Luận văn
Tổ chức công tác kế toán tập hợp
chi phí và tính giá thành sản
phẩm tại Xí nghiệp Sông Đà 12-6
Mục Lục
CH NG 1: C S LÝ LU N V K TOÁN T P H P CHI PH S N ƯƠ Ơ Ở Ậ Ề Ế Ậ Ợ Í Ả
XU T VÀ T NH GIÁ THÀNH S N PH M DOANH NGHI P XÂY Ấ Í Ả Ẩ Ở Ệ
D NG C B NỰ Ơ Ả 6
1.1. S c n thi t t ch c k toán t p h p chi phí s n xu t v tính giáự ầ ế ổ ứ ế ậ ợ ả ấ à
th nh s n ph m trong Doanh nghi p Xây d ng c b n.à ả ẩ ệ ự ơ ả 6
1.1.1. c i m ng nh Xây d ng c b n v s n ph m xây l p tác Đặ đ ể à ự ơ ả à ả ẩ ắ
ng n công tác k toán.độ đế ế 6
1.1.2. Yêu c u v nhi m v c a công tác qu n lý, h ch toán chi phí ầ à ệ ụ ủ ả ạ
s n xu t v tính giá th nh s n ph m trong Doanh nghi p xây d ng cả ấ à à ả ẩ ệ ự ơ
b n.ả 7
1.2. Nh ng v n lý lu n v k toán t p h p chi phí s n xu t v ữ ấ đề ậ ề ế ậ ợ ả ấ à
tính giá th nh s n ph m trong Doanh nghi p xây d ng c b n.à ả ẩ ệ ự ơ ả 9
1.2.1. Khái ni m chi phí s n xu t v phân lo i chi phí s n xu t trong ệ ả ấ à ạ ả ấ
Xây d ng c b n. ự ơ ả 9
1.2.2. Giá th nh v phân lo i giá th nh sap xây l p.à à ạ à ắ 12
1.2.3. M i quan h gi a chi phí s n xu t v giá th nh s n ph m.ố ệ ữ ả ấ à à ả ẩ 14
1.3. Ph ng pháp k toán t p h p chi phí s n xu t v tính giá th nh ươ ế ậ ợ ả ấ à à
s n ph m trong Doanh nghi p xây d ng c b n.ả ẩ ệ ự ơ ả 15
1.3.1. Ph ng pháp k toán t p h p chi phí s n xu t.ươ ế ậ ợ ả ấ 15
1.3.2. ánh giá s n ph m d dang trong Doanh nghi p xây l p.Đ ả ẩ ở ệ ắ 23
1.3.3. i t ng ph ng pháp tính giá th nh s n ph m xây l p.Đố ượ ươ à ả ẩ ắ 25
1.4. H th ng s sách k toán s d ng t p h p chi phí s n xu t ệ ố ổ ế ử ụ để ậ ợ ả ấ
v tính giá th nh s n ph m Doanh nghi p xây d ng c b n.à à ả ẩ ở ệ ự ơ ả 27
Ch ng 2: TH C TR NG CÔNG TÁC K TOÁN T P H P CHI PH S Nươ Ự Ạ Ế Ậ Ợ Í Ả
XU T VÀ T NH GIÁ THÀNH S N PH M T I X NGHI P SÔNG À 12-6Ấ Í Ả Ẩ Ạ Í Ệ Đ
29
XHCN ở nước ta đang có những bước phát triển mạnh mẽ, tốc độ phát
triển cơ sở hạ tầng vì thế mà cũng phát triển nhanh chóng làm thay đổi
bộ mặt của đất nước từng ngày, từng giờ. Điều đó không chỉ có nghĩa
khối lượng công việc của ngành XDCB tăng lên mà kéo theo đó là số
vốn đầu tư XDCB cũng gia tăng. Vấn đề đặt ra làm sao để quản lý vốn
một cách có hiệu quả, khắc phục tình trạng thất thoát, lãng phí vốn trong
điều kiện sản xuất kinh doanh xây lắp phải trải qua nhiều giai đoạn (từ
thiết kế, lập dự án, thi công đến nghiệm thu ), thời gian thi công kéo
dài nhiều tháng, nhiều năm.
