………… o0o…………
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Thực trạng của việc quản lý vốn đầu tư xây
dựng cơ bản đối với ngành thuỷ lợi trong
thời gian qua
Luận văn tốt nghiệp
Đỗ Việt Hùng - Lớp D36 - 01A
2
Luận văn tốt nghiệp
Chương 1
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN VÀ CƠ SỞ ĐỂ TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUẢN
LÝ CHI ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN ĐỐI VỚI NGÀNH THUỶ LỢI
1.Những vấn đề chung về đầu tư xây dựng cơ bản:
1.1Một số khái niệm cơ bản:
1.1.1Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản:
Đỗ Việt Hùng - Lớp D36 - 01A
3
Luận văn tốt nghiệp
Đầu tư xây dựng cơ bản là quá trình sử dụng các nguồn lực vào hoạt
động sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định, nhằm từng bước
tăng cường và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế.
1.1.2.Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản:
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách nhà nước là vốn của ngân
sách nhà nước được cân đối trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm từ các
nguồn thu trong nước, nước ngoài (bao gồm vay nước ngoài của chính phủ và
vốn viện trợ của nước ngoài cho chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan
nhà nước) để cấp phát và cho vay ưu đãi về đầu tư xây dựng cơ bản.
1.1.2.1 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách Nhà nước được hình
thành từ các nguồn sau:
thường là đã xuống cấp, do thiên tai, địch hoạ gây ra, trong khi đó nhu cầu sử
dụng lại không ngừng tăng lên. Đòi hỏi phải đầu tư để nâng cấp, mở rộng và cải
tạo lại. Hiện nay các khoản chi này vẫn giữ một vị trí quan trọng, đảm bảo tiết
kiệm mà đáp ứng được một số nhu cầu đáng kể
Thứ hai: Dựa vào cơ cấu công nghệ của vốn đầu tư, chi đầutư XDCB
cho ngành thuỷ lợi được phân thành:
- Chi xây lắp: là các khoản chi để xây dựng, lắp đạt các thiết bị vào vị trí
như trong thiết kế. Tuy nhiên, ngành thuỷ lợi là ngành phi sản xuất nên chi phí
lắp đặt chiếm tỷ lệ ít. Do vậy, chi về xây lắp của ngành thuỷ lợi chủ yếu là chi
phí về xây dựng
Đỗ Việt Hùng - Lớp D36 - 01A
5
Luận văn tốt nghiệp
- Chi về máy móc thiết bị: Là khoản chi để mua sắm máy móc thiết bị
phục vụ cho ngành thuỷ lợi như các máy bơm, máy tính, dụng cụ sửa chữa
Đối với các khoản chi này chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chi đầu tư XDCB.
- Chi về XDCB khác: là các khoản chi có liên quan đến tất cả qúa trình
xây dựng như việc kiểm tra, kiểm soát để làm luận chứng kinh tế kỹ thuật và các
chi phí có liên quan đến việc chuẩn bị mặt bằng thi công, chi phí tháo dỡ vật kiến
trúc, chi phí đền bù hoa màu đất đai di chuyển nhà cửa khoản chi này chiếm tỷ
trọng nhỏ nhưng rất cần thiết.
1.1.3.2.Phạm vi sử dụng vốn ngân sách Nhà nước cho cấp phát đầu tư xây
dựng cơ bản
Vốn của ngân sách nhà nước chỉ được cấp phát cho các dự án đầu tư thuộc
đối tượng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước theo quy định của luật ngân sách
Nhà nước và quy chế quản lý đầu tư và xây dựng. Cụ thể vốn ngân sách nhà
nước chỉ được cấp phát cho các đối tượng sau:
- Các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh không có
khả năng thu hồi vốn và được quản lý sử dụng theo phân cấp về chi ngân sách
Nhà nước cho đầu tư phát triển .
1.2.1.Giai đoạn chuẩn bị đầu tư :
Giai đoạn này được bắt đầu từ khi nghiên cứu sự cần thiết đầu tư cho đến
khi có quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền.
Nội dung của giai đoạn này bao gồm:
Đỗ Việt Hùng - Lớp D36 - 01A
7
Luận văn tốt nghiệp
- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và qui mô đầu tư
- Tiến hành tiếp xúc thăm dò thị trường trong nước hoặc nước ngoài nước
để tìm nguồn cung ứng vật tư thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm. Xem xét khả năng
có thể huy động các nguồn vốn để đầu tư và lựa chọn các hình thức đầu tư
- Tiến hành điều tra khảo sát và chọn địa điểm xây dựng
- Lập dự án đầu tư
- - Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến người có thẩm quyền quyết đinh
đầu tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thẩm định dự án đầu tư.
