Luận văn tốt nghiệp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Một số giải pháp nhằm tiếp
tục khuyến khích các hoạt
động đầu tư trong nước
1
Luận văn tốt nghiệp
BẢNG KÊ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. KKĐTTN = Khuyến khích đầu tư trong nước
2. TSCĐ = Tài sản cố định .
3. DA' = Dự án .
4. KCX = Khu chế xuất .
5. KCN = Khu công nghiệp .
6 . TƯ = Trung ương .
7. XHCN = Xã hội chủ nghĩa .
8. NĐ = Nghị định .
2
Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Đổi mới cơ chế và nâng cao hiệu quả đầu tư nói chung, đầu tư trong
nước nói riêng, là một nội dung quan trọng của quá trình đổi mới kinh tế theo
hướng kinh tế thị trường ở nước ta. Ngay sau khi kết thúc các cuộc chiến
tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam, năm 1979, với Nghị quyết Hội nghị
Trung ương lần thứ 6 (Khoá IV), Đảng ta đã khởi xướng những quan điểm
đầu tiên về giải phóng tiềm năng trong nước, bước đầu gỡ bỏ những trì hãm
của cơ chế cũ, tạo tiền đề cho nhân tố mới và cơ chế mới ra đời và phát triển.
Tư tưởng chỉ đạo của các chính sách của Đảng và nhà nước ta từ đó đến nay,
đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá VIII), đề cao việc khai
thác và phát huy tốt những tiềm năng nội lực, coi đó như là một yếu tố cốt lõi
bảo đảm cho sự phát triển đất nước diễn ra một cách bền vững lâu dài và đúng
hướng.
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn đến GS. TS .Đỗ Hoàng Toàn, TS.
Nguyễn Lê Trung , các thầy cô giáo trong Khoa và các cô chú trong Vụ doanh
nghiệp - Bộ kế hoạch Đầu tư đã giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp của
mình. Vì thời gian có hạn và sự hiểu biết còn hạn chế nên luận văn tốt nghiệp
của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý
của các thầy cô giáo trong khoa Khoa học quản lý và các cô chú công tác ở
Vụ doanh nghiệp để luận văn của em được hoàn thiện hơn.
Em xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản thân thực hiện,
không sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người khác. Nếu sai
phạm em xin chịu kỷ luật với nhà trường.
Hà Nội 01/06/2001
Sinh viên: Trần Công Khanh
4
Luận văn tốt nghiệp
PHẦN I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ KHUYẾN
KHÍCH ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC
1. Đầu tư và các hình thức đầu tư
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động kinh doanh thì điều
kiện không thể thiếu là phải có tiền. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh ,
dịch vụ mới hình thành, tiền được dùng để xây dựng nhà xưởng, mua sắm
trang thiết bị nhằm tạo ra các cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu, mua sắm
nguyên vật liệu, trả lương cho người lao động, tiền được dùng để mua sắm
thêm các máy móc thiết bị, xây dựng thêm nhà xưởng, tăng thêm vốn lưu
động nhằm mở rộng quy mô hoạt động hiện có, sửa chữa hoặc mua sắm các
tài sản cố định (TSCĐ) mới thay thế các TSCĐ đã bị hư hỏng, bị hao mòn
hữu hình (do quá trình sử dụng và do các tác động của khí hậu, thời tiết) và
hao mòn vô hình (do tiến bộ của khoa học kỹ thuật làm cho nhiều TSCĐ
nhanh chóng trở nên lạc hậu, không còn thích hợp với điều kiện mới, tiếp tục
sử dụng sẽ không có hiệu quả).
bằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo
quy định của luật này". Đối tượng của luật đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh
tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Đối tượng của Luật Khuyến
khích đầu tư trong nước gồm: tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài (hay còn gọi là thường
trú) tại Việt Nam. Các đối tượng tham gia hoạt động đầu tư có yếu tố nước
ngoài thì có thể lựa chọn một trong hai Luật.
6
Luận văn tốt nghiệp
Tuỳ theo góc độ đề cập, hoạt động đầu tư trong nước có thể được phân
theo các tiêu thức sau:
- Theo tính chất của các đối tượng đầu tư, hoạt động đầu tư gồm:
+ Đầu tư cho đối tượng vật chất: nhà xưởng, máy móc thiết bị, công
trình hạ tầng là điều kiện tiên quyết, cơ bản làm tăng tiềm lực của nền kinh
tế.
