó, như là một sự vận động xã hội có tính
chất hình thức, còn hành vi cuối cùng – tiêu dùng – không được coi là điểm
kết thúc, mà còn là mục đích cuối cùng, nói th
ực ra là nằm bên ngoài kinh
tế, trừ trường hợp nó tác động trở lại điểm xuất phát và làm cho toàn bộ qúa
trình bắt đầu lại.
1.1.2 Cơ sở kinh tế của sự phân phối
Cơ sở kinh tế của sự phân phối, ở đây bao hàm ý nghĩa nói đến việc
phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cá nhân mỗi thành viên trong xã hội.
Nhưng vì phân phối bao giờ cũng gồm cả phân phối cho sản xuất xem là yế
u
tố của sản xuất và phân phối cho tiêu dùng xem là kết quả của qúa trình sản
xuất, cho nên không phải là toàn bộ sản phẩm xã hội tạo ra đều được phân
phối cho tiêu dùng cá nhân. Trước hết, xã hội cần phải trích ra một phần để:
Bù đắp những tư liệu sản xuất đã hao phí ;
mở rộng sản xuất; lập quỹ dự trữ để phòng khi tai hoạ bất ngờ.
Phần trích này là m
ột điều tất yếu về kinh tế, vì nếu không khôi phục
và mở rộng sản xuất thì không thể đáp ứng được nhu cấu ngày càng tăng của
xã hội.
Phần còn lại của tổng sản phẩm xã hội thì để tiêu dùng. Nhưng trước
khi tiến hành phân phối trực tiếp cho tiêu dùng cá nhân, còn phải trích một
phần để:

ngay những điều kiện đã đẻ ra nó và càng chóng trở
nên xung đột với
phương thức sản xuất và trao đổi cũ bay nhiêu.
1.2.CÁC HÌNH THỨC PHÂN PHỐI CHỦ YẾU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.2.1 .Phân phối theo lao động: Là nguyên tắc phân phối vật phẩm tiêu
dùng cho các cá nhân trong xã hội căn cứ vào số lượng, chất lượng lao động

6
hay hiệu quả lao động mà họ đã cống hiến cho xã hội không phân biệt màu
da, tôn giáo, đảng phái, nam nữ.
1.2.2 .Phân phối theo vốn và tài sản : Là nguyên tắc phân phối vật
phẩm tiêu dùng cho cá nhân căn cứ vào vốn và tài sản mà họ có để phân
phối.
1.2.3.Phân phối ngoài thù lao lao động thông qua các quỹ phúc lợi
khác: Là nguyên tắc phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cá nhân nhằm đảm
bảo những nhu cầu chung của xã hội và đảm bảo cuộc sống cho m
ột số
người không có khả năng lao động.
Trong các hình thức cơ bản đó, phân phối theo lao động là cách chủ
yếu, nhưng phân phối ngoài thù lao lao động qua các quỹ phúc lợi xã hội
ngày càng trở nên quan trọng trong qúa trình phát triển của xã hội. Đây là
cách phân phối vật phẩm tiêu dùng luôn luôn kết hợp với nhau và tác động
cùng một lúc trong thực tiễn. Hai cách phân phối này dựa vào nhau và bổ
sung cho nhau để góp phần giải quyết những yêu cầu chung của xã hội.
Đồng thời, phân phối theo tài sản , vốn và những đóng góp khác ngày nay
cũng trở thành một tất yếu, hợp quy luật.
1.3. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ PHÂN PHỐI
1.3.1.Sự vận dụng nguyên tắc phân phối của chủ nghĩa xã hội tại
Liên Xô
Trong thời gian đầu sau chiến tranh, nền kinh tế Liên Xô gặp nhiều khó

hợp tác xã do CNTB để lại là những người có thói quen suy nghĩ và quản lý
kinh tế của tư sản. Đảng Cộng sản Nga buộc tất cả các đảng viên phải làm
việc trong hợp tác xã, lãnh đạo các hợp tác xã đó phải theo tinh thần cộng
sản, làm cho tổng thể nhân dân đều vào hợp tác xã và biến các hợp tác xã đó
từ
trên xuống dưới thành một hợp tác xã thống nhất cả nước. Đặc biệt là
việc chuyển đổi từ chế đọ trưng thu lương thực trong chính sách cộng sản
thời chiến sang thuế lương thực cho phù hợp với nhân dân và thực hiện mục
tiêu công bằng. Mặt khác, Đảng cộng sản Nga còn sử dụng biện pháp quản
lý sự phân phối thông qua sự kiêm kê và kiểm soát của toàn dân đối với sản
xuất và phân phối sản phẩm.
1.3.2. Vấn đề phân phối trong quá trình phát triển kinh tế Trung
Quốc thời kỳ cải cách

