XW
Triển vọng hàng điện tử Việt Nam
nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của nước ta, trong đó đặc biệt chú trọng phát
triển kinh tế, phát triển nghiên cứu khoa học, công nghệ, phát triển giáo dục và
đào tạo, thúc đẩy giao lưu quốc tế. Đảng và nhà nướ
c coi việc phát triển điện tử
– tin học là một trong những nhiệm vụ chiến lược lâu dài nhằm tạo cho đất nước
ta có một ngành kinh tế kỹ thuật mũi nhọn có hiệu quả. Vị trí của ngành công
nghiệp điện tử – tin học trong nền kinh tế quốc dân ở nước ta cần được nâng lên
cho phù hợp với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật m
ới đang
diễn ra với qui mô rộng lớn trên thế giới.
Sự cần thiết của đề tài: Cùng với những thành tựu trong sự nghiệp đổi
mới và phát triển kinh tế đất nước, thị trường hàng điện tử đã có những bước
phát triển mạnh mẽ cả về qui mô, chất lượng và ngày càng có vị trí quan trọng
trong nền kinh tế nước ta: Các sản phẩm điệ
n tử tiêu dùng trong dân cư không
ngừng tăng lên ở cả khu vực thành thị lẫn nông thôn; chủng loại sản phẩm trên
thị trường ngày càng phong phú, đa dạng theo các mục đích sử dụng khác nhau;
chuyển từ thị trường nhập khẩu 100% sang thị trường các sản phẩm được nội địa
hoá từng phần với sự ra đời của hàng loạt các xí nghiệp liên doanh lắp ráp và
sản xuất hàng điện tử
; đã có sản phẩm điện tử xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu
tăng trong vài năm gần đây Tuy nhiên, thị trường hàng điện tử nước ta
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
Tô Mạnh Cường TC18/A2
2
là thị trường trẻ, tiềm năng còn lớn cả về phương diện sản xuất, cung ứng và nhu
cầu tiêu dùng. Do đó, cần có những nghiên cứu, đánh giá xác đáng những tiềm
năng đó của thị trường hàng điện tử Việt Nam trong tương lai.
Xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại và xu thế chuyển giao công
nghệ nhanh dưới sức ép của tốc độ phát triển khoa học, công nghệ hi
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
Tô Mạnh Cường TC18/A2
3
văn phòng và nghiên cứu thực chứng (điều tra, khảo sát). Ngoài ra, đề tài cũng
sử dụng phương pháp trưng cầu ý kiến các chuyên viên ở Bộ Thương mại và Bộ
Công nghiệp cho từng nhóm sản phẩm.
Kết cấu của khoá luận gồm 3 chương:
*Chương 1: Tổng quan về hàng điện tử. Chương này đề cập một cách khái
quát về bước phát triển của ngành công nghiệp điện t
ử nước ta trong những năm
qua cũng như các nét đặc trưng cơ bản nhất của hàng điện tử.
*Chương 2: Thực trạng và triển vọng phát triển hàng điện tử Việt nam.
Chương này tập trung phân tích thực trạng cung ứng và tiêu thụ hàng điện tử ở
Việt nam, nêu ra những nhân tố bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng đến sự
phát triển hàng điện tử của Việt nam. Qua
đó thấy được triển vọng phát triển và
sự cần thiết phải phát triển mặt hàng này. Xây dựng những quan điểm, định
hướng chính cho việc phát triển hàng điện tử của Việt nam.
*Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển hàng điện tử Việt nam.
Trong chương này, thông qua việc phân tích triển vọng phát triển hàng điện tử
Việt nam cũng như tìm hi
ểu một số kinh nghiệm phát triển thành công ngành
công nghiệp điện tử ở ngay tại Châu á để đưa ra các giải pháp thích hợp chủ yếu
nhằm phát triển hàng điện tử Việt nam.
Do thời gian nghiên cứu không nhiều, nguồn thông tin đối với mặt hàng và
trải nghiệm thực tế của người viết còn nhiều hạn chế, Khoá luận tốt nghiệp này
không thể tránh khỏi những thiếu xót nhất
định, người viết rất mong nhận được
ý kiến đóng góp phê bình của các thầy cô và các bạn. Xin chân thành cám ơn!