Như vậy giai đoạn chuẩn bị đầu tư là là cơ sở để thực hiện các nội dung
tiếp theo của quá trình thực hiện đầu tư, và kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai
thác sử dụng, đây cũng là giai đoạn quyết định sự thành công hay thất bại của
công cuộc đầu tư trong tương lai
1.2.2.Giai đoạn thực hiện đầu tư:
Giai đoạn này được bắt đầu từ khi có quyết định đầu tư, công trình được
ghi vào trong kế hoạch chuẩn bị thực hiện đầu tư cho đến khi xây dựng xong
toàn bộ công trình.
Nội dung của giai đoạn này:
- Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước
- Chuẩn bị mặt bằng xây dựng
- Tổ chức tuyển chọn tư vấn khảo sát thiết kế, tư vấn giám định kỹ thuật
chất lượng công trình
- Thẩm định thiết kế, tổng dự toán công trình: Tất cả các dự án đầu tư xây
dựng thuộc mọi nguồn vốn và thành phần kinh tế đều phải được cơ quan chuyên
9
Luận văn tốt nghiệp
2. Vai trò của ngành Thuỷ lợi đối với sự phát triển kinh tế ở nước ta
2.1.Khái niệm:
Theo thống kê điều tra ngày 1/4/1999 dân số nước ta là 76.324.753 người
trong đó có 37.519.754 nam (chiếm 49,2%)và 38.804.999 nữ (chiếm 50,8%). Số
người sống ở nông thôn là 58.407.770(chiếm 76,5%) và ở thành thị là
17.916.983 người (chiếm 23,5%) với tỷ lệ tăng dân số bình quân là 2,1% từ năm
1979-1989 và là 1,7% từ năm 1989-1999. Hiện nay vấn đề phát triển nông thôn
đâng là mối quan tâm hàng đầu ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt
Nam nói riêng cũng như thu hút được sự chú ý của nhiều nhà khoa học. Để tạo
điều kiện cho sự phát triển toàn diện, đáp ứng được yêu cầu trong đời sống của
nhân dân, đòi hỏi nông thôn phải có một cơ sở hạ tầng đảm bảo, mà trước hết là
thuỷ lợi - một lĩnh vực cơ bản có tính chất quyết định. Thuỷ lợi đáp ứng các yêu
cầu về nước một trong những điều kện tiên quyết để tồn tại và phát triển cuộc
sống cũng như các loại hình sản xuất. Đồng thời thuỷ lợi góp phần không nhỏ
cho sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước, không ngừng nâng cao đời sống
cả về kinh tế và văn hoá - xã hội .
Các nguồn nước trong thiên nhiên (nước mặt ,nước ngầm) và mưa phân bố
không đều theo thời gian, không gian. Mặt khác yêu cầu về nước giữa các vùng
cũng rất khác nhau, theo mùa, theo tháng, thậm chí theo giờ trong ngày .
Như vậy có thể nói : Thuỷ lợi là biện pháp điều hoà giữa yêu cầu về nước
với lượng nước đến của thiên nhiên trong khu vực; đó cũng là sự tổng hợp các
biện pháp nhằm khai thác, sử dụng và bảo vệ các nguồn nước, đồng thời hạn
chế những thiệt hại do nước có thể gây ra.
2.2. Vai trò của Thuỷ lợi đối với việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước
ta
Đỗ Việt Hùng - Lớp D36 - 01A
10
Luận văn tốt nghiệp
giống loài cây trồng, vật nuôi, làm tăng giá trị tổng sản lượng của khu vực
- Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của nhân dân nhất là
những vùng khó khăn về nguồn nước, tạo ra cảnh quan mới
- Thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác như công nghiệp, thuỷ sản, du
lịch
- Tạo công ăn việc làm, góp phần nâng cao thu nhập cho nhân dân, giải
quyết nhiều vấn đề xã hội, khu vực do thiếu việc làm, do thu nhập thấp. Từ đó
góp phần nâng cao đời sống của nhân dân cũng như góp phần ổn định về kinh tế
và chính trị trong cả nước
- Thuỷ lợi góp phần vào việc chống lũ lụt do xây dựng các công trình đê
điều từ đó bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi
cho họ tăng gia sản xuất .