Chính vì lẽ đó hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành là một
phần cơ bản, không thể thiếu của công tác hạch toán kế toán đối với
không chỉ đối với các Doanh nghiệp mà rộng hơn là đối với cả xã hội.
Với các Doanh nghiệp, thực hiện công tác hạch toán kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm làm cơ sở để giám sát các hoạt
động, từ đó khắc phục những tồn tại, phát huy những tiềm năng đảm bảo
cho doanh nghiệp luôn đứng vững trong cơ chế thị trường luôn tồn tại
cạnh tranh và nhiều rủi ro như hiện nay.
Với Nhà nước, công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành ở Doanh nghiệp cơ sở để Nhà nước kiểm soát vốn đầu tư XDCB
và kiểm tra việc chấp hành chế độ, chính sách tài chính của các Doanh
nghiệp.
Nhận thức được vấn đề đó, với những kiến thức đã tiếp thu được
tại trường cùng thời gian tìm hiểu thực tế công tác kế toán tại Xí nghiệp
Sông Đà 12-6. Được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo cùng
toàn thể các anh chị Phòng Tài chính - Kế toán của Xí nghiệp, em đã đi
sâu nghiên cứu đề tài "Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí và tính
giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp Sông Đà 12-6".
4
Nội dung của đề tài được chia làm 03 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
phòng cho đất nước. Do vậy, XDCB luôn thu hút một bộ phận không nhỏ
vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, đồng thời cũng là ngành chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng thu nhập quốc dân (GDP). So với các ngành sản
xuất, XDCB mang những nét đặc thù với những đặc điểm kỹ thuật riêng
được thể hiện rõ qua đặc trưng về sản phẩm xây lắp và quá trình tạo sản
phẩm.
Thứ nhất, sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc có quy
mô lớn, kết cấu phức tạp và mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất dài,
trình độ kỹ thuật thẩm mĩ cao. Do vậy việc tổ chức quản lý phải nhất
thiết có dự toán, thiết kế và thi công. Trong suốt quá trình xây lắp, giá
dự toán sẽ trở thành thước đo hợp lý hạch toán các khoản chi phí và
thanh quyết toán các công trình.
Thứ hai, mỗi công trình xây dựng gắn với vị trí nhất định, nó
thường cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất khác như: Lao
động, vật tư, thiết bị máy móc luôn phải di chuyển theo mặt bằng và vị
trí thi công mà mặt bằng và vị trí thi công thường nằm rải rác khắp nơi
6
và cách xa trụ sở đơn vị. Do đó, luôn tồn tại một khoảng cách lớn giữa
nơi trực tiếp phát sinh chi phí và nơi hạch toán chi phí đã gây không ít
khó khăn cho công tác kế toán các đơn vị. Mặt khác hoạt động xây lắp
lại tiến hành ngoài trời, thường chịu ảnh hưởng của các nhân tố khách
quan như: thời tiết, khí hậu nên dễ dẫn đến tình trạng hao hụt, lãng phí
vật tư, tiền vốn làm tăng chi phí sản xuất.
Thứ ba, khi bắt đầu thực hiện hợp đồng, giá trị công trình đã được
xác định thông qua giá trúng thầu hoặc giá chỉ định thầu. Điều đó có
nghĩa là sản phẩm xây lắp thường được tiêu thụ theo giá trị dự toán hoặc
giá thoả thuận với chủ đầu tư từ trước. Do đó, có thể nói tính chất hàng
hoá của sản phẩm xây lắp không được thể hiện rõ.