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
rẻ hơn để tập trung phát triển công nghệ cao ở chính hãng.
+ Hàng điện tử có hàm lượng chất xám cao, cơ cấu sản phẩm luôn thay đổi,
trong đó dịch vụ và công nghệ phần mềm chiếm tỷ trọng cao.
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
Tô Mạnh Cường TC18/A2
5
+ Vòng đời của các sản phẩm điện tử rất ngắn, các sản phẩm nhanh chóng
được thay đổi, hoàn thiện bằng các sản phẩm mới. Công nghiệp điện tử là động
lực thúc đẩy và là cơ sở để thúc đẩy và phát triển nhiều lĩnh vực công nghệ
khácdẫn đến các thay đổi mang tính dây chuyền. Đây được coi là cơ sở của thời
kỳ hậu công nghiệp , chuyển sang kinh tế
tri thức.
b.Về công nghệ:
+ Tốc độ thay đổi công nghệ rất nhanh, chu kỳ sống của sản phẩm ngắn.
Công tác nghiên cứu và triển khai (R&D) là một trong những yếu tố quyết định
sự thành bại của các hãng lớn, ở đây khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp.
+ Phát triển công nghệ tích hợp cao cả về linh kiện và thiết bị.
+ Công nghệ thông tin và máy tính ngày càng tác độ
ng lớn đến sản xuất-kinh
doanh, cách làm việc và lối sống xã hội.
+ Điện tử -Tin học-Viễn thông-Tự động hoá ngày càng gắn kết với nhau
trong một sản phẩm hoặc hệ thống thiết bị.
+ Ngành công nghiệp điện tử cần lượng vốn đầu tư lớn để đầu tư cho sản
xuất, thiết kế sản phẩm, nghiên cứu – triển khai, đổ
i mới công nghệ và đào tạo
nguồn nhân lực có trình độ cao. Đồng thời do đặc tính kế thừa và tính bảo mật
cao trong sản xuất và nghiên cứu nên việc chuyển giao công nghệ rất hạn chế.
Do đó hầu hết các sản phẩm điện tử nổi tiếng đều tập hợp vào một số công ty,
tập đoàn có tiềm lực mạnh về vốn và công nghệ như các nước M
Ở Hà nội cũng như các tỉnh phía bắc, từ sau năm 1975 đến những năm đầu
c
ủa thập kỷ 80, các sản phẩm điện tử gia dụng vẫn còn được coi là sản phẩm
‘quý hiếm’. Các gia đình có tivi (đa phần là loại tivi cũ mang từ miền nam ra),
radiocassete đã được coi là những gia đình thuộc loại khá giả. Ngành điện tử
viễn thông còn hết sức nhỏ bé, máy tính nhỏ trong cơ quan và gia đình hầu như
chưa có, càng không thể nói tư nhân có điện thoại trong nhà.
Từ đi
ểm xuất phát ban đầu là con số không, ngày nay ngành điện tử tin học
Việt nam đã hoàn toàn đổi khác. Ngành điện tử dân dụng với những dây chuyền
lắp ráp tivi đen trắng đầu tiên, hiện nay trong cả nước đã có nhiều dây chuyền
lắp ráp tivi màu với những trang bị kỹ thuật tương đối hiện đại cùng với những
xí nghiệp sản xuất linh kiện, phụ kiện điện tử
, không những đáp ứng đủ cho nhu
cầu trong nước mà còn để xuất khẩu. Số lượng khá lớn máy vi tính cũng được
lắp ráp trong nước bằng linh kiện nhập ngoại. Cùng với sự ra đời của các liên
doanh trong ngành điện tử, một số loại linh kiện, phụ kiện quan trọng của hàng
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
Tô Mạnh Cường TC18/A2
7
điện tử đã được sản xuất trong nước đáp ứng cho nhu cầu sản xuất, lắp ráp của
ngành cũng như để xuất khẩu. Ngành tin học phát triển với tốc độ đặc biệt nhanh
chóng. Máy tính điện tử mới được nhập vào Việt nam từ những năm 80 nhưng
đã tăng mạnh từ những năm 90-91 trở lại đây. Ngày nay, máy vi tính đã được
trang b
ị hết sức phổ biến trong mọi cơ quan, trường học, bệnh viên, xí nghiệp,
viện nghiên cứu Không ít gia đình tư nhân cũng đã có máy vi tính. Hơn thế
nữa, các hệ máy tính mới cũng được trang bị và dần thay thế các thế hệ máy cũ.
