Chủ đề : Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
SVTH: Nhóm 2 – Lớp QTKD 2 Trang 1
Danh Sách Sinh Viên Nhóm 2
(Lớp QTKD 2)
1. Trần Xuân Bách
2 .Lâm Thị Thúy Diệu
3. Hoàng Thị Hằng
4. Đoàn Thị Ngọc Hiệu
5. Phạm Thị Kim Hương
6. Nguyễn Minh Khôi
7. Đỗ Thị Thúy Loan
8. Trần Thị Mai
9. Cao Thị Hồng Ngọc
10. Đồng Thị Yến Nhung
11. Trịnh Thị Hoàng Oanh
12. Trịnh Thị Thúy Quỳnh
13. Nguyễn Thị Phương Thanh Xin cảm ơn.
Tháng 1 năm 2007
Nhóm 2 – Lớp quản trị kinh doanh 2
Chủ đề : Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
SVTH: Nhóm 2 – Lớp QTKD 2 Trang 3
Phần mở đầu
Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và
phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa
I. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa :
- Mục đích sản xuất của TBCN khơng phải là giá trị sử dụng mà chính là giá trị thặng
dư. Nhà tư bản dùng các phương pháp để tạo ra giá trị thặng dư một cách tối đa nhất. Mục
đích lưu thơng hàng hố cơ bản của TBCN là sự lớn lên của giá trị thặng dư, do đó sự vận
động của tư bản là khơng ngừng vì sự lớn lên của giá trị hàng hố là khơng giới hạn.
- Cơng thức sản xuất chung của tư bản là T-H-T
’
(T
’
SVTH: Nhóm 2 – Lớp QTKD 2 Trang 4 - CNXH lấy sự phát triển chung của toàn xã hội là trọng tâm. Chế độ chiếm hữu về
tư liệu sản xuấtvà chế độ bóc lột bò thủ tiêu. Sản xuất trong CNXH là nhằm thỏa mãn
nhu cầu của tất cả các giai cấp trong xã hội, đảm bảo cho đời sống vật chất và tinh
thần của mọi thành viên trong xã hội được đầy đủ. Từ đó, giúp cho họ phát triển và
vận dụng khả năng của bản thân để góp phần làm giàu cho bản thân và cho xã hội. Vì
thế trong XHCN sẽ không hề có sự bóc lột với bất kì một giai cấp nào. Sự giàu có của
một giai cấp luôn gắn liền vối sự giàu có của xã hội và của các tầng lớp khác. Sự sở
hữu độc quyền về t
ư liệu sản xuất sẽ dần được thay thế bằng sự công hữu về tư liệu sản
xuất. Tuy nhiên, trong xã hội XHCN vẫn còn tồn tại nền kinh tế cá thể, tư nhân. Nhưng
không vì thế mà mất đi bản chất vốn có của CNXH đó là s
ự cơng bằng. Nhà nước sẽ
can thiệp vào quá trình sản xuất của các thành phần kinh tế trong xã hội để các hình
thức kinh tế này vẫn phát triển mà lại bổ trợ cho nhau để cùng giúp cho xã hội ngày
càng đi lên theo đònh hướng XHCN. CNXH muốn tồn tại thì cần có một nền kinh tế
tăng trưởng và phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện tại. Cơ sở vật chất-kó
thuật của CNXH cần phải xây dựng trên những thành tựu mới nhất, tiên tiến nhất của
khoa học và công nghệ. Muốn được như thế thì lực lượng sản xuất phải không ngừng
học hỏi để nâng cao tay nghề và trình độ bảøn thân, để bắt kòp với khoa học tiên tiến
trên Thế Giới.
- Phương thức sản xuất XHCN luôn đi liền với
việc thực hiện mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, xã hội cơng bằng, dân chủ, văn minh”. Giải phóng mạnh mẽ và khơng
ngừng phát triển sức sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn nội lực và
ngoại lực, nâng cao đời sống nhân dân. Đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích
mọi người dân vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thốt nghèo và từng
bước khá giả hơn. Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần
phát triển đến một trình độ nhất đònh sẽ đạt đến kinh tế thò trường.