Tóm lại thuỷ lợi có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của nhân
dân nó góp phần vào việc ổn định kinh tế và chính trị tuy nó không mang lại lợi
nhuận một cách trực tiếp nhưng nó cũng mang lại những nguồn lợi gián tiếp như
việc phát triển ngành này thì kéo theo rất nhiều ngành khác phát triển theo. Từ
đó tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển và góp phần vào việc đẩy mạnh công
cuộc CNH-HĐH đất nước.
3 2.2.2.Những ảnh hưởng tiêu cực :
- Mất đất do sự chiếm chỗ của hệ thống công trình, kênh mương hoặc do
ngập úng khi xây dựng hồ chứa, đập dâng lên.
- Ảnh hưởng đến vi khí hậu khu vực, làm thay đổi điều kiện sống của
người, động thực vật trong vùng, có thể xuất hiện các loài lạ, làm ảnh hưởng tới
cân bằng sinh thái khu vực và sức khoẻ cộng đồng
Đỗ Việt Hùng - Lớp D36 - 01A
12
Luận văn tốt nghiệp
- Làm thay đổi điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn gây ảnh hưởng tới
thượng, hạ lưu hệ thống, hoặc có thể gây bất lợi đối với môi trường đất, nước
trong khu vực
+ Báo cáo tổng hợp chi tiết có đủ biểu đồ, bản vẽ minh hoạ
+ Báo cáo tóm lược các biểu đồ, bản vẽ chủ yếu kèm theo
3.Các chuyên đề, bảng biểu trong phụ lục:
+ Báo cáo thuỷ văn
+ Báo cáo địa hình
+ Báo cáo địa chất, địa chất thuỷ văn thổ nhưỡng
+ Nhiệm vụ dự án: thuỷ điện thuỷ nông, phục vụ các ngành khác …
+Thiết kế sơ bộ
+ Thiết kế thi công và dự toán
+ Thiết kế tổ chức và quản lý khai thác
+ Đền bù, di dân tái định cư ,bảo vệ môi trường
+ Đánh giá hiêu quả kinh tế dự án
+ Đánh giá tác động của môi trường của dự án và biện pháp xử lý
5. Sự cần thiết phải tăng cường việc quản lý chi đầu tư XDCB từ NSNN cho
ngành thuỷ lợi.
Từ khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường thì yêu cầu về quản
lý chi cho đầu tư XDCB cũng có sự thay đổi nhằm phù hợp với nền kinh tế mới.
Hiện nay ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới thì yêu cầu về quản lý tài chính nói
chung và yêu cầu về việc quản lý một cách chặt chẽ các khoản chi đầu tư xây
Đỗ Việt Hùng - Lớp D36 - 01A
14
Luận văn tốt nghiệp
dựng cơ bản đối với ngành thuỷ lợi nói riêng phải đảm bảo đúng mục đích, đúng
kế hoạch, đúng định mức, tiết kiệm và sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả
là hết sức quan trọng.Tuy nhiên việc quản lý các khoản chi không bị thất thoát là
một vấn đề hết sức nan giải bởi vì trong thực tế hiện tượng tham ô, tham nhũng
thì vẫn không thể loại bỏ được hết .Vì vậy mà việc tăng cường công tác quản lý
chi đầu tư XDCB từ NSNN cho ngành thuỷ lợi ở nước ta hiện nay xuất phát từ
những lý do sau:
Thứ nhất: Xuất phát từ thực trạng của công tác quản lý vốn đầu tư
định tiền tệ và kiềm chế lạm phát
Ngoài ra thực hiện công tác này còn đảm bảo cho các công trình thuỷ lợi
của nhà nước được đáp ứng đầy đủ nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn một cách
có hiệu quả để hoàn thành tiến độ thi công công trình theo đúng kế hoạch, nâng
cao trách nhiệm của các cơ quan tài chính, cơ quan cấp phát cũng như các chủ
đầu tư trong quá trình đầu tư xây dựng
Thông qua công tác quản lý một cách chặt chẽ thì cũng hạn chế được
những tiêu cực trong quá trình thi công công trình. Từ đó cũng thấy được những
mặt còn yếu kém trong công tác quản lý để từ đó có những biện pháp hoặc
những chính sách để bổ xung kịp thời nhằm làm hoàn thiện hơn công tác quản lý
.