Trong mấy năm gần đây, đã có hàng trăm công ty tin học ra đời, trong đó, đa số
là các công ty kinh doanh, dịch vụ tin học, đồng thời cũng đã có mộ
Trong mấy thập kỷ qua, hàng điện tử đã đẩy nhanh quá trình tự động hoá
trong công nghiệp, giúp tối ưu hoá quá trình sản xuất, hợp lý hoá sử dụng tài
nguyên, tạo ra một năng suất và chất lượng mới. Đời sống văn hoá đã có những
thay đổi lớn về mọi mặt, cách thức và lề lối làm vi
ệc cũng đã có những chuyển
biến về cơ bản Do vậy, hàng điện tử có một vai trò quan trọng đối với nền kinh
tế quốc dân, đó là:
* Ngành công nghiệp sản xuất hàng điện tử là một ngành công nghiệp mũi
nhọn trong nền kinh tế quốc dân của nhiều nước trên thế giới. Công nghiệp điện
tử đang thúc đẩy mạnh mẽ sự phát tri
ển của nhiều ngành kinh tế khác, trở thành
cơ sở ‘Hạ tầng’ trong các lĩnh vực kinh tế-an ninh-quốc phòng của nhiều quốc
gia.
* Hàng điện tử không chỉ góp phần làm tăng trưởng kinh tế mà nó còn làm
thay đổi các mối quan hệ, sản xuất, kinh doanh, quản lý trong mọi lĩnh vực
không chỉ trong giới hạn một quốc gia, mà còn mang tính toàn cầu. Hiện nay có
nhiều nguời coi công nghệ điện tử và công nghệ thông tin là cuộ
c cách mạng
công nghiệp lần thứ hai, mang tính toàn cầu góp phần chuyển nền kinh tế thế
giới sang giai đoạn phát triển mới - nền kinh tế tri thức.
* Hàng điện tử đóng vai trò quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy
khoa học, công nghệ, kỹ thuật phát triển, góp phần tăng nhanh giá trị gia tăng,
đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, thúc đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hoá, kéo theo sự phát triển của nhiề
u ngành công nghiệp, dịch vụ khác
tạo thêm nhiều việc làm, thu hút nhiều lao động, nâng cao mức sống người dân.
* Đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt nam thì sản xuất hàng
điện tử đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước.
* Giúp các nước đang phát triển có cơ hội tham gia vào quá trình phân công
tin học phù hợp v
ới đặc điểm tác chiến của Việt nam. Đó là nhu cầu có tính chất
cơ bản, lâu dài của quân đội và quốc phòng đặt ra đối với công nghiệp điện tử
nói chung và cho mặt hàng điện tử nói riêng.
Các thiết bị điện tử – tin học dùng trong quân đội rất phong phú, đa dạng
và được sử dụng rộng rãi trong các quân binh chủng: Không quân, Hải quân,
Phòng không, Thông tin và ở nhiều lĩng vực khác nhau như:
+ Các phươ
ng tiện chiến đấu (tên lửa có điều khiển. bom, mìn, đạn, pháo,
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
Tô Mạnh Cường TC18/A2
10
cối có điều khiển, thuỷ lôi, như lôi và các hệ thống vũ khí có điều khiển khác).
+ Các phương tiện trinh sát, dẫn đường, điều khiển hoả lực và tích hợp
phương tiện chiến đấu (rada các loại, các khí tài trinh sát, dẫn đường, điều khiển
bắn, phóng ).