- Kinh tế thò trường là giai đoạn phát triển của kinh tế hàng hóa dựa trên sự phát
triển rất cao của lực lượng sản xuất. Trong những điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau,
sự phát triển của kinh tế hàng hóa tất nhiên chòu sự tác động của những quan hệ xã hội
nhất đònh hình thành nên các chế độ kinh tế – xã hội khác nhau. Vì vậy, không thể nói
kinh tế hàng hóa là sản phẩm của một chế độ kinh tế – xã hội nào mà phải hiểu rằng
nó là một sản phẩm của quá trình phát triển của lực lượng sản xuất xã hội loài ngoài,
nó xuất hiện và tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất xã hội và đến trình độ cao
hơn đó là kinh tế thò trường.
2. Các điều kiện hình thành kinh tế thò trường:
- Phân công lao động xã hội là cơ sở tất yếu của nền sản xuất hàng hóa vẫn tồn
tại và ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu ở nước ta hiện nay. Sự phát
triển của phân công lao động xã hội thể hiện ở chỗ các ngành nghề ở nước ta ngày
càng đa dạng phong phú, chuyên môn hóa sâu. Điều đó đã góp phần phá vỡ tính chất
tự cung tự cấp của nền kinh tế tự nhiên trước đây và góp phần thúc đẩy kinh tế hàng
hóa phát triển mạnh mẽ hơn.
- Vả lại, phân công lao động xã hội là cơ sở và là động lực để nâng cao năng suất
lao động xã hội, nghóa là làm cho nền kinh tế ngày càng có nhiều sản phẩm thặng dư
dùng để trao đổi mua bán. Do đó, làm cho trao đổi mua bán hàng hóa trên thò trường
càng phát triển hơn.
3. Sự cần thiết khách quan phát triển nền kinh tế thò trường ở Việt
Nam:
- Sự tồn tại và phát triển của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế
khác nhau tạo nên sự tách biệt kinh tế giữa các chủ thể kinh tế độc lập cũng là điều
kiện tất yếu cho sự tồn tại và phát triển kinh tế hàng hóa, kinh tế thò trường ở nước ta.
Thật vây, một khi còn tồn tại nhiều dạng sở hữu khác nhau về kinh tế của những ngành
chủ sở hữu khác nhau đó. Do đó, các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế khi cần sản
phẩm của nhau tất yếu phải thông qua con đường thỏa thuận, trao đổi, mua bán.
- Về phân phối: kinh tế thò trường đònh hướng xã hội chủ nghóa thực hiện phân
phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức
đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi
xã hội. Cơ chế phân phối này vừa tạo động lực đồng thời hạn chế những bất công trong
xã hội. Thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội ngay trong từng
bước phát triển.
- Tính đònh hướng xã hội chủ nghóa của nền kinh tế thò trường nước ta còn thể
hiện ở chỗ tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, giáo dục, xây dựng
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho chủ nghóa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân,
nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực
của đất nước. Chủ đề : Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
SVTH: Nhóm 2 – Lớp QTKD 2 Trang 7
II. Những nội dung quản lý kinh tế chủ yếu của nhà nước ta :
- Quyết đònh chiến lược phát triển kinh tế- xã hội. Toàn bộ sự phát triển của nền
kinh tế phụ thuộc trước hết vào đường lối và chiến lược phát triểàn kinh tế. Để xây
dựng chiến lược đúng, có căn cứ khoa học, cần phân tích đúng thực trạng kinh tế- xã
hội, xác đònh rõ mục tiêu phát triển, lựa chọn phương án tối ưu. Muốn vậy, cần thực
hiện dân chủ hóa, khoa học hóa, thể chế hóa quyết sách.
