Nghiên cứu, thiết kế và triển khai hệ quản trị thư viện tích hợp mã nguồn mở KOHA tại phòng tư liệu viện địa lý - Pdf 10

Nghiên cứu, thiết kế và triển khai hệ quản trị
thư viện tích hợp mã nguồn mở KOHA tại
phòng tư liệu viện Địa lý Lê Bá Lâm Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn ThS. ngành: Khoa học thư viện; Mã số: 60 32 20
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Huy Chương
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Hệ thống lý luận về ILS nói chung và Koha nói riêng. Nghiên cứu cấu
trúc, tính năng, khả năng tùy biến của Koha. Thiết kế, cấu hình và xây dựng một số
biểu mẫu. Triển khai sử dụng thử nghiệm Koha cho Viện Địa lý, từ đó xem xét,
đánh giá khả năng áp dụng rộng rãi cho các thư viện tại Việt Nam.

Keywords. Thông tin thư viện; Hệ quản trị thư viện; Mã nguồn mở KOHA; Viện
Địa lý

Content
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 11/01/2007 Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của WTO, đây là
sự kiện đánh dấu việc đất nước ta tham gia sâu rộng và toàn diện vào hệ thống thương mại
toàn cầu.
Việc đi vào sân chơi lớn WTO đã mở ra cho ngành CNTT và truyền thông Việt Nam
nhiều triển vọng cũng như những thách thức lớn lao khi bước vào con đường hội nhập. Một
trong những khó khăn được nêu ra là việc thực thi luật sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực phần

Từ các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực ngành TT-TV trên đây, mỗi năm có hàng ngàn
sinh viên tốt nghiệp nhưng khi đi làm, tiếp xúc với ILS cho thấy họ vẫn còn rất bỡ ngỡ và gặp
nhiều khó khăn để sử dụng. Vấn đề này cơ bản xuất phát từ yếu tố khách quan, đó là giảng
viên không có điều kiện cài đặt một ILS thương mại vào máy tính của mình để giảng dạy,
hoặc nếu có thể truy cập OPAC hay đăng nhập vào các phân hệ của một ILS đang trực tuyến
nào đó thì lại vấp phải những vấn đề khác như đường truyền Internet (Hiện nay có thể giải
quyết được bằng USB 3G, Wifi), vấn đề bảo mật, an toàn dữ liệu,… Nhưng một điểm quan
trọng nhất là các đơn vị đã mua ILS thương mại đó không thể dễ dàng cho phép giảng viên và
sinh viên dùng nó làm công cụ để giảng dạy và học tập ở môi trường trực tuyến.
Trong quá trình sinh viên đi thực tập thì không phải cơ quan thư viện nào cũng có ILS
để cho sinh viên học tập, thực hành; những cơ quan đã trang bị ILS thì chưa chắc cho phép
sinh viên đăng nhập vào các phân hệ của ILS để xem xét, nghiên cứu và trải nghiệm thực
tiễn, dẫn tới khi ra trường thì cơ hội xin việc làm của họ cũng giảm đi một cách rõ rệt. (Ví dụ:
Tháng 4 và 5/2010, Đại học FPT tuyển cán bộ thư viện với yêu cầu đầu tiên nêu rất rõ ràng là
ứng viên phải sử dụng được ngay ILS).
Do đó ngoài một số nội dung được học như thiết kế cơ sở dữ liệu, nhập tin tài liệu, tạo
file đảo, viết format hiện hình, kết xuất thông tin thư mục, tra cứu tìm tin,…. ở các phiên bản
phần mềm ISIS, Foxbase, FoxPro hoặc Access (một ứng dụng trong MS Office) thì sinh viên
ngành TT-TV vẫn thiếu kỹ năng sử dụng các ứng dụng khác của một ILS hiện đại thường có
như Bổ sung trao đổi, Ấn phẩm định kỳ, Bạn đọc, Lưu thông, Thống kê báo cáo, Kiểm kê
kho,…
―Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay các thư viện ở Việt Nam là một lực lượng rất
hùng hậu. Hệ thống thư viện công cộng cả nước có 1 Thư viện Quốc gia Việt Nam, 64 thư
viện tỉnh, thành phố, 582 thư viện quận, huyện, thị xã; 6046 thư viện xã, phường, tủ sách khu
dân cư, thôn, làng với tổng số 8.000 cán bộ và hơn 22 triệu bản sách. Hệ thống thư viện
chuyên ngành, đa ngành gồm: 57 thư viện của viện, trung tâm nghiên cứu khoa học, hơn 230
thư viện trường đại học và cao đẳng (công lập và dân lập), 17.000 thư viện, tủ sách trường
học, 218 trung tâm thông tin – thư viện của các Bộ, ban, ngành, các cơ quan Nhà nước và
2.700 thư viện của các đơn vị vũ trang. Ngoài ra còn có hàng ngàn thư viện của các tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự

Khoa học Tự nhiên Tp. HCM, Trung tâm TT-TV Đại học Đà Lạt thường xuyên tổ chức các
cuộc hội thảo, các lớp hướng dẫn cài đặt, sử dụng Greenstone và Dspace. Ở khu vực phía
Bắc, từ tháng 10 năm 2009 Thư viện Tạ Quang Bửu, Đại học Bách khoa Hà Nội cũng công
bố chính thức ứng dụng Dspace vào lưu trữ, quản lý và khai thác nội bộ các kho tài nguyên
số của nhà trường.
Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài
Nghiên cứu, tìm hiểu các tính năng và khả năng sửa đổi, mở rộng của Hệ quản trị thư
viện tích hợp mã nguồn mở Koha. Sử dụng thử nghiệm tại thư viện Viện Địa Lý, từ đó xem
xét, đánh giá khả năng áp dụng rộng rãi cho các thư viện Việt Nam.
Nhiệm vụ của đề tài
- Hệ thống lý luận về ILS nói chung và Koha nói riêng;
- Nghiên cứu cấu trúc, tính năng, khả năng tùy biến của Koha;
- Thiết kế, cấu hình và xây dựng một số biểu mẫu;
- Triển khai thử nghiệm Koha cho Viện Địa lý;
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hệ quản trị thư viện tích hợp mã nguồn mở Koha
Phạm vi nghiên cứu:
- Koha phiên bản 3.2.0 phát hành tháng 10 năm 2010 trên nền tảng hệ điều hành
Ubuntu 10.10, hệ quản trị cơ sở dữ liệu MySql, Web server Apache và Ngôn ngữ lập trình
Perl;
- Phòng Tư liệu Viện Địa lý.
Phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, trên cơ sở mối
liên hệ, sự tác động qua lại giữa các bộ phận trong thư viện, các quy trình nghiệp vụ thư viện,
đường đi của tài liệu dẫn tới sự tương tác lẫn nhau và đa chiều trong các phân hệ của phần
mềm.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể đó là:
+ Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu;
+ Phương pháp so sánh đối chiếu, tạo tình huống;

Để xây dựng ILS, các nhà lập trình sử dụng một ngôn ngữ lập trình, hệ quản trị
CSDL, hệ điều hành và webserver. Các công cụ và phần mềm trên có thể sử dụng loại mã
nguồn đóng (thương mại) hoặc mã nguồn mở (miễn phí).
Một ILS được coi là chuẩn quốc tế khi CSDL tuân theo chuẩn MARC21 hoặc
UNIMARC; Biên mục theo quy tắc ISBD, AACR2, RDA; Xuất nhập bản ghi theo định dạng
ISO2709; Có giao thức trao đổi dữ liệu qua z39.50; Chuẩn SIP/NCIP cho RFID và các ký tự
theo Unicode hỗ trợ đa ngữ.
1.1.2. Các tiêu chí đánh giá ILS
Theo tác giả Tạ Bá Hưng và cộng sự: Việc đánh giá và lựa chọn một ILS cần phải dựa
trên hệ thống các tiêu chí khách quan mà cụ thể, bao gồm 3 nhóm tiêu chí chủ yếu: về CNTT
và truyền thông, về các chuẩn nghiệp vụ TT-TV và đối với các phân hệ (module) chức năng.
Lưu ý việc sử dụng các tiêu chí trên trong điều kiện ở Việt Nam.
1.1.2.1 Nhóm tiêu chí về CNTT và truyền thông
Nguyên tắc thiết kế mở: ILS phải được thiết kế, xây dựng và vận hành theo các chuẩn
công nghệ mở để đảm bảo khả năng nâng cấp, thay đổi, bổ sung, kết nối thêm các module
mới mà không kéo theo sự đổ vỡ hệ thống cũng như phải đảm bảo được sự kế thừa các thành
quả đã đạt được.
- Xây dựng theo mô hình khách/chủ (client/server).
- Làm việc trên mạng TCP/IP: ILS phải hỗ trợ các giao thức TCP/IP để đảm bảo khả
năng kết nối mạng toàn cầu và triển khai các dịch vụ liên quan tới chia sẻ và khai thác các
nguồn tin điện tử trên thế giới.
- Ngôn ngữ giao diện: Ngôn ngữ sử dụng trên giao diện các phân hệ của chương trình
là tiếng Anh và Việt.
- Hỗ trợ mã vạch: Cho phép in mã vạch trực tiếp theo số liệu trong CSDL theo các
khuôn dạng mã vạch khác nhau. Sử dụng mã vạch trong các nghiệp vụ liên quan (bổ sung,
lưu thông).
- Khả năng tùy biến cao trong việc tạo khuôn dạng báo cáo dữ liệu: Cán bộ thư viện
có thể tự định dạng cho các loại báo cáo dữ liệu khác nhau: các sản phẩm thư mục, thư từ,
hợp đồng, nhãn, phích phiếu, thẻ đọc mà không cần sự can thiệp của đơn vị cung cấp phần
mềm.