+ Các phương tiện để chỉ huy, thông tin liên lạc (hệ thống tự động hoá chỉ
huy, các phương tiện thông tin liên lạc: Vô tuyến đ
iện, Viba )
+ Các phương tiện huấn luyện, các phương tiện đào tạo (mô phỏng, giả
mục tiêu, gỉa nhiễu ).
+ Các phương tiện tác chiến điện tử (trinh sát, chế áp, gây nhiễu đối
phương ) và các phương tiện chống nhiễu, an toàn dữ liệu và bảo mật thông tin.
+ Các phương tiện quản lý, điều hành (các mạng máy tính phục vụ thu
thập thông tin, quản lý, chỉ huy, điều hành, điều khi
ển dây chuyền sản xuất quốc
phòng, sửa chữa vũ khí trang bị quân sự ).
Sự vững mạnh về an ninh – quốc phòng đối với một quốc gia là một yếu
tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển đồng thời đem lại cho quốc gia đó
một vị thế vững chắc trên trường quốc tế.
- Thu nhận thông tin của người dân từ khắp mọi nơi một cách nhanh chóng
và kịp thời.
- Phục vụ công tác giám định điều tra và truy cứu tội phạ
m hình sự
- Giúp cho việc theo dõi đối tượng, phạm nhân và chống trốn trại một cách
hiệu quả nhất.
- Hỗ trợ công tác điều tra, phương án tác chiến của ngành đạt hiệu quả cao
nhất.
III. TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG HÀNG ĐIỆN TỬ THẾ GIỚI.
1. Tình hình cung trên thị trường hàng điện tử thế giới.
1.1 Thiết bị điện tử dân dụng:
Thiết bị điện tử dân dụng (TBĐTDD) chiếm khoảng 9 - 10% tổng sản
lượng công nghiệp điện tử toàn cầu. Theo ý nghĩa ban đầu, TBĐTDD bao gồm
các thiết bị điện tử sử dụng trong đời sống sinh hoạt gia đình như Radio,
television (TV), radiocassette (R/C), đầu video (V/C) Tuy nhiên, cùng với sự
phổ cập hơn các thiết bị chuyên dụng và thiết bị thông tin khác như máy tính cá
nhân (PC), máy quay video, điện thoại cũng như xu hướng phát triển của các
thiết bị đa tính năng (TV kết hợp với V/C, PC, điện thoại ) ở nhiều nước, các
thiết bị này cũng được xếp vào nhóm TBĐTDD.
Vào những năm đầu 90, các nước NlCs đã nổi lên như những nhà cung
cấp TBĐTDD giá rẻ hàng đầu thế giới. Trong giai đoạn 1990-1992, trong khi
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
Tô Mạnh Cường TC18/A2
12
sản xuất TBĐTDD giảm bình quân l,4%/năm ở Nhật Bản và l,3%/năm ở Mỹ thì
sản xuất TBĐTDD của Hàn Quốc đạt tốc độ tăng bình quân 3,6%/năm, Trung
Quốc 6,8%/1năm và Malayxia tới 33,4%/năm. Sản xuất TBĐTDD chiếm trên
30% tổng sản lượng của ngành công nghiệp điện tử Hàn Quốc, 40% của Trung
Quốc và trên 32% của ẤN Độ Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng, sản xu
Tô Mạnh Cường TC18/A2
13
nước ÂU, Mỹ. Các nước Châu Á hiện đã trở thành khu vực cung cấp chủ yếu
nhiều loại cấu kiện PC: 80% cấu kiện PC của Seagate Technology được sản xuất
tại Thái Lan, Singapore và Malaysia. Đài Loan sản xuất 80% bộ mạch chủ PC;
Nhật Bản chi phối 90% màn hình tinh thể lỏng cho PC lưu động; Singapore
đang đứng đầu về sản xuất ổ cứng và có tới 50% PC của Apple bán trên thế giới
được sản xuấ
t tại nước này.
Xu hướng chung của phần cứng tin học và viễn thông là nhanh hơn, nhỏ
hơn, tiện lợi hơn và rẻ hơn. Riêng giá máy tính bình quân hàng năm giảm 40-
50% trong 5 năm gần đây.