Thứ ba : Xuất phát từ đặc điểm của các công trình ngành thuỷ lợi: Nhằm
đảm bảo cho chất lượng của công trình thuỷ lợi thì cần phải tăng cưòng công tác
quản lý bởi vì ngành thuỷ lợi có ý nghĩa rất quan trọng cho sản xuất như tưới
Đỗ Việt Hùng - Lớp D36 - 01A
16
Luận văn tốt nghiệp
tiêu, hệ thống thoát nước, thoát lũ…Đặc biệt là đối với các công trình đê điều.
Nếu công trình đê điều không làm tốt, làm theo đúng kế hoạch được duyệt …thì
khi có lũ có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng.Vì vậy mà cần phải tăng cường
công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN đối với ngành thuỷ lợi, việc tăng
cường công tác quản lý này vừa nhằm đảm bảo đồng vốn được sử dụng đúng
mục đích lại vừa đảm bảo được chất lượng công trình như thiết kế đã được
duyệt.
Xuất phát từ những lý do trên mà việc hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý
NSNN nói chung và việc tăng cường công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ
NSNN cho ngành thuỷ lợi nói riêng là hết sức cần thiết. Mặt khác việc quản lý
vốn đầu tư XDCB từ NSNN đối với ngành thuỷ lợi một cách có hiệu quả thì sẽ
nâng cao được trách nhiệm cũng như phát huy được vai trò của các cấp các
ngành các đơn vị có liên quan đến công tác quản lý, sử dụng NSNN và vốn vay
các thủ tục đầu tư và xây dựng; để quản lý sử dụng và quyết toán vốn đầu tư của
dự án, để kiểm tra giám sát quá trình đầu tư xây dựng dự án, đảm bảo sử dụng
vốn đúng kế hoạch và có hiệu quả. Vì vậy chỉ khi có ban quản lý dự án được
thành lập thì các quan hệ về phân cấp thanh toán mới được thực hiện, nên đảm
bảo đúng chế độ Nhà nước quy định
Đỗ Việt Hùng - Lớp D36 - 01A
18
Luận văn tốt nghiệp
Thứ tư : Đã tổ chức đấu thầu tuyển chọn tư vấn mua sắm vật tư thiết bị,
xây lắp theo quy định của chế độ đấu thầu (trừ những dự án được phép chỉ định
thầu)
Để thực hiện dự án đầu tư, các ban quản lý dự án, chủ đầu tư phải tuyển
chọn thầu để thực hiện thi công xây lắp, mua sắm vật tư thiết bị theo yêu cầu đầu
tư của dự án. Trong cơ chế thị trường việc đấu thầu để tuyển chọn thầu là hết sức
cần thiết. Mục đích của việc tổ chức đấu thầu là để chọn được những đơn vị thi
công xây lắp có trình độ quản lý tốt, tổ chức thi công nhanh hợp lý đảm bảo chất
lượng và giá thành hợp lý. Sau khi đã chọn thầu các đơn vị chủ đầu tư phải kí kết
hợp đồng thi công về mua sắm máy móc thiết bị; các chủ đầu tư theo dõi quản lý
và tổ chức thanh toán cho các đơn vị nhận thầu theo những điều đã kí kết trong
hợp đồng. Vì vậy nếu không có đấu thầu để chọn thầu thi công thì việc xây dựng
dự án không thể được thực hiện và việc cấp vốn đầu tư không thể có
Thứ năm: Các công trình đầu tư chỉ được cấp phát khi có khối lượng cơ
bản hoàn thành đủ điều kiện được cấp vốn thanh toán hoặc đủ điều kiện được
cấp vốn tạm ứng
Sản phẩm XDCB do các đơn vị thi công xây lắp (đơn vị trúng thầu hoặc
chỉ định thầu) thực hiện thông qua quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp xây lắp theo hợp đồng đặt hàng của các chủ đầu tư (chủ công trình).