Thứ tư, xét về quá trình tạo ra sản phẩm xây lắp, từ khi khởi công
đến khi thi công hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng, thời gian thường
duyệt, thiết kế hợp lý, tiên tiến, thẩm mĩ, công nghệ hiện đại, xây dựng
đúng tiến độ đạt chất lượng cao với chi phí hợp lý và thực hiện bảo
hành công trình"
(Trích điều lệ Quản lý và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định
số 177/CP ngày 20/10/1994 của Chính phủ {03}).
Ở nước ta trong nhiều năm qua, do việc quản lý vốn đầu tư trong
lĩnh vực XDCB chưa thật chặt chẽ đã để xảy ra tình trạng thất thoát vốn
đầu tư và kéo theo đó là hàng loạt các hậu quả nghiêm trọng khác Từ
thực trạng đó, Nhà nước đã thực hiện quản lý xây dựng thông qua việc
ban hành các chế độ, chính sách về giá, các nguyên tắc các phương pháp
lập dự toán, các căn cứ định mức kinh tế- kỹ thuật Từ đó xác định tổng
mức VĐT, tổng dự toán công trình nhằm hạn chế sự thất thoát vốn đầu
tư của Nhà nước, nâng cao hiệu quả cho quá trình đầu tư.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, mục tiêu hàng đầu của các
Doanh nghiệp (DN) nói chung phải tăng cường quản lý kinh tế mà trước
hết là quản lý chi phí sản xuất và tính giá sản phẩm.
8
1.1.2.2. Nhiệm vụ của công tác quản lý hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Để đáp ứng được yêu cầu trên, kế toán ngành phải thực hiện các
nhiệm vụ sau:
- Tham gia vào việc lập dự toán chi phí sản xuất xây lắp trên
nguyên tắc phân loại chi phí.
- Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng
tính giá thành sản phẩm xây lắp.
- Tổ chức kế toán chi phí xây lắp theo đúng đối tượng và phương
pháp đã xác định trên sổ kế toán.
- Xác định đúng chi phí xây lắp dở dang làm căn cứ tính giá thành.
- Thực hiện tính giá thành sản phẩm kịp thời, chính xác.
- Phân tích tình hình thực hiện định mức chi phí và giá thành sản
giống nhau được xếp vào một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát
sinh trong lĩnh vực nào, ở đâu, mục đích và tác dụng của chi phí đó như
thế nào.
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia thành các yếu
tố sau đây.
- Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ các chi phí về các loại
nguyên vật liệu chính, vật liệu phục, phụ tùng thay thế, thiết bị
XDCB mà doanh nghiệp đã sử dụng cho hoạt động sản xuất trong kỳ
như: Xi măng, sắt, thép, cát, đá, các loại dầu mỡ vận hành máy móc…
- Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ số tiền lương phải trả và các
khoản trích theo lương của các công nhân sản xuất trong kỳ.
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm toàn bộ số tiền doanh nghiệp
trích khấu hao cho tất cả các loại TSCĐ tham gia hoạt động xây lắp
như : các loại máy thi công (máy vận thăng, máy cẩu…), nhà xưởng,
phương tiện vận chuyển…
10
- Chi phí dịch mua ngoài: Là toàn bộ số tiền DN đã chi trả về các
loại dịch mua ngoài: tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại…phục vụ cho
hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
- Chi phí bằng tiền khác: Là toàn bộ các chi phí dùng cho hoạt
động sản xuất ngoài chi phí kể trên.
Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí giúp
nhà quản lý biết được kết cấu tỷ trọng từng loại chi phí trong tổng chi
phí qua đó đánh giá được tình hình thực hiện dự toán chi phí. Hơn nữa,
cách phân loại này còn là cơ sở để lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu
tố trên Bảng thuyết minh báo cáo tài chính, xây dựng định mức Vốn lưu
động, lập kế hoạch mua sắm vật tư, tổ chức lao động tiền lương, thuê
máy thi công…
1.2.1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí.
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích và công dụng của
dụng phổ biến trong các DNXDCB.