- Kế hoạch. Kế hoạch nói ở đây là kế hoạch thực hiện mục tiêu của quyết đònh
chiến lược, nó là sự triển khai và cụ thể hóa quyết đònh chiến lược. Kế hoạch xác đònh
mục tiêu dài hạn, trung hạn và ngắn hạn, nêu ra các biện pháp và các phương thức thực
hiện các mục tiêu đó.
- Tổ chức. Tổ chức là một nội dung của quản lý nhằm bảo đảm thực hiện kế hoạch
I. Thực trạng nền kinh thế thị trường ở Việt Nam :
ờng : 1. Thành tựu mà Việt Nam đạt được trong nền kinh tế thị trư
- N
ước việt nam ta đang trong thời kì
quá độ đi lên CNXH, nền kinh tế n
ước ta
đang vận hành theo c
ơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà n
ước. Mô hình kinh tế này đã
giúp chúng ta khai thác đ
ược tiềm năng trong
n
ước đi đôi với việc thu hút nhanh nguồn vốn
đầu t
ư từ nước ngoài, đồng thời cũng học hỏi
đ
ược nhiều kinh nghiệm và kĩ thuật từ nước
khác. Đặc biệt là trong năm 2006 vừa qua
nước ta đã chính thức trở thành thành
viên thứ 150 của WTO và tổ chức thành
công diễn đàn APEC 2006.
APEC Việt Nam 2006
- Về nông lâm ng
ư nghiệp
ư
+ Phát triển liên tục đã góp phần quan trọng vào mức độ tăng tr
ởng chung cùng
- Nông lâm ngư nghiệp :
+ Cần mở rộng diện tích cây trồng
+ Ngăn chặn các dịch bệnh cho vật nuôi
SVTH: Nhóm 2 – Lớp QTKD 2 Trang 8
Chủ đề : Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
+ Tăng cường trồng rừng
- Công ngiệp :
+ Thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp
+ Đổi mới, nâng cao và phát triển doanh nghiệp nhà nước
+ Thu hút mạng nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài để tạo được thuận lợi kinh
doanh cho các doanh nghiệp .
- Dịch vụ :
ư đồng bộ và phát triển đa dạng các hoạt động du lịch .
+ Đầu t
ư nước ngoài vào trong lĩnh vực này .
+ Tạo điều kiện tốt để thu hút vốn đầu t
ước còn thực hiện mở rộng chính sách đối ngoại nhằm đa phươ
+ Nhà n
ng hóa,
đa dạng hóa quan hệ vì hòa bình, độc lập và phát triển, tạo dựng và củng cố khuôn khổ
pháp lý cho phù hợp và quan hệ hữu nghị tốt cũng là hợp tác lâu dài với các n
ước, nhất là
các đối tác quan trọng và truyền thống .
ư
+ Điều cần thiết mà nhà n
ớc phải làm là bảo vệ tài nguyên rừng, tài nguyên
h
ơn 200 triệu USD vào xây dựng hạ
tầng kĩ thuật ( KCN Nh
ơn Trạch 3
đã dầu t
ư hơn 44 triệu USD xây
dựng hạ tầng ; 8 KCN có hệ thống
xử lý n
ước thải tập trung; và một số Nhà máy thép ở Biên Hòa
KCN đã cho thuê hết diện tích đất nhu KCN Biên Hòa 1, KCN Biên Hòa 2, KCN Tam
Ph
ước, … )
+ Đồng nai đang tiếp tục hoàn chỉnh hạ tầng các KCN tập trung và nâng cao chất
l
ượng dịch vụ phục vụ các KCN .
- Nông nghiệp :
SVTH: Nhóm 2 – Lớp QTKD 2 Trang 9
Chủ đề : Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
SVTH: Nhóm 2 – Lớp QTKD 2 Trang 10 + Sản xuất nông nghiệp và nông thôn còn tồn tại, thị trường tiêu thụ sản phẩm nông
nghiệp còn khó khăn, giá cả lại không ổn định .