+ Đầu tư cho đối tượng tài chính: mua cổ phần, cổ phiếu là điều kiện
quan trọng để thu hút mọi nguồn vốn từ mọi tầng lớp dân cư cho đầu tư vào
các đối tượng vật chất.
+ Đầu tư cho đối tượng phi vật chất: tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực,. là
điều kiện tất yếu để đảm bảo cho đầu tư các đối tượng vật chất tiến hành
thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao.
- Theo cơ cấu tái sản xuất: hoạt động đầu tư gồm:
+ Đầu tư theo chiều rộng: là quá trình tăng quy mô đầu tư của các chủ
thể kinh doanh. Quá trình được xem xét ở hai góc độ: trên phạm vi nền kinh
tế, đó là việc thành lập doanh nghiệp mới; ở góc độ doanh nghiệp, đó là việc
triển khai dự án đầu tư mới hoặc mở rộng quy mô của các dự án hiện có. Xét
trên tổng thể, cách thứ nhất đòi hỏi vốn lớn, thời gian thực hiện đầu tư dài,
vốn khê đọng lâu, thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ vốn phải lớn, tính
chất kỹ thuật phức tạp và độ thoả hiệp cao.
+ Đầu tư theo chiều sâu: là hoạt động làm tăng nguồn lực đầu tư gắn với
+ Đầu tư thương mại: là hoạt động đầu tư là thời gian thực hiện đầu tư
và hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi đủ vốn đầu tư ngắn hạn, vốn
vận động nhanh, mức độ mạo hiểm thấp do trong một thời gian ngắn, tính bất
động không cao, lại dễ dự đoán và độ chính xác của dự đoán khá cao.
8
Luận văn tốt nghiệp
+ Đầu tư sản xuất: Là loại đầu tư dài hạn, vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm,
thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao, vì tính chất kỹ thuật của hoạt
động đầu tư phức tạp, phải chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trong
tương lai không dự đoán trước được hoặc chất lượng dự đoán khó chính xác
(về nhu cầu, giá cả đầu vào, cơ chế, chính sách, tốc độ phát triển khoa học kỹ
thuật, thiên tai, sự ổn định về chính trị ). Loại đầu tư này phải được chuẩn bị
kỹ, phải cố gắng dự đoán những gì có liên quan đến kết quả và hiệu quả của
hoạt động đầu tư trong tương lai xa, xem xét các biện pháp xử lý khi các yếu
tố bất định xảy ra để đảm bảo thu hồi đủ vốn và có lãi suất khi hoạt động đầu
tư kết thúc, khi các kết quả đầu tư đã hoạt động đến hết vòng đời của mình.
- Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư: các hoạt động đầu tư
được phân thành:
+ Đầu tư cơ bản nhằm tái sản xuất các tài sản cố định
+ Đầu tư vận hành nhằm tạo ra các tài sản lưu động cho các cơ sở sản
xuất kinh doanh dịch vụ mới hình thành, tăng thêm tài sản lưu động cho các
cơ sở hiện có, duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật không thuộc
các doanh nghiệp.
Trong hai loại đầu tư đó thì đầu tư cơ bản quyết định đầu tư vận hành.
Đầu tư vận hành tạo điều kiện cho các kết quả của đầu tư cơ bản phát huy tác
dụng. Không có đầu tư vận hành thì các kết quả của đầu tư cơ bản không hoạt
động được, ngược lại, không có đầu tư cơ bản thì đầu tư vận hành chẳng để
làm gì. Đầu tư cơ bản có đặc điểm kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi vốn lớn, thời hạn
thu hồi dài. Còn đầu tư vận hành chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn đầu
tư, đặc điểm kỹ thuật của quá trình thực hiện đầu tư không đến nỗi phức tạp
vào các định hướng đầu tư phát triển chiều sâu, đổi mới công nghệ, đa dạng
hoá sản phẩm và mở rộng quy mô doanh nghiệp hiện đang hoạt động cũng
như mở rộng thêm doanh nghiệp mới do thị trường trong và ngoài nước mở
10
Luận văn tốt nghiệp
rộng thêm và do xuất hiện nhu cầu mới hoặc do yêu cầu phân tán rủi ro, tăng
thêm khả năng cạnh tranh.