Hiện nay PC đang có dấu hiệu trở thành hàng tiêu dùng phổ thông. Đặc
trưng của sản xuất máy tính là gia tăng mức độ tiêu chuẩn hoá nhằm tạo nên sự
tương thích của tất cả các loại máy, từ nhỏ nhất
đến máy lớn đa năng. Cạnh
tranh trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt mà trước hết là giữa các hãng của
Mỹ như IBM, Compaq, Apple, DEL, Hewlett Packard và sau đó là Toshiba,
NEC, Bull, Acer Các hãng đều cố gắng giảm chi phí từ khâu sản xuất đến
phương thức bán hàng, cải tạo hệ thống bán lẻ, đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Nếu tính cả các dịch vụ thì phần mềm và phần cứng đạt được sự thăng
b
ằng vào năm 199 l, nhưng từ năm l 992 giá trị phần mềm và dịch vụ lớn hơn
phần cứng và mức chênh lệch này ngày càng cao. Việc giảm giá bán các loại
máy tính kéo theo sự giảm giá của các phần mềm. Mỹ cũng là nước chi phối thị
trường phần mềm với 6/1O hãng cung cấp phần mềm lớn nhất thế giới. Tuy
nhiên, thị trường phầnmềm hiện đã có sự tham gia của mộ
t số nước đang phát
triển như Đài Loan, Philippin và đặc biệt là Ấn độ
1.3 Linh kiện điện tử:
đang được chuyển dịch dần sang các nước NlCs và một số nước Châu Á khác
xuất phát từ nhu cầu cạnh tranh về giá cả. Tuy nhiên, trong những năm tới, Nhật
Bản và Mỹ v
ẫn là những nước đứng đầu về cung cấp các sản phẩm bán dẫn, mặc
dù tỷ trọng của hai nước này trong tổng sản lượng bán dẫn toàn cầu có xu hướng
giảm đi trong khi tỷ trọng của các nước Châu Á - Thái Bình Dương khác tăng
lên cùng với xu hướng chuyển dịch sản xuất các thiết bị đơn lẻ sang khu vực thị
trường này. Theo Hiệp hội Công nghiệp bán dẫn (SIA), doanh số bán chíp bán
dẫn toàn c
ầu trong tháng 8 năm 2002 đạt 11,9 tỷ USD, tăng 2,2% so với tháng
7/2002 và tăng 14% so với tháng 8/2001. Đây là mức tăng 2 chữ số đầu tiên kể
từ cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất của ngành công nghiệp này trong năm 2001.
Doanh số bán chíp ở Mỹ, EU và Nhật bản giảm lần lượt khoảng 12%, 9% và
7,5% trong năm 2002, song lại tăng mạnh tới 30% ở khu vực Châu Á -
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
Tô Mạnh Cường TC18/A2
15
Thái Bình Dương. Điều này cho thấy các hoạt động sản xuất chế tạo của ngành
đang có xu hướng chuyển sang khu vực này.
2. Tình hình cầu trên thị trường hàng điện tử thế giới
2.1 Thiết bị điện tử dân dụng:
Về cơ cấu thị trường, Mỹ là nước đứng đầu về tiêu thụ TBĐTDD, thứ hai
là Nhật bản, tiếp theo là Đức, Anh và Pháp. Mộ
t xu hướng nổi bật trong tiêu thụ
TBĐTDD là số lượng thiết bị tăng mạnh nhưng giá thiết bị giảm đáng kể (20 -
40% trong 5 năm qua, tuỳ loại thiết bị).