hiển thị các giá trị có thể có của indicator.
+ Hợp lệ dữ liệu theo MARC 21 và MARC 21VN: Tự động kiểm tra tính hợp quy của
nội dung một bản ghi theo các quy tắc của MARC 21, MARC 21VN.
+ Nhập trực tuyến theo lô qua Z39.50: Cho phép người dùng mở một lệnh tìm kiếm
theo Z39.50 đến một thư viện khác và nhập thẳng kết quả vào CSDL cục bộ.
+ Xuất dữ liệu trực tuyến: Người dùng cũng có thể xuất dữ liệu (khuôn dạng ISO
2709 hoặc tagged) trong quá trình biên mục.
+ Nhập dữ liệu từ các tệp text có tag: các dữ liệu kết xuất text từ cơ sở dữ liệu trên
CD-ROM/DVD-ROM như DIALOG, Silver Platter.
- Phân hệ lƣu thông nội bộ và liên thƣ viện
+ Ghi mượn, ghi trả
+ Đăng ký mượn trực tuyến và giữ chỗ
+ Tính toán quá hạn, ra thông báo đòi sách, gửi email
+ Tính toán phạt tài chính hoặc cấm mượn
+ Gia hạn
+ Khóa thẻ
+ Thống kê tần suất lưu thông,…
- Phân hệ Bạn đọc
+ Quản lý bạn đọc
+ Xử lý bạn đọc theo lô
+ Thống kê theo độ tuổi, đơn vị
+ In thẻ bạn đọc và mã vạch
+ Thiết lập chính sách cho từng đối tượng bạn đọc,…
- Phân hệ Ấn phẩm tiếp tục
+ Quản lý danh mục nhà cung cấp
+ Nhận ấn phẩm theo định kỳ
+ Khiếu nại.
- Phân hệ tra cứu (OPAC)
+ Giao diện Web và thân thiện với người dùng
+ Có nhiều cấp độ tìm kiếm khác nhau

được phát triển lên từ CDS/ISIS) và PMB tiếng Việt (PhpMyBibli) của dự án ―Phát huy di
sản thư tịch ở Đông Nam Á‖.
1.2. ILS mã nguồn mở Koha
1.2.1. Tổng quan Koha
Koha là ILS mã nguồn mở được giới thiệu là đầu tiên trên thế giới, phát triển ban đầu
tại New Zealand bởi Katipo Communications Ltd và được triển khai vào tháng Giêng năm
2000 cho thư viện Horowhenua Trust. Koha hiện nay được phát triển bởi cộng đồng những
người làm công nghệ thông tin và thư viện trên toàn thế giới, vì vậy các tính năng của Koha
liên tục hoàn thiện và phát triển mở rộng để đáp ứng nhu cầu của người dùng. Koha có đầy
đủ tính năng của một ILS hiện đại, phù hợp với mọi loại hình thư viện như thư viện trường
học, thư viện công cộng, thư viện các viện nghiên cứu, và được quản trị bởi hệ quản trị cơ
sở dữ liệu MySQL nên về mặt lưu trữ và xử lý dữ liệu không thua kém bất kỳ một hệ quản trị
cơ sở dữ liệu nào khác như MSSQL, Oracle hay Postgres.
1.2.2. Kiến trúc hệ thống của Koha
- Koha dựa trên kiến trúc chủ khách (server-client), máy chủ chạy trên nền tảng của
nhiều hệ điều hành khác nhau như Linux, Windows, Unix, Mac, máy trạm chỉ đòi hỏi một
trình duyệt web thông thường như IE, Firefox, Google Chrome,
- Koha có thể chạy trên bất kỳ giao thức mạng thông tin nào.
- Koha sử dụng băng thông thấp để truyền tải thông tin.
1.2.3. Yêu cầu kỹ thuật của Koha
Để Koha có thể vận hành cần Bộ Koha nguồn và các phần hỗ trợ:
o Koha nguồn:
o Apache web server:
o Hệ quản trị CSDL MySQL:
o Ngôn ngữ lập trình Perl modules 5.8:
o Hệ điều hành Linux, Windows, Unix, Mac
1.2.4. Yêu cầu kỹ năng vận hành hệ thống của Koha
o Vì giao diện OPAC của Koha được thiết kế thân thiện nên người sử dụng và
nhân viên thư viện chỉ cần có những kỹ năng sử dụng máy tính thông thường
là có thể sử dụng hệ thống hiệu quả.