Trên đây là các cách phân loại chi phí sản xuất thường dùng trong
doanh nghiệp XDCB, ngoài ra chi phí sản xuất còn được phân loại
thành: Định phí và biến phí, chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
1.2.2. Giá thành và phân loại giá thành sap xây lắp.
1.2.2.1. Giá thành sản phẩm xây lắp.
Trong sản xuất, chi phí sản xuất chỉ là một mặt thể hiện sự hao
phí, để đánh giá chất lượng SX-KD của một doanh nghiệp, chi phí sản
xuất phải được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với kết quả sản xuất
quan hệ so sánh đó hình thành nên khái niệm giá thành sản phẩm.
Gía thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ các chi phí về lao động và
lao động vật hoá được biểu hiện bằng tiền để hoàn thành một khối lượng
sản phẩm xây lắp trong kỳ.
12
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế chất lượng tổng hợp
quan trọng bao quát mọi kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
1.2.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp.
Trong XDCB, giá thành sản phẩm thường được phân loại theo các
tiêu thức sau đây.
1.2.2.2.1. Căn cứ vào thời điểm và cơ sở số liệu để tính giá thành, giá
thành sản phẩm được phân loại thành:
- Giá thành dự toán: Là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối
lượng xây lắp CT, HMCT được xác định trên cơ sở các định mức kinh
tế- kỹ thuật và đơn giá của Nhà nước ban hành.
Giá thành dự toán
của CT, HMCT
=
Giá trị dự toán
của CT, HMCT
trong kỳ
-
CP khối
lượng xây lắp
dở dang cuối
kỳ
Cũng cần phải nói thêm rằng, muốn đánh giá được chất lượng của
công tác xây lắp, ta phải tiến hành so sánh các loại giá thành với nhau.
13
Nói chung, để đảm bảo có lãi, về nguyên tắc khi xây dựng kế hoạch giá
thành và tổ chức thực hiện kế hoạch giá thành phải đảm bảo mối quan hệ
sau.
Giá thành thực tế <Giá thành kế hoạch < Giá thành dự toán.
1.2.2.2.2. Căn cứ vào phạm vi tính giá thành, giá thành sản phẩm được
phân loại thành:
- Giá thành sản phẩm hoàn chỉnh: Là giá thành của CT, HMCT đã
hoàn thành đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, chất lượng theo thiết kế, hợp đồng
được chủ đầu tư chấp nhận thanh toán.
- Giá thành công tác xây lắp hoàn thành quy ước: Là giá thành của
khối lượng hoàn thành đến một giai đoạn nhất định và phải đảm bảo điều
kiện.
+ Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lượng quy định.
+ Khối lượng phải được xác định một cách cụ thể, được Chủ đầu
tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán
+ Phải đạt được đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý.
1.2.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Để tiến hành hoạt động sản xuất, doanh nghiệp phải bỏ ra những
chi phí nhất định như: Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi
phí máy móc thi công Kết quả là Doanh nghiệp thu được những sản
phẩm là các CT, HMCT…Các CT, HMCT cần phải tính giá thành tức là
nội bộ Doanh nghiệp.
+ Khả năng trình độ quản lý nói chung và hạch toán nói riêng của
Doanh nghiệp.
…………
1.3.1.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất.
Đối với XDCB, do phát sinh nhiều chi phí mà quá trình sản xuất
lại phức tạp và sản phẩm mang tính đơn chiếc có quy mô lớn và thời
15
gian sử dụng lâu dài. Mỗi CT lại bao gồm nhiều HMCT, nhiều công việc
khác nhau nên có thể áp dụng phương pháp tập hợp chi phí sau:
1.3.1.2.1. Phương pháp tập hợp theo công trình, hạng mục công trình.
Theo phương pháp này, hàng kỳ (quý, tháng), các chi phí phát sinh
có liên quan đến CT, HMCT nào thì tập hợp cho CT, HMCT đó. Giá
thành thực tế của đối tượng đó chính là tổng chi phí được tập hợp kể từ
khi bắt đầu thi công đến khi CT, HMCT hoàn thành. Phương pháp này
được sử dụng khi đối tượng tập hợp chi phí là toàn bộ CT, HMCT.