Nếu tính về mức sử dụng thiết bị bình quân đầu người, thị trường
TBĐTDD ở các nước phát triển hầu như đã bão hoà. Tỷ trọng TBĐTDD trong
tổng mức tiêu thụ hàng điệ
14,4
2.594
14,7
4,00
Trung Quốc
-Tỷ trọng/ tổng mức t.thụ hàng đ.tử
4.395
20,8
4.623
19,9
4.837
19,3
5.033
18,7
4,62
Ấn Độ
-Tỷ trọng/ tổng mức t.thụ hàng đ.tử
1.225
23,6
1.297
23,9
1.374
24,2
1.440
24,7
5,55
Nguồn: Year book of World Electronics, Oxford, UK, 1997
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
Tô Mạnh Cường TC18/A2
16
So với năm trước
(%)
- 115,2 107,8 106,9 113,0 115,1
Nguồn: Dataquest 1998, 1999
Tuy nhiên, tốc độ tăng tiêu dùng cao nhất trong những năm qua thuộc về
các loại máy chủ (server) xuất phát từ nhu cầu phát triển công nghệ thông tin,
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
Tô Mạnh Cường TC18/A2
17
các hệ thống mạng nội bộ và sử dụng dịch vụ Internet. Lợi nhuận trong lĩnh vực
sản xuất và kinh doanh máy chủ cao hơn cũng khuyến khích các nhà sản xuất
đầu tư vào ngành này. Thị phần của các nhà cung cấp máy chủ (Compaq, HP,
IBM, Dell Computer) tăng lên trong khi thị phần của các hãng cung cấp PC nhỏ
NCR, Oliveti, Acer giảm đi.
Về cơ cấu sản phẩm, PC xách tay là một trong các sản phẩm được tiêu thụ
mạnh nhấ
t, chiếm khoảng 33% tổng tiêu thụ PC ở Mỹ và 20% tổng tiêu thụ PC
ở Tây ÂU. Doanh thu các loại PC xách tay giá rẻ đạt tốc độ tăng tiêu thụ
18%/năm trong khi mức tăng tiêu thụ PC nói chung chỉ đạt ll,58%/năm. PC xách
tay giá rẻ được tiêu thụ nhiều nhất tại thị trường Mỹ, nơi công nghệ máy tính
phát triển mạnh. Ước tính, các PC có mức giá dưới 1000 USD chiếm tới 40% thị
trường PC Mỹ, trong khi ở Châu ÂU và Nhật, 2/3 tổng số máy bán ra là lo
ại
máy chuyên dụng với giá cao. Theo số liệu sơ bộ của Công ty dữ liệu Quốc tế
năm 2003, số lượng máy tính cá nhân bán ra trên toàn thế giới lên đến 32,6 triệu
chiếc, tăng 3,8% so với năm 2002. Riêng doanh số bán ở Châu Á (trừ Nhật bản)
lần đầu tiên vượt mốc 6 triệu lên 6,52 triệu chiếc, tăng 15% so với năm 2001.
Tốc độ tăng trưởng này tuy có thấp hơn so với dự báo 4% nhưng nó đã cho th
ấy
tình hình thị trường có chiều hướng khả quan.Hiện doanh số máy tính cá nhân ở
100
257
100
10,4
- Mỹ
Tỷ trọng (%)
41,44
28,0
83,03
31,0
79,67
31,0
12,25
- C.Á -TBD.(trừ Mỹ, N.bản)
Tỷ trọng (%)
31,08
21,0
67,03
25,0
64,25
25,0
13,70
- Nhật Bản
Tỷ trọng (%)
40,40
30,0
64,32
24,0
59,11
23,0
phát triển tốc độ của bộ xử lý với chi phí không đổi) đã được kiểm chứng trong
hơn 3 thập kỷ qua vẫn là cơ sở nền tảng của xu hướng phát triển công nghệ
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
Tô Mạnh Cường TC18/A2
19
trong những năm tới. Tuy nhiên, sau năm 2010, định luật này có thể sẽ bị chi
phối bởi các quy luật vật lý và quy luật kinh tế, khi mật độ các Transistor trên
các chíp đã tăng tới mức giới hạn mà độ rộng của từng mạch cho phép. Về
nguyên tắc, đến một giới hạn nhất định, chi phí để thử nghiệm chíp sẽ cao hơn
chi phí sản xuất ra chúng, vì vậy mục tiêu tăng giá thành sản phẩm (giá c
ủa chíp
tính trên một Transistor hay một đơn vị tốc độ) sẽ không đạt được Tuy nhiên,
những thành công bước đầu về công nghệ lượng tử và công nghệ siêu nhỏ sẽ cho
phép công nghệ tin học duy trì được tốc độ phát triển theo định luật này trong
tương lai.