8
Chúng ta sẽ nghiên cứu vai trò của phân phối đặc biệt là phân phối thu
nhập trong quá trình phất triển kinh tế của Trung Quốc.Trung Quốc là một
đất nước có dân số đông, kinh tế - văn hoá lạc hậu, nhưng 20 năm qua nhờ
thực hiện cải cách mở cửa mà bộ mặt kinh tế - xã hội của nước này đã thay
đổi rõ rệt. Từ thực tiễn đó, các nhà khoa học Trung Quốc đã rút ra nhận xét
cho răng: “Phân phối thu nhập không chỉ biểu hiện một kết quả của tăng
trưởng kinh tế, đồng thời nó lại ảnh hưởng, thậm chí là một đại lượng biến
đổi quan trọng quyết định kinh tế tăng trưởng”
Trong thời gian đầu khoảng 20 năm trước cải cách (1956-1976), trung
Quốc là một xã hội có trình độ bình quân hoá rất cao nhưng cung lại là một
xã hội vẫn tồn tại m
ột số nhân tố bất bình đẳng. Xã hội Trung Quốc như vậy
là do: Chế độ XHCN ở Trung Quốc là chế độ lấy công hữu về tư liệu sản
xuất nên sau khi từng bước thực hiện công hữu hoá về tư liệu sản xuất,
người dân trừ một số ít thu nhập từ lãi suất tiêt kiệm ra còn hầu như không

dùng của người dân được cải thiện và nâng cao, tăng trưởng GDP bình quân
đầu người đã từ 379 NDT(1978) tăng lên 6079 NDT(1997); Mức tiêu dùng
của dân cư cả
nước từ 184 NDT (1979) lên đến 2036 NDT(1997). 10
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUAN HỆ PHÂN PHỐI VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ
NÂNG CAO HOÀN THIỆN QUAN HỆ PHÂN PHỐI Ở NƯỚC TA
TRONG THỜI GIAN TỚI.
2.1 THỰC TRẠNG CỦA QUAN HỆ PHÂN PHỐI Ở NƯỚC TA
Trong giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa trước đổi mới, chúng ta
chủ trương thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu và trên cơ
sở đó thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động máy móc của Mác dưới
CNXH vào hoàn cảnh chra chín muồi trong nền kinh tế tập trung ở nước ta.
Dẫn tới hành động của chúng ta là nhanh chóng chóng cải tạo các thành
phần kinh tế
bằng mọi giá, để tạo lập hai hình thức sở hữu nhà nước và tập
thể, và tưởng thế là chúng ta đã có được cơ sở kinh tế của CNXH làm cơ sở
cho phân phối theo lao động. Mặt khác, trong lĩnh vực trao đổi, chúng ta lại
thực hành phân phối bằng hiện vật một cách rộng khắp, từ sản xuất, đến tiêu
dùng. Khiến quan hệ hàng tiền bị thủ tiêu, thước đo lao động b
ằng giá trị bị
phủ định. Kết quả là trong phân phối ta không thực hiện được phân phối
đúng cho lao động, đảm bảo công bằng xã hội mà lại đưa đến sự “quân bình
xã hội”. Điều đó đã tạo ra kẻ hở, làm triệt tiêu những nhân tố tích cực, dám
hy sinh vì nghĩa lớn, biết quên mình trong lao động. Đồng thời tạo ra chỗ
dựa cho thói lười nhác, ỷ lại, dựa dẫm, ă
n bám ở khắp mọi nơi mọi người.

vừa theo m
ức đống góp vốn” mà chúng ta thực hiện từ khi tiến hành sự
nghiệp đổi mới so với nguyên tắc phân phối theo lao động mà chúng ta đã
thực hiện trong thời gian trước có hai điểm khác nhau cơ bản :
Điểm khác nhau thứ nhất liên quan đến cách xác định sự cống hiến bằng
sức lao động của mỗi người cho xã hội. Sự cống hiến của mỗi người trong
xã hội dù được th
ể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, song vẫn có thể
quy về hai loại cơ bản: cống hiến bằng sức lao động và cống hiến bằng sự
góp vốn. Nguyên tắc phân phối theo lao động, như chúng ta đã biết, là
nguyên tắc phân phối căn cứ vào cống hiến bằng sức lao động. Nếu chỉ thực
hiện nguyên tắc phân phối theo lao động thì giá trị của tổng sản phẩm xã hộ
i
sẽ được chia thành hai phần: một phần được dành để tái sản xuất, để giải
quyết các vấn đề xã hội chung ; phần còn lại sẽ được phân phối cho các cá
nhân theo sự cống hiến bằng sức lao động của họ trong xã hội. Phân phối