- Vốn tiết kiệm trong dân cư: có thể nói đây là nguồn vốn khá lớn, có
khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động đầu tư trong tương lai nhưng
chưa được tổ chức khai thác huy động tốt. Nhiều kết quả tính toán cho thấy,
nếu khoảng 40-45% số vốn trong dân cư đầu tư vào sản xuất và dịch vụ thì
cũng là một yếu tố đáng kể làm lên tốc độ phát triển GDP hàng năm đáng kể
của các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vu. Nếu chúng ta có chính
sách huy động thoả đáng số vốn tiết kiệm trong dân thì sẽ có khả năng tăng
nhanh cả về số tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng số các nguồn đầu tư trong
nước. Nguồn vốn tiết kiệm trong dân cư có thể coi là nền tảng của các hoạt
động đầu tư xét về lâu dài, là cơ sở của việc hình thành ba tầng hoạt động
kinh doanh trong nền kinh tế nước ta: tầng hoạt động kinh doanh không phải
đăng ký kinh doanh; tầng hộ kinh doanh cá thể; tầng kinh doanh của các
doanh nghiệp.
* Vốn huy động từ nước ngoài:
- Vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA): đây là nguồn vốn do các
nước và các tổ chức quốc tế viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay ưu đãi (lãi
suất, thời hạn vay ). Nguồn vốn này được tập trung vào ngân sách và có thể
sử dụng trực tiếp để Nhà nước đầu tư hoặc cho vay lại (nhưng phải bảo đảm
nguyên tắc hoàn trả).
- Vốn của các tổ chức phi chính phủ (NGO). Nguồn vốn này chủ yếu
dùng vào mục đích nhân đạo, nhưng cần có cơ chế thu hút thích hợp và sử
dụng, có hiệu quả hơn, đặc biệt trong việc cải thiện và phát triển các vấn đề xã
hội.
dựng, hoàn thiện một hệ thống các công cụ pháp lý và các biện pháp kinh tế,
xã hội nhằm bảo hộ, bảo đảm đối xử bình đẳng với tất cả các chủ thể tham gia
12
Luận văn tốt nghiệp
hoạt động đầu tư, khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đầu
tư, quy định thủ tục hành chính, đơn giản tiện lợi cho các tổ chức, cá nhân đầu
tư vào các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội trên lãnh thổ theo những khung
pháp lý cụ thể và theo các lĩnh vực, kế hoạch xác định cụ thể.
Mục đích sự khuyến khích của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư là tạo cơ
hội cho các chủ thể tham gia đầu tư có thể huy động và sử dụng có hiệu quả
nhất các nguồn vốn, tài nguyên, lao động tạo thêm việc làm cho xã hội,
nhằm thực hiện đường lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đồng
thời bảo hộ lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, của người góp vốn đầu tư, tăng
cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động đầu tư, cải thiện ngày
một tốt hơn môi trường kinh doanh, định hướng và tụ hội các ý đồ đầu tư của
các chủ thể tập trung vào các ngành, vùng, lĩnh vực cần khuyến khích phát
triển, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu vùng theo hướng
tiến bộ. Tuy các ý đồ cụ thể có khác nhau, song trên bình diện chung hầu hết
các quốc gia đều hướng tới các mục đích đó.
Để tạo khung pháp lý khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước
trong điều kiện thực thi nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý và định hướng của Nhà
nước, ngày 22/6/1994 Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật
khuyến khích đầu tư trong nước (KKĐTTN). Luật này có hiệu lực thi hành từ
ngày 1/1/1995. Để hướng dẫn thực hiện Luật này, ngày 12 tháng 5 năm 1995,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/CP quy định chi tiết thi hành Luật
KKĐTTN. Đây là những văn bản pháp luật đầu tiên ở cấp Luật và cấp Nghị
định nhằm điều chỉnh các quan hệ chủ yếu về KKĐTTN ở nước ta. Tuy mới
được triển khai thực hiện từ 1/1/1995, Luật KKĐTTN đã có những đóng góp
đáng kể cho sự phát triển kinh tế đất nước đem lại những luận điểm, kết quả
tất yếu phải làm tốt khâu thể chế hoá. Và nói chung trong xã hội công nhân,
Nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường thì không thể làm thiếu, làm yếu
14
Luận văn tốt nghiệp
khâu thể chế hoá. Sự thiếu nhạy cảm với những vấn đề có tính nguyên tắc như
vậy trong quy trình quản lý nói chung, quản lý bằng pháp luật nói riêng đều
làm hạn chế tác dụng tích cực của chính sách khuyến khích. Hơn nữa trong
trường hợp do chỗ những đối tượng mà Nhà nước cần khuyến khích trong
từng thời kỳ không phải bao giờ cũng trùng hợp với nguyện vọng của mọi
người dân (sự lệch pha nhất định giữa lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội và lợi
ích của cá nhân công dân) nên nếu không có sự thể chế tốt, sát hợp thì khó có
thể sử lý hài hoà các xung đột về lợi ích có thể có khi thực hiện chính sách
khuyến khích, chính sách ưu đãi của Nhà nước.