+ Ch
ương trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế. Đầu tư hạ tầng
Chủ đề : Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
PHẦN 3
Lợi ích từ việc phát triển kinh tế thị trường
ở nước ta
I. Lợi ích đối với nước ta:
- Phát triển kinh tế thò trường đối với nước ta là một tất yếu kinh tế, một nhiệm vụ
kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu thành nền kinh tế hiện đại, phát triển,
hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế. Đó là con đường đúng đắn để phát triển
lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng của đất nước để thực hiện
nhiệm vụ công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Kinh tế hàng hóa, kinh tế thò trường không
đối lập với các nhiệm vụ kinh tế – xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghóa xã hội mà
trái lại thúc đẩy các nhiệm vụ đó phát triển hơn.
Nhờ có phát triển kinh tế thị trường
theo định hướng đúng đắn mà dân ta ngày càng giàu, nước ta ngày càng mạnh, xã hội ta
ngày càng dân chủ, văn minh, đặc biệt là ở hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ
Chí Minh đã có rất nhiều chuyển biến trong những năm qua : Hà Nội ngày xưa Hà Nội ngày nay
Sự thay đổi nhanh chóng của thủ đơ Hà Nội
về giao thơng, đường phố, xe cộ và cơ sở hạ tầng…
SVTH: Nhóm 2 – Lớp QTKD 2 Trang 11
Nai với tổng vốn gần
1,5 tỷ USD. Tôi tin
tưởng sẽ có nhiều nhà
đầu tư Hàn Quốc đến
làm ăn tại Đồng Nai
trong thời gia tới".
Ngoài những đối tác
đối tác truyền thống
đến từ Hàn Quốc,
Hồng Kông, Singapore, Đài Loan… Đồng Nai đã và đang đón nhận các nhà đầu
tư từ các nước công nghiệp phát triển như Hoa kỳ, Anh, Ý. Điều này cho thấy
việc thu hút đầu tư nước ngoài ở tỉnh đồng nai sẽ còn khả quan hơn nữa khi
nước ta đã chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO. Việc còn lại
bây giờ chỉ là lựa chọn và phân bổ thế nào cho hợp lý để có thể thu hút những
dự án có trình độ công nghệ cao, tiến tới hạn chế dần những ngành nghề, dự án
đầu tư thâm dụng lao động. SVTH: Nhóm 2 – Lớp QTKD 2 Trang 12
Chủ đề : Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
SVTH: Nhóm 2 – Lớp QTKD 2 Trang 13
III. Lợi ích đối với sinh viên :
Đặc biệt khi nước ta đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO thì việc học hỏi
giao lưu càng trở lên quan trọng. sinh viên sẽ được tiếp xúc với rất nhiều nền văn
hóa khác nhau, trong đó có rất nhiều điều mà bản thân chúng ta phải học hỏi để
giúp ích cho mình và đất nước.
Chủ đề : Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
SVTH: Nhóm 2 – Lớp QTKD 2 Trang 14
Giải Pháp Của Nhóm Một đất nước muốn phát triển thịnh vượng, mạnh mẽ thì thứ tất yếu cần
phải có đó là nguồn nhân lực năng động, dồi dào. Vì thế, theo chúng em việc
phát triển nguồn nhân lực là một điều hết sức quan trọng; chỉ có nguồn nhân
lực phát triển mới tạo ra lực lượng sản xuất phát triển; chỉ có nguồn nhân lực
phát triển mới đưa đất nước theo đúng con đường phát triển đúng đắn của
nó. Mà để làm được điều này thì chính phủ phải đẩy mạnh hơn nữa công tác
giáo dục, tích cực đổi mới phương pháp dạy và học để bồi dưỡng, rèn luyện
tạo ra những con người toàn đức toàn tài. Đây không chỉ là nhiệm của riêng
ngành giáo dục mà còn phải là nghĩa vụ của toàn đảng toàn dân; đặc biệt là