1.3.1.2.2. Phương pháp tập hợp chi phí theo đơn đặt hàng.
Theo phương pháp này, hàng kỳ chi phí phát sinh được phân loại
và tập hợp theo từng đơn đặt hàng (ĐĐH) riêng. Khi ĐĐH được hoàn
thành thì tổng chi phí phát sinh được tập hợp chính là giá hành thực tế.
Phương pháp này được sử dụng khi đối tượng tập hợp chi phí là các
ĐĐH riêng.
1.3.1.2.3. Phương pháp tập hợp chi phí theo đơn vị thi công.
Theo phương pháp này, các chi phí phát sinh được tập hợp theo
từng đơn vị thi công công trình. Trong từng đơn vị thi công đó, chi phí
lại được tập hợp theo từng đối tượng chịu chi phí như: CT, HMCT. Cuối
tháng tập hợp chi phí ở từng đơn vị thi công để so sánh với dự toán. Trên
thực tế có nhiều yếu tố chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng,
khi đó chi phí cần được phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí một
cách chính xác và hợp lí, có thể sử dụng các phương pháp tập hợp sau:
trong đó bỏ TK611- “Mua hàng”; TK631 “Giá thàn sản xuất”. Vì thế cơ
bản chỉ tồn tại và được áp dụng phương pháp KKTX.
1.3.1.3.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
*TK sử dụng:
Để phản ánh chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (CP NVLTT), kế
toán sử dụng TK621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”. TK này được
sản xuất để tập hợp các chi phí nguyên liệu, vật liệu sản xuất trực tiếp
cho hoạt động xây lắp các CT, HMCT hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ của
Doanh nghiệp xây lắp phát sinh trong kỳ, TK này được mở chi tiết cho
từng đối tượng tập hợp chi phí và cuối kỳ kết chuyển sang TK 154 “Chi
phí sản xuất kinh doanh dở dang’
1.3.1.3.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
17
- Tài khoản sử dụng:
Để hạch toán chi phí nhân công trực tiếp (CP NCTT), kế toán sử
dụng TK 622 “Chi phí nhân công trực tiếp”. TK này được dùng để phản
ánh các khoản tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp các
CT; công nhân phục vụ xây dựng và lắp đặt gồm cả tiền lương của công
nhân vận chuyển, bốc dỡ vật liệu trong phạm vi mặt bằng xây dựng,
công nhân chuẩn bị thi công và thu dọn công trường…
Sơ đồ 1: sơ đồ hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Sơ đồ 2: Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
18
TK152 TK621 TK154
TK111,11233
1,141
TK133
Xuất kho nguyên vật liệu dùng cho SX
NVL mua sử
dụng ngay
TK623
TK 154
T. lương CN điều khiển
MCT
TK 152, 153, 111, 333
Chi phí NVL
TK 133
K/c hoặc phân bổ CP
sử dụng MCT
Thuế GTGT
khấu trừ
TK 214
Chi phí KH xe, máy thi công
TK 331, 111, 142
Chi phí dịch vụ mua ngo ià
1.3.1.3.4. Kế toán chi phí sản xuất chung.
* Tài khoản sử dụng:
Để tập hợp chi phí sản xuất chung (CPSXC), kế toán sử dụng TK
627- “Chi phí sản xuất chung”. Tài khoản này dùng để phản ánh CPSX
của đội, công trường xây dựng gồm: Lương nhân viên quản lý đội xây
dựng, các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất và của
nhân viên quản lý đội như : BHXH, BHYT, KPCĐ, khấu hao TSCĐ, các chi
phí khác dùng cho hoạt động của tổ, đội.