Trong một vài năm tới, những thay đổi về công nghệ sản xuất linh kiện
với các bộ nhớ có năng lực cao gấp bội bằng công nghệ
chồng 2 chíp bộ nhớ
256 MB và bộ nhớ hệ thống mới - RDRAM (Direct Rambus DRAM) thay thế
cho SDRAM hiện nay với kết nối tốc độ cao sẽ làm thay đổi cơ bản các máy
tính cá nhân. Việc điều chỉnh hoá được thực hiện dễ dàng với giải pháp lắp linh
kiện trên mạch in cho các hệ thống dòng điện nhỏ và tín hiệu. Việc xuất hiện
công nghệ lắp ráp bề mặt (SMT) thay. dần cho cách xuyên chân linh kiện qua lỗ
kim mạch in đã tạo chất lượng sản phẩm có độ tin cậy cao hơn. Hiện nay đã xuất
hiện chất bán dẫn hữu cơ polimer. Tương lai máy tính điện tử tiến tới máy tính
quang điện tử, máy tính quang tử, máy tính lượng tử
Công nghệ truyền hình và phát thanh số hoá có độ nét cao sẽ phát triển và
có xu hướng phổ cập trên toàn thế giới trong những năm tới. Công nghệ truyền
thông qua vệ tinh tr
máy thu, điều chỉnh, giải mã, CPU và hệ điều hành chung, gần giống như TV
hiện nay có bổ sung thiết bị đĩa VIDEO quang số.
- Những thiết bị hiện đang được đưa vào sử dụng như điện thoại VIDEO
và thiết bị viễn thông có thể nhận và gửi ảnh từ 2 phía đã tr
ở thành phổ biến vào
năm 2001 tại Nhật Bản (trước EU l năm và Mỹ 2 năm). Nhật Bản đã phủ sóng
hệ thống điện thoại thế hệ thứ 3 (3G) dùng công nghệ thông tin di động băng
rộng (CDMA).
- Trong công nghệ điện tử dân dụng, những hình thức đầu tiên của Hom
Server có thể được thương mại hoá rộng rãi trong một vài năm tới.
Xu hướng kết hợp giữ
a công nghệ tin học và TBĐTDD đẫn đến những
thay đổi lớn về cơ cấu sản xuất điện tử toàn cầu. Các hãng công nghệ tin học
hàng đầu thế giới - Compaq, Microsoft, Gataway có xu hướng kết hợp với các
nhà cung cấp sản phẩm TBĐTDD - Sony, Phillips Electronics, Mitsubishi
Electronics để cho ra đời các sản phẩm TBĐTDD có công nghệ cao.
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
Tô Mạnh Cường TC18/A2
21
Đồng thời, xu hướng quốc tế hoá của các sản phẩm điện tử tin học sẽ trở
thành yêu cầu thiết yếu đối với các lĩnh vực khác của ngành công nghiệp điện
tử, trong đó bao gồm cả TBĐTDD để đáp ứng yêu cầu về độ tương thích và tính
linh hoạt của các sản phẩm điện tử trong tương lai.
3.3 Xu hướng về thị trườ
ng
Do những thay đổi về cơ cấu sản xuất, về mức độ cạnh tranh trong sản
xuất và tiêu thụ, đặc biệt là do sự kết hợp ngày càng chặt chẽ giữa sản xuất thiết
bị xử lý dữ liệu và sản xuất TBĐTDD nên các phương thức buôn bán trên thị
trường điện tử ngày càng có nhiều thay đổi.
- Nhằm đáp ứng yêu cầu thuận tiện trong mua sắ
cũng như cung cấp các loại thiết bị đòi hỏi công ngh
ệ cao và đầu tư cho nghiên
cứu triển khai các sản phẩm mới.