12
cho các cá nhân theo mức cống hiến bằng sức lao động có nghĩa là: ai làm
nhiều hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít, ai không làm thì không hưởng. Còn
trong thời kỳ đổi mới, chúng ta xá định sự cống hiến bằng sức lao động của
mỗi người trong xã hội căn cứ vào “kết quả lao động và hiệu quả kinh tế”,
nói gọn là căn cứ vào hiệu quả lao động
Điểm khác nhau cơ bản thứ hai là, trong thờ
i kỳ trước đổi mới, chúng ta
chủ trương chỉ thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, còn trong thời
kỳ đổi mới, chúng ta chu trương thực hiện đồng thời cả nguyên tắc phân
phối theo lao động và phân phối theo mức đóng góp, trong đó nguyên tắc
phân phối theo lao động là chủ yếu. Khi thực hiện đồng thời cả hai nguyên
tắc thì giá trị tổng sản phẩm xã hội sẽ đựoc chia thành ba phầ

phối theo lao động. Và cũng chỉ khi đó, thời kỳ quá độ lên CNXH mới kết
thúc và CNXH mới được hình thành.
Theo quan niệm mới về công bằng xã hội, sự góp vốn cũng được coi là
cống hiến và thu nhập ở mức độ hợp lý có được do sự đóng góp vốn cũng là
công bằng. Nên với việc thực hiện nguyên tắc phân phối đó trong thời kỳ
quá độ lên CNXH ở
nước ta hiện nay, chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện
được mục tiêu công bằng xã hội, khái niệm “ông bằng xã hội” đã mang nội
dung mới. Đó là nguyên nhân cơ bản làm cho tình hình kinh tế-xã hội của
nước ta có nhiều chuyển biến tích cực: lực lượng sản xuất bước đầu phát
triển, đời sống của đa số nhân dân tiép tục được cải thiện, xã hội cơ bản ổn
định
2.1.1 Ưu
điểm
Quan hệ phân phối thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Quan hệ phân
phối tạo động lực cho người lao động sản xuất cũng như làm việc ngày càng
nhiều vì lợi ích của bản thân, của doanh nghiệp cũng như của toàn xã hội,
qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước từng bước nâng cao thu nhập
của các tầng lớp dân cư. Cụ thể là
Trong 5 n
ăm 1991-1995 nền kinh tế đã khắc phục được tình trạng trì trệ
suy thoái ; đạt mức tăng trưởng khá cao, liên tục và tương đối toàn diện;
thực hiện vượt mức hầu hêt các chỉ tiêu đề ra trong thời gian đó: tổng sản
phẩm trong nước(GDP) tăng bình quân hằng năm là 8,2%; lạm phát bị đẩy
lùi từ 774,7 năm 1986 xuống còn 67,1 năm 1991và 12,7 năm 1995. Đầu tư
toàn xã hội bằng vốn trong và ngoài nước so với GDP n
ăm 1990 là 15,8,n

14
năm 1995 là 27,4. Lương thực không những đủ ăn mà còn xuất khẩu được

nay, chúng ta chưa thể thực hiện được mục tiêu công bằng xã hội. Bởi vì,
Mụ
c tiêu đó chỉ có thể đạt được khi mà mọi người đều có bình đẳng trong

15
việc sở hữu tư liệu sản xuất, mà sự bình đẳng của tất cả mọi người trong
việc sở hữu tư liệu sản xuất lại chỉ tất yếu xuất hiện khi giá trị của tư liệu
sản xuất thuộc sở hữu toàn dân đã nhiều đén mức xã hội không cần sự góp
vốn của các cá nhân. Theo quan niệm mới về
“công bằng xã hội”, sự góp
vốn cũng được coi là sự cống hiến và thu nhập ở mức độ hợp lý có được do
sự đóng góp vốn cũng là công bằng. Với quan niệm mới này, chúng ta có
thể đạt được mục tiêu công bằng xã hội trong giai đoạn hiện nay.
2.1.2 Nhược điểm và tồn tại của quan hệ phân phối ở nước ta
+ Sự chênh lệch, bất hợp lý giữa các bộ
phận, các ngành nghề, các
vùng khác nhau.
+ Tình trạng tham ô còn diễn ra.
+ Nhiều cán bộ chủ chốt bị tha hóa về đạo đức, nhân phẩm
2.2. GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUAN HỆ PHÂN PHỐI Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN TỚI
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, quan hệ phân phối có vai trò rất
quan trọng nhưng bên cạch đó vẫn còn xuất hiện những nhược điểm như
trên chúng ta vừa xét. Đứng trước tình hình đó thì Đảng và Nhà nước ta có
rất nhiều chính sách nhằm phát huy vai trò, động lực của phân phối đối với
nền kinh tế đất nước.
2.2.1. Giải quyết sự mâu thuẫn giữa kinh tế quốc doanh-tập thể và
kinh t
ế tư nhân
Hiện nay vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu nào, ngoài giải pháp để cho