Chính vì vậy khi nào có khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành (sản phẩm
XDCB hoàn thành - Bộ phận công trình, hạng mục công trình, công trình hoàn
thành của đơn vị xây lắp bàn giao theo đúng những điều đã ghi trong hợp đồng
Luận văn tốt nghiệp
được ghi vào trong kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước và mới được
cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản
- Giai đoạn thực hiện đầu tư : là giai đoạn thực hiện những công tác chuẩn
bị xây dựng và thực hiện công tác đâu tư xây dựng dự án. Trong giai đoạn này
các tài liệu về thiết kế dự toán, hợp đồng thi công…được hoàn thành. Chất lượng
lập duyệt cũng như đảm bảo cung cấp kịp thời các tài liệu thiết kế dự toán có ý
nghĩa quyết định trong trong việc sử dụng hợp lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
Trên cơ sở những tài liệu thiết kế dự toán được duyệt thì việc thi công xây lắp
công trình mới được thực hiện và vốn đầu tư xây dựng cơ bản mới được chi ra
cho việc thực hiện các khối lượng xây lắp đó
- Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác và sử dụng: là
giai đoạn khánh thành nghiệm thu bàn giao và quyết toán vốn đầu tư. Số thực chi
cấp phát vốn đầu tư cho dự án chỉ được thực hiện đúng theo báo cáo quyết toán
vốn đầu tư được duyệt .
Từ những điều phân tích trên cho thấy một trong những nguyên tắc cơ bản
của cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản là phải đảm bảo các tài liệu thiết kế dự
toán, tuân thủ đúng trình tự đầu tư và xây dựng. Chỉ có đảm bảo nguyên tắc này
thì tiền vốn cấp ra mới đúng kế hoạch, có hiệu quả theo đúng chủ trương đầu tư
xây dựng của Nhà nước
Thứ hai : Việc cấp phát vốn đầu tư XDCB phải đảm bảo đúng mục đích
đúng kế hoạch .
Thứ ba: Việc cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản chỉ được thực hiện
theo mức độ thực tế hoàn thành kế hoạch, trong phạm vi giá dự toán được duyệt.
Đỗ Việt Hùng - Lớp D36 - 01A
21
Luận văn tốt nghiệp
Thứ tư: Việc cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản được thực hiên bằng 2
phương pháp: cấp phát không hoàn trả và cho vay có hoàn trả
Thứ năm: Cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải thực hiện kiểm tra
quản lý chi đầu tư ở kỳ sau.
Đỗ Việt Hùng - Lớp D36 - 01A
23
Luận văn tốt nghiệp
Chương 2:
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ
BẢN ĐỐI VỚI NGÀNH THUỶ LỢI TRONG THỜI GIAN QUA
1. Khái quát về tình hình thuỷ lợi ở nước ta hiện nay:
Việt nam có 2360 con sông, trong đó có 9 hệ thống sông lớn có diện tích
lưu vực trên 10.000km2. Tổng lượng nước mặt trung bình hàng năm 835 tỷ m3,
trong đó có 313 tỷ m3 sản sinh trên lãnh thổ và 522 tỷ m3 từ lãnh thổ các nước
khác đổ vào. Tài nguyên nước dưới đất có trữ lượng động thiên nhiên toàn lãnh
thổ khoảng 1.500m3/s. Nguồn tài nguyên nước thoạt nhìn dường như được ưu
đãi, nhưng so với các nước trên thế giới thì lượng nước sản sinh trong nước vào
loại trung bình thấp (4200m3/người)
Trong những năm qua Nhà nước và nhân dân ta đã đầu tư xây dựng nhiều
công trình thuỷ lợi. Theo tài liệu điều tra cả nước đã có 8625 công trình các loại,
trong đó có 743 hồ chứa loại vừa và lớn (chưa kể hàng nghìn hồ đập nhỏ ), 1017
đập dâng, 4712 cống tưới tiêu loại vừa và lớn, gần 200 trạm bơm điện các loại.
Tổng giá trị đầu tư theo trị giá hiện tại ước tính trên 100.000 tỷ đồng (chưa kể
5700 km đê sông, 2000 km đê biển cùng với hệ thống cống và hàng nghìn km bờ
bao chống lũ ở đồng bằng sông Cửu Long). Số vốn vốn đầu tư này đã đưa diện
tích được thuỷ lợi hoá tằng từ 4 triệu ha năm 1980 đến 5 triệu ha vào năm 1990
và 6 triệu ha vào năm 2000. Tuy nhiên khả năng ngăn chặn những thiệt hại do
bão lũ gây ra rất kém, vì vậy một vùng đất nông nghiệp vẫn nằm trong tình trạng
bị ngập mặn.
Đỗ Việt Hùng - Lớp D36 - 01A
24
Luận văn tốt nghiệp