Mỹ cũng chi phối thị trường thiết bị điện tử tin học thế giới, chiếm tới
96% tổng giá trị CPU toàn cầu. Với tốc độ tăng trưởng trên 8%/năm trong giai
đoạn 1993-1999 (trong đó tăng trưởng dịch vụ phần mềm là 10,7%/năm, phần
cứng là 9,9%/năm và dịch vụ viễn thông là 4,6%/nă
m), công nghệ thông tin của
Mỹ chiếm gần 35% trong tổng giá trị tăng trưởng của Mỹ.
b. Nhật bản:
Nhật bản là siêu cường về công nghiệp điện tử, đứng sau Mỹ nhưng phát
triển hơn nhiều so với Tây âu. Công nghiệp sản xuất thiết bị tin học và viễn
thông Nhật bản dựa trên nền tảng sản xuất linh kiện điện tử bán d
ẫn mạch với tỷ
trọng khoảng 40% thị trường thế giới và chiếm 50% thị trường thế giới về các
linh kiện bán dẫn đại trà như DRAM. Tuy thua xa Mỹ về vi mạch tính toán và
thiết bị chuyên dùng nhưng sản lượng màn hình tinh thể lỏng của Nhật chiếm tới
90% thị trường thế giới
Công nghiệp điện tử đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Nhật. Chỉ
riêng doanh thu từ các thiết bị tin học (không kể viễn thông) đã chiếm khoảng
1,5% GDP. Mặc dù tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực sản xuất linh kiện, đặc biệt
là linh kiện bán dẫn và đồ điện dân dụng trong những năm gần đây có giảm đi
nhưng sản xuất thiết bị tin học tăng nhanh, thiết bị bán dẫn và linh kiện vẫn
chiếm một tỷ tr
ọng đáng kể trong ngành công nghiệp điện tử Nhật bản-30% tổng
giá trị sản lượng ngành điện tử và gần 60% kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử.
Năm 2002, xuất khẩu PC của Nhật bản đã đạt được gần 9 triệu chiếc.
c. Các nước EU:
Về dung lượng thị trường, tây âu là thị trường đứng thứ 2 thế giới (sau
Mỹ
trò quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế. Trong n
ăm 2000, xuất khẩu hàng điện
tử giữ vị trí hàng đầu và chiếm 36,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Hàn quốc.
TBĐTDD chiếm gần 31% sản lượng và là mặt hàng xuất khẩu lớn của Hàn
quốc, chiếm 24,6% tổng giá trị xuất khẩu hàng điện tử, chỉ đứng sau xuất khẩu
linh kiện (58%). Có lúc, Hàn quốc đã đứng đầu về xuất khẩu TV trên thế giớ
i và
hiện nay là nước đứng thứ 3 về sản lượng TV màu.
Hàn quốc phát triển nhanh trong lĩnh vực sản xuất bán dẫn. Năm 1990, nước
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
Tô Mạnh Cường TC18/A2
24
này mới chỉ xuất khẩu được 0,4 triệu USD linh kiện bán dẫn thì từ năm 1994
đén nay kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 10 tỷ USD và tốc độ tăng bình
quân 17%/ năm. Linh kiện điện tử cũng chiếm tỷ trọng lớn trên thị trường điện
tử Hàn quốc-trên 40% tổng doanh thu về điện tử trong khi tiêu thụ TBĐTDD chỉ
khoảng 15%.
Ngành điện tử Hàn qu
ốc có mức độ tập trung hoá cao: 3 hãng SamSung, LG-
Goldstar và Huyndai chiếm 40% doanh số của ngành; 51 trong số 700 xí nghiệp
sản xuất TBĐTDD chiếm tới 87% tổng sản lượng, trong đó, riêng 9 cơ sở đã
chiếm 50% giá trị xuất khẩu. Các thiết bị phụ trợ, linh kiện (các bộ nhớ) cũng
như máy vi tính hoàn chỉnh đều tập trung ở SamSung và Goldstar với giá trị
xuất khẩu trên 1,5 tỷ USD/năm.
b. Trung quốc:
Công nghiệ
p điện tử Trung quốc là một ngành phát triển năng động nhất
trong nền kinh tế quốc dân nước này. Ngành này có 5000 hạng mục hàng hoá,
trong đó, có nhiều mặt hàng đạt trình độ quốc tế từ những năm đầu thập kỷ 90.
Giá trị sản lượng TBĐTDD năm 1993 đạt 8,5 tỷ USD, chiếm 60% tổng sản