chế về quy mô trong những ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn mà pháp luật
không cấm; khuyến khích hợp tác liên doanh với nhau và với doanh nghiệp
nhà nước, chuyển thành doanh nghiệp cổ phần và bán cổ phần. Nhà nước
bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp cho các doanh nghiệp tư nhân; tạo
điều kiện thuận lợi đi đôi với tă
ng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng
pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh.
2.2.2. Nâng cao vai trò điều tiết của Nhà nước đối với phân phối
Hơn lúc nào hết, trong cơ chế thị trường, Nhà nước được xem là nhân tố
hàng đầu, thông qua Đảng lãnh đạo. Nhà nước là cơ quan quản lý xã hội,
hành pháp và tư pháp, có nghĩa vụ tập hợp toàn bộ nguồn lực trong và ngoài
nước nhằm phát triển toàn diện kinh tế, xã h
ội đất nước. Và vai trò của sự

17
quản lý của Nhà nước đối với phân phối là hết sức quan trọng: tạo ra cơ sở
kinh tế - xã hội để thực hiện phân phối và mở rộng phân phối theo lao động
trong xã hội, từng bước thực hiện công bằng xã hội.
Nhà nước tôn trọng nguyên tắc và cơ chế hoạt động khách quan của thị
trường, tạo điều kiện phát huy mặt tích cực, đồng thời kh
ắc phục, hạn chế
những tiêu cực của thị trường. Nhà nước tập trung làm tốt chức năng hoạch
định chiến lược, quy hoạch và kế hoạch định hướng phát triển, thực hiện
những dự án trọng điểm bằng nguồn lực tập trung; đổi mới thể chế quản lý,
cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; điều tiết thu nhập h
ợp lý. Xây dựng
pháp luật và kiêmt tra giám sát việc thực hiện; giảm mạnh sự can thiệp trực
tiếp bằng biện pháp hành chính vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Dơn
giản hoá các thủ tục hành chính, công khai hoá và thực hiện đúng trách
nhiệm và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong quan hệ với các doanh

19
2.2.3. Các giải pháp chống chủ nghĩa bình quân
Sự phân phối bình quân là không công bằng, đó là một nguyên nhân
kìm hãm sự phát triển của sản xuất, vì người làm nhiều mà hưởng ít sẽ
không cố gắng làm nhiều hơn, người làm ít mà hưởng nhiều sẽ dựa dẫm vào
người khác và cũng không cố gắng làm nhiều hơn.
Để khắc phục tình trạng phân phối bình quân, từ khi đổi mới đến nay
chúng ta chủ trương xác định s
ự cống hiến bàng sức lao động của mỗi người
trong xã hội căn cứ vào “kết quả lao động và hiệu quả kinh tế”. Hiệu quả lao
động phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, chứ không phải chỉ phụ thuộc vào các
yếu tố như trình độ và khả năng của người lao động, cường độ và thời gian
lao động mà nó còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu t
ố chủ quan và khách quan
khác nhau trong xã hội. Việc lấy hiệu quả lao động làm căn cứ để xác định
sự cống hiến bằng sức lao động của từng người sẽ giảm bớt được sai lầm
chủ quan có thể có của người tính toán khi thực hiện nguyên tắc theo lao
động. Muốn phân phối được thực hiện công bằng thì việc xác định hiệu quả
lao động là rất quan trọng và cần thiế
t, chúng ta cần xác định hiệu quả lao
động của mỗi lao động dựa vào sự cống hiến của họ cho công việc ấy.
Việc hoàn thiện chính sách tiền công, tiền lương cũng góp phần chống
chủ nghĩa bình quân.
2.2.4. Phát triển lực lượng sản xuất, khuyến khích làm giàu
Phương thức phân phối, ngoài tính chất của chế độ sở hữu về tư liệu sản
xuất còn do số lượ
ng sản phẩm có thể phân phối quyết định. Do vậy, muốn
thực hiện được ngày càng đầy đủ sự công bằng xã hội trong phân phối thì
cần phải sản xuất ra ngày càng nhiều sản phẩm. Thực hiện sự phân phối
bình đẳng trong điều kiện của cải vật chất quá nghèo nàn chỉ là chia đều sự