2.2. Một số nội dung hỗ trợ và ưu đãi chủ yếu của Luật Khuyến khích
đầu tư trong nước năm 1994
Xét về mặt thời hiệu pháp lý, quá trình thực hiện các quy định pháp lý về
khuyến khích đầu tư trong nước ở Việt Nam bao gồm hai giai đoạn chủ yếu:
Một là từ 22/6/1994, ngày Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua Luật
KKĐTTN cho đến ngày 01/01/1999 ngày có hiệu lực của Luật KKĐTTN
(sửa đổi) số 03/QH10; Hai là từ ngày 01/01/1999 đến nay. Trong thời kỳ thứ
nhất cũng có thể chia thành hai giai đoạn nhỏ: giai đoạn thực hiện Nghị định
số 29/CP ngày 12/5/1995 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật
KKĐTTN cho đến ngày 30/01/1998 ngày mà Nghị định số 07/1998/NĐ-CP
thay thế Nghị định số 29/CP chính phủ; giai đoạn từ Nghị định 07 có hiệu lực
đến ngày 01/01/1999 tức là ngày Luật KKĐTTN (sửa đổi) số 03/QH10 có
hiệu lực - thực hiện Nghị định số 51/1999/NĐ-CP- cho đến nay. Xét về mặt
kỹ thuật của vấn đề pháp lý có thể có một số điểm không giống nhau quy định
tại các văn bản quy phạm, song xét về tư tưởng chính sách thì những nội dung
về khuyến khích, hỗ trợ, ưu đãi không cách nhau quá xa. Nhiều nội dung quy
định tại Luật KKĐTTN năm 1994 đã được các văn bản quy phạm pháp luật
Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
16
Luận văn tốt nghiệp
b - Tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam mua cổ phần hoặc góp vốn vào
các doanh nghiệp trong nước kể cả các doanh nghiệp Nhà nước được đa dạng
hoá sở hữu hoặc các quỹ đầu tư tự chủ tài chính.
c - Doanh nghiệp do người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư trực
tiếp tại Việt Nam.
d - Doanh nghiệp do người nước ngoài cư trú lâu dài tài Việt Nam đầu tư
trực tiếp tại Việt Nam.
e - Doanh nghiệp do công dân Việt Nam cùng thành lập với người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, với người nước ngoài cư trú lâu dài tại Việt Nam.
2.2.3 - Các biện pháp hỗ trợ đầu tư: gồm 7 biện pháp:
a - Giao đất hoặc cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
b - Xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp (KCN) để cho thuê
làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh.
c - Lập và khuyến khích các quỹ hỗ trợ đầu tư để cho vay đầu tư trung
hạn và dài hạn. Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của các quỹ hỗ
trợ đầu tư.
d - Góp vốn thông qua các quỹ hỗ trợ đầu tư, Ngân hàng Thương mại,
Công ty Tài chính, vào các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần
kinh tế trên cơ sở cùng có lợi.
e - Quy định việc bảo lãnh tín dụng đầu tư của các Ngân hàng, Tổ chức
tín dụng và Công ty tài chính.
g - Phổ biến và chuyển giao công nghệ; tạo điều kiện cho các chủ đầu tư
được sử dụng với mức phí ưu đãi các công nghệ mới, tạo ra từ vốn ngân sách
Nhà nước.