Quy trình hạch toán được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 4: Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung
21
TK 133
Thuế GTGT
TK 111, 112, 331
TK 334
TK 621
TK 154
Cuối kỳ kết chuyển
Cuối kỳ kết chuyển
Các khoản giảm giá th nhà
TK 152, 138
1.3.2. Đánh giá sản phẩm dở dang trong Doanh nghiệp xây lắp.
Sản phẩm dở dang trong Doanh nghiệp xây lắp có thể là CT, HMCT chưa
hoàn thành hay khối lượng xây lắp chưa được bên chủ đầu tư nghiệm thu hoặc
chấp nhận thanh toán.
Đánh giá sản phẩm dở dang (SPDD) cuối kỳ là tính toán, xác định phần
CPSX mà SPDD cuối kỳ phải gánh chịu. Việc đánh giá chính xác SPDD cuối kỳ
là điều kiện quan trọng để tính chính xác giá thành sản phẩm.
Hiện nay, trong các doanh nghiệp sản xuất, SPDD cuối kỳ có thể được
đánh giá theo một trong các các sau đây.
+ Đánh giá SPDD cuối kỳ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
+ Đánh giá SPDD cuối kỳ theo khối lượng hoàn thành tương đương.
+ Đánh giá SPDD cuối kỳ theo chi phí định mức.
Thông thường SPDD cuối kỳ trong Doanh nghiệp xây lắp được xác định
bằng phương pháp kiểm kê khối lượng cuối kỳ. Việc tính giá thành giá trị sản
23
TK 622
TK 623
TK627
Cuối kỳ k/c hoặc phân bổ
Cuối kỳ k/c hoặc phân bổ
Giá th nh C.trình XL ho n à à
th nh b n giaoà à
TK 623
phẩm làm dở trong XDCB phụ thuộc vào phương thức thanh toán khối lượng
1.3.3.1. Đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Để đo lường hiệu quả hoạt động của mình, các doanh nghiệp phải
xác định đúng, đủ, chính xác giá thành sản phẩm và công việc đầu tiên là
xác định được đúng đối tượng tính giá thành.
Đối tượng tính giá thành là các sản phẩm (lao vụ, dịch vụ) do Doanh
nghiệp sản xuất ra cân phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị.
Với đặc điểm riêng có của mình, đối tượng tính giá thành sản phẩm trong
XDCB trùng với đối tượng tập hợp CPSX. Do vậy đối tượng tính giá thành sản
phẩm xây lắp là từng CT, HMCT…
1.3.3.2. Kỳ tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Kỳ tính giá thành sản phẩm là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải
tiến hành công việc tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành. Việc xác
định kỳ tính giá thành hợp lý sẽ giúp cho việc tổ chức công tác giá thành sản
phẩm khoa học, đảm bảo cung cấp số liệu về giá thành của sản phẩm, lao vụ kịp
thời, phát huy đầy đủ chức năng giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch giá thành
của kế toán.
Căn cứ vào đặc điểm tổ chức và chu kỳ sản xuất sản phẩm, kỳ tính giá
thành trong Doanh nghiệp XDCB thường là:
+ Đối với những CT, HMCT được coi là hoàn thành khi kết thúc mọi
công việc trong thiết kế thì kỳ tính giá thành của CT, HMCT đó là khi hoàn
thành CT, HMCT.
+ Đối với những CT, HMCT lớn, thời gian thi công dài, kỳ tính giá thành
là khi hoàn thành bộ phận CT, HMCT có giá trị sử dụng được nghiệm thu hoặc
khi từng phần công việc xây lắp đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý theo thiết kế
kỹ thuật có ghi trong Hợp đồng thi công được bàn giao thanh toán…
1.3.3.3. Các phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Phương pháp tính giá thành là phương pháp sử dụng số liệu CPSX đã tập
hợp được của kế toán để tính tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm
25