công nghệ hiện đại làm việc trong điều kiện thuân lợ
i để tao thêm việc làm
cho người dân; bên cạch đó cần đẩy mạnh xuất khẩu lao động để tăng thêm
thu nhập cho người lao động cũng như cho nền kinh tế đất nước. Mặt khác,
cần thực hiện xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, bảo hiểm xã hội và các
hoạt động nhân đạo, từ thiện để từng bước đạt tới sự công bằng xã hội.
Muốn vây, cần xây dựng và phát triển quỹ xoá đói giảm nghèo bằng nhiều
nguồn vốn trong và ngoài nước, quản lý chặt chẽ việc sử dụng quỹ này đúng
đối tượng và có hiệu quả; tổ chức tốt việc thi hành pháp lệnh về người có
công với đất nước; thực hiện và hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội, đảm bảo

21
đời sống của những người nghỉ hưu ổn định và từng bước cải thiện; đẩy
mạnh các hoạt động từ thiện.
2.2.5. Hoàn thiện các chính sách tiền công, tiền lương và phân phối
lại thu nhập
Đối với những người làm công ăn lương, thì tiền lương phải thực sự là
nguồn thu nhập chính để nuôi sống họ, từ đó có thể họ hoàn toàn yên tâm và
say mê vớ
i nghề nghiệp. Vì vậy, việc giải quyết tốt vấn đề tiền lương sẽ có
tác dụng kích thích sản xuất phát triển, ổn định và cải thiện đời sống không
chỉ đối với gia đình cán bộ công nhân viên, mà còn ảnh hưởng đến mức
sống chung của xã hội. Trên cơ sở đó, việc giaie quyết hợp lý vấn đề lương
trong khu vực nhà nước còn có tác dụng to lớn trong việc h
ưoứng đạo tiền
công ngoài khu vực quốc doanh. Chính vì vậy, cần phải tiếp rục xây dựng và
hoàn thiện các chính sách tiền lương.
Phải làm cho tiền lương thực sự trở thành giá cả của sức lao động, điều
đó đòi hỏi phải tính đúng, tính đủ giá trị sức lao động để làm cơ sở cho việc
xác định mức tiền lương. Muốn vậy, mức lương cho ngườ

cầ
n được hoàn thiện chặt chẽ hơn nữa để đảm bảo công bằng cho người lao
động. Cần phải đảm bảo cho người lao động nhận được tiền công đầy đủ
cho những cống hiến mà họ đã bỏ ra. Điều đó không chỉ có ý nghĩa đối với
người lao động mà còn có ý nghĩa với xã hội để đảm bảo mục tiêu công
bằng xã hội.
Thu nhập cá nhân
được hình thành từ nhiều hình thức phân phối khác
nhau, cho nên sự điều tiết đối với từng hình thức thu nhập đòi hỏi phải nắm
vững tính chất và mức độ tưngf loại thu nhập để việc điều tiết thể hiện đúng
với tính chất, sát với thu nhập nhằm khuyến khích mọi người làm giàu một
cách chính đáng và đảm bảo tính định hương XHCN trong phân phối thu
nh
ập. Để điều tiêt thu nhập cần thực hiện thông qua hình thức điều tiết giảm
và tăng thu nhập cá nhân. Điều tiết giảm được thực hiện thông qua hình thức
thuế thu nhập cá nhân và hình thức tự nguyện đóng góp của cá nhân có thu
nhập cao vào quỹ phúc lợi xã hội, từ thiện Trong đó, thuế thu nhập cá
nhân là hình thức quan trọng nhất chủ yếu với mọi nhà nước trong nền kinh
t
ế thị trường. Đối với nước ta , mục đích của sự điều tiết giảm thu nhập cá
nhân là để thực hiện từng bước công bằng xã hội, đồng thời không triệt tiêu

23
động lực tăng thu nhập hơn nữa của các bộ phận dân cư có thu nhập cao. Để
làm tốt việc này cần nắm đúng thu nhập cá nhân trên cơ sở phân biệt được
chính xác các nguồn thu nhập cac nhân bằng các biện pháp giáo dục, hành
chín, kinh tế. Điều tiết tăng thu nhập cá nhân được thưch hiện thông quan
ngân sách nhà nước, ngân sách của các tổ chức chính trị – xã hội,các quỹ
baoe hiểm, trợ cấp, phụ c
ấp các loại, qua các hoạt động từ thiện của các tổ

và nhà nước ta từng bước cải cách quan hệ phân phối cho phù hợp với điều
kiện của đất nước và của quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá. Từng bước
khẳng định được tính ưu việt của chế đọ mới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status