17
Luận văn tốt nghiệp
a) Công nghệ tạo ra sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm thay thế hàng nhập
khẩu.
b) Công nghệ áp dụng có khả năng tạo ra sự đổi mới công nghệ, thiết bị
của các ngành khác.
c) Công nghệ sử dụng nguyên vật liệu trong nước để làm ra sản phẩm
đạt các chỉ tiêu chất lượng cao hơn so với các sản phẩm đã có cùng loại.
d) Công nghệ sạch, công nghệ sử dụng các chất phế thải rắn, lỏng, khí.
2.2.4.5 - Đầu tư vào các dự án sản xuất, kinh doanh sử dụng số lao động
bình quân trong năm ít nhất là:
a) ở đô thị loại 1 và loại 2: 100 người.
b) ở các vùng, huyện thuộc vùng dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo và
các vùng khó khăn khác (được quy định tại danh mục B và C Nghị định
07/1998/ND-CP): 20 người.
c) Các vùng khác: 50 người.
2.2.5 - Các nội dung ưu đãi chủ yếu theo Luật Khuyến khích đầu tư
trong nước:
Từ 2 và 1 xác định các loại dự án được hưởng ưu đãi, Luật KKĐTTN và
các văn bản Nghị định của Chính phủ quy định và cụ thể hoá các nội dung ưu
đãi chủ yếu theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, đó là:
2.2.5.1 - Ưu đãi về thuế:
Luật KKĐTTN quy định việc miễn, giảm đối với các loại thuế như: thuế
doanh thu, thuế lợi tức, thuế tài nguyên (Nghị định số 07 quy định thêm trên
cơ sở quy định của Luật thuế tài nguyên), thuế thu nhập cá nhân, kể cả thuế
19
Luận văn tốt nghiệp
thu nhập bổ sung đối với người có thu nhập cao, thuế chuyển lợi nhuận ra
nước ngoài, và thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị.
2.2.5.2 - Ưu đãi về đất đai:
Một số dự án được Nhà nước giao đất thì không phải trả tiền sử dụng
đất, còn những dự án phải thuê đất thì có các chế độ miễn giảm tiền thuê đất
đồng tình của đông đảo quần chúng nhân dân.
Tuy nhiên, kết quả quan trọng đó vẫn còn nhiều mặt hạn chế, còn thấp xa
so với tiềm năng có thể và cần khai thác, cũng như chưa tương xứng với yêu
cầu của công cuộc phát triển. Đất nước ta đang chuyển sang một giai đoạn
phát triển mới, theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng đòi hỏi sự phát
triển phải có tính ổn định vững chắc hơn và nhịp độ tăng trưởng phải duy trì
được ở mức cần thiết. Điều đó đòi hỏi bên cạnh việc tìm mọi biện pháp thu
hút tốt hơn các nguồn vốn từ bên ngoài phải hết sức coi trọng việc khơi thông
các nguồn vốn đầu tư trong nước bảo đảm cho các nguồn vốn này ngày càng
có vị trí quan trọng trong hoạt động đầu tư, thể hiện rõ dần vai trò quyết định
trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Kinh nghiệm thành công của nhiều nước trên Thế giới cho thấy, không
một nước nào đã phát triển kinh tế thành công mà chỉ duy nhất dựa vào nguồn
vốn từ nước ngoài. Nếu như trong giai đoạn đầu, khi đất nước còn nghèo và
chưa phát triển, tỷ lệ vốn nước ngoài có thể cao, song trong toàn bộ quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cùng với quá trình phát triển, tỷ lệ vốn nước
ngoài thường thấp hơn so với tỷ lệ vốn trong nước và theo thời gian, các
nguồn vốn trong nước ngày càng chiếm vị trí quyết định. Đó là thực tế và là
yêu cầu khách quan của sự phát triển nhanh, bền vững và bảo đảm được sự
độc lập của nền kinh tế trong quá trình phát triển và hội nhập. Đó cũng còn là
điều kiện khách quan cho sự độc lập về thể chế chính trị của một đất nước.