Ở Việt Nam những năm gần đây, từ ISISMARC cho đến các hệ quản trị thư viện tích
hợp thương mại đang chiếm thị phần lớn như Libol, Ilib, Verbrary, Virtua,… đều sử dụng
khổ mẫu MARC21 cho tất cả các khách hàng. Chính vì vậy khi áp dụng Koha tại Việt Nam
và lựa chọn sử dụng khổ mẫu mặc định MARC21 để tương thích trao đổi dữ liệu với các hệ
quản trị thư viện hiện có là lựa chọn phù hợp.
2.1.1. Lựa chọn các trường MARC21
Thực tế biên mục rất đa dạng và phong phú, đồng thời yêu cầu của các cơ quan thông
tin và thư viện cũng khác nhau do mỗi cơ quan ngoài những loại hình tài liệu chung như sách,
chuyên khảo, tuyển tập; ấn phẩm định kỳ còn có các loại hình tài liệu đặc thù khác như khóa
luận, luận văn, luận án; đề tài cơ sở, đề tài cấp trường, cấp bộ, cấp nhà nước, các báo cáo hội
nghị hội thảo, kỷ yếu; tệp máy tính, đĩa CD/DVD; tranh, ảnh, bích chương; bản đồ; vi phim;
phim điện ảnh, băng ghi hình; văn bản hành chính; băng ghi âm; mô hình, tượng; thông tin
cộng đồng,… nên các trường MARC21 được lựa chọn cho các worksheet nhập tin cũng khác
nhau.
Tổng hợp các loại hình tài liệu và qua thực tế tại các cơ quan thông tin – thư viện Việt
Nam, thông thường sử dụng các worksheet nhập tin sau:
- Mẫu worksheet nhập tài liệu (sách)
- Mẫu worksheet nhập tài liệu nhiều kỳ
- Mẫu worksheet nhập âm nhạc, nhạc
- Mẫu worksheet nhập bản đồ, tập bản đồ, quả địa cầu
- Mẫu worksheet nhập ấn phẩm điện ảnh, băng từ
- Mẫu worksheet nhập file máy tính
- Mẫu worksheet nhập đề tài
- Mẫu worksheet nhập luận văn, luận án
- Mẫu worksheet nhập văn bản tổng hợp
Như vậy, với mỗi một loại hình tài liệu khác nhau, có thể tạo ra một mẫu nhập tin
tương ứng căn cứ vào thông tin đặc thù của loại hình tài liệu đó mà người tạo lập lựa chọn
các trường trong MARC21 cho phù hợp.
Qua thực tế triển khai thì số các trường trong MARC21 được sử dụng thường xuyên
chỉ chiếm phần nhỏ, nhiều trường dữ liệu rất ít khi được sử dụng. Do đó chỉ xây dựng những