21
Luận văn tốt nghiệp
Xuất phát từ luận điểm trên và đáp ứng ý nguyện của nhân dân trong
nước và Việt kiều ở nước ngoài, nhất là của giới kinh doanh, Nhà nước Việt
Nam đã và đang cho xúc tiến mạnh mẽ quá trình chuẩn bị khung pháp lý cần
thiết để tạo môi trường thu hút mọi nguồn vốn tiềm tàng trong dân đầu tư vào
sản xuất kinh doanh. Nhằm phục vụ mục tiêu đó, bên cạnh việc điều tra
nghiên cứu hiện trạng trong nước, việc nghiên cứu những kinh nghiệm quốc
tế, đặc biệt là kinh nghiệm về xây dựng pháp luật về khuyến khích đầu tư của
công ty thực hiện hoặc được thực hiện nhân danh công ty, nhằm mục đích
phục vụ cho hoạt động đầu tư kinh doanh của công ty ra khỏi lợi tức chịu
thuế. Các biện pháp khuyến khích cho đào tạo gồm: trợ cấp xây dựng nhà
xưởng phục vụ cho công tác đào tạo, tính gấp đôi chi phí đào tạo công nhân ở
các Viện đào tạo được Nhà nước công nhận.
Đối với ngành Nông nghiệp, các biện pháp ưu đãi chung bao gồm: miễn
thuế lợi tức tối đa 10 năm cho các công ty chế biến sản phẩm nông nghiệp
hoặc đủ các điều kiện do Bộ Thương mại và Công nghiệp quy định, được trợ
cấp cho đến 100% chi tiêu đầu tư thực hiện trong 5 năm đầu.
Ngoài ra lĩnh vực này cũng có các biện pháp khuyến khích xuất khẩu,
khuyến khích nghiên cứu và phát triển và khuyến khích đào tạo giống như
công nghiệp.
Đối với ngành du lịch các biện pháp ưu đãi chung giống như ngành công
nghiệp, đồng thời những người thực hiện du lịch lữ hành hàng năm đưa vào
Malaysia ít nhất 500 khách du lịch thì được miễn thuế thu nhập đối với phần
thu nhập thu được từ kinh doanh du lịch theo hình thức này.
Ngoài chế độ ưu đãi riêng cho từng ngành như trên, đạo luật thúc đẩy
đầu tư của Malaysia còn quy định một số biện pháp khuyến khích đầu tư
chung cho tất cả các ngành như: miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị nhập
khẩu phục vụ cho các dự án đầu tư, các nguyên liệu, vật liệu để sản xuất, chế
biến hàng xuất khẩu, hoàn thuế doanh thu đối với nguyên liệu, vật tư sản xuất
23
Luận văn tốt nghiệp
trong nước được sử dụng sản xuất hàng xuất khẩu hoặc đóng gói hàng xuất
khẩu.
3.2 - Luật thúc đẩy đầu tư của Thailand
Năm 1977, Luật thúc đẩy đầu tư của Thailand được ban hành và nó được
sửa đổi vào năm 1992. Luật này có điểm khác so với Luật của các nước khác
là nó áp dụng cho cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.
Luật này quy định các tiêu chuẩn chủ yếu để được cấp ưu đãi đầu tư như
Từ việc nghiên cứu các Luật, các quy định pháp lý về khuyến khích đầu
tư của một số nước Châu á có thể thấy tuỳ theo đặc điểm kinh tế, địa lý, chính
trị, xã hội, dân tộc, tôn giáo của từng nước mà chính sách khuyến khích đầu
tư sử dụng ở mỗi nước mang những sắc thái và đặc thù riêng của mình, nhưng
về bản chất kinh tế, chúng có nhiều nét chung có thể rút ra để tham khảo.
Những điểm chung đó là:
Thứ nhất: tất cả các nước đều rất coi trọng nguồn vốn trong nước, coi
việc định hướng ưu tiên khuyến khích đầu tư phát triển một số lĩnh vực kinh
tế chủ yếu, một số vùng trọng điểm, trong từng thời kỳ là yếu tố đẩy nhanh sự
phát triển của đất nước.
Hai là: Nhận thức rõ ràng muốn thu hút được vốn đầu tư từ nguồn tiết
kiệm trong dân, thì Nhà nước phải có trách nhiệm tạo lập được môi trường
đầu tư thuận lợi. Môi trường đó bao gồm: sự bảo hộ về pháp lý, bảo đảm an
toàn cho đầu tư, sự rõ ràng, ổn định và nhất quán về luật pháp, sự bảo đảm về
điều kiện hạ tầng cơ bản cho đầu tư (đường sá, cầu cống, bến cảng, điện nước,
giáo dục, đào tạo, phát triển và dịch vụ ngân hàng tài chính ) sự hỗ trợ nhiều
mặt của Chính phủ.
25