1. Vùng nhan đề và thông tin trách nhiệm
2. Vùng lần xuất bản
3. Vùng đặc thù loại tài liệu (chủ yếu bản đồ)
4. Vùng xuất bản, sản xuất, phát hành
5. Vùng mô tả vật lý
6. Vùng tùng thư
7. Vùng phụ chú
8. Vùng số chuẩn quốc tế và điều kiện có được tư liệu
2.2.1. Ngôn ngữ tạo Format
Tương tự như tạo format hiện hình trong CDS/ISIS trước đây, tuy nhiên đối với hệ
quản trị thư viện tích hợp mã nguồn mở Koha các ký hiệu được sử dụng đơn giản hơn (ví dụ
không có những cặp câu lệnh như IF THEN) và phần tùy biến này chỉ dành riêng cho trình
bày thông tin theo ISBD. Ngoài những ký tự quy định, quy tắc thể hiện tiền tố, hậu tố thì
trong ngôn ngữ tạo format của Koha cho phép dùng thêm ngôn ngữ siêu văn bản HTML.
# - dấu thăng: mang tính chất giải thích hoặc để người tùy biến dễ nhận biết
|| - dấu sổ dọc: thể hiện bắt đầu và kết thúc một vùng thông tin
{} - dấu ngoặc nhọn: thể hiện thông tin trường hoặc trường con sẽ được ghi ra
\n - dấu sổ chéo kèm n: hiển thị giá trị trường lặp, sau mỗi giá trị sẽ xuống dòng
2,3,4,6,8 hoặc a,b,c,d,… các nhãn trường con
<br> - xuống dòng
<label> abcd </label> - Viết ra cụm ký tự abcd
2.2.2. Thể hiện Format
Căn cứ theo các nhãn trường và trường con được lựa chọn trong mẫu nhập tin, quy tắc
viết format hiện hình của Koha và sơ đồ mô tả trên đây tác giả đã thể hiện Format hiện hình
theo ISBD.
2.2.3. Kết quả đầu ra Format
Kết quả thông tin tìm tin chi tiết đối với từng bản ghi được Koha trình bày ra 3 hình
thức khác nhau. Hai kiểu trình bày ―Hiển thị đơn giản‖ và ―Hiển thị MARC‖ đòi hỏi phải can
thiệp sâu hơn vào các file đã được lập trình viết bằng ngôn ngữ Perl, có nghĩa rằng người
quản trị không những phải có hiểu biết, được đào tạo về công nghệ thông tin mà còn phải

Một công việc chuyên môn nghiệp vụ được tất cả các thư viện quan tâm và là khâu
cuối cùng trong xử lý nghiệp vụ trước khi đưa tài liệu lên giá đó là thiết kế và in két nhãn gáy
tài liệu.
Để tổ chức kho đóng, thông thường các thư viện sẽ xây dựng nhãn gáy thể hiện nội
dung chính trên nhãn là thông tin đăng ký cá biệt. Đối với kho mở, các thư viện sẽ lựa chọn
thông tin xếp giá là CallNumber. Tất cả các hệ quản trị thư viện tích hợp đều ít nhiều hỗ trợ
phần việc này, tuy nhiên để tiện ích trong kết xuất thông tin và in ra kết quả dễ dàng, không
phải qua nhiều công đoạn thì không phải ILS nào cũng có được.
Sau khi tham khảo một số mẫu và kích thước nhãn gáy tài liệu tại một số đơn vị lớn
như Thư viện Quốc gia Việt Nam, Trung tâm Thông tin – Thư viện, ĐHQGHN, giải pháp
―Tất cả trong một‖ (All in One) đã được lựa chọn thiết kế. Sử dụng giải pháp này cho phép
các thư viện dễ dàng tổ chức tài liệu theo hình thức kho đóng hay kho mở căn cứ vào điều
kiện cụ thể của thư viện hoặc ban đầu tổ chức kho mở, sau một thời gian chuyển sang kho
đóng thì tài liệu không cần phải xử lý lại kỹ thuật.
2.3.1. Hình thức nhãn gáy
Hình thức nhãn gáy hay hiểu đơn giản hơn là kích thước nhãn gáy là sự thiết lập
thông tin chính cho 2 khổ cỡ giấy: Độ cao rộng của một nhãn gáy và độ cao rộng của trang
giấy để số lượng nhãn thiết kế in ra trên trang đó. Thông thường lựa chọn là trang A4 và thiết
kế để in ra 25 nhãn gáy trên một trang.
2.3.2. Nội dung nhãn gáy
Nội dung nhãn gáy là những giá trị thông tin được trình bày trên nhãn. Các giá trị này
sẽ được lấy từ dữ liệu trong các bản ghi. Theo thiết kế thông tin trên nhãn được chia ra làm 3
vùng là: Vùng để tên thư viện, Vùng đặt chỉ số CallNumber và vùng thể hiện Đăng ký cá biệt
tài liệu.
Vùng Tên thư viện được trình bày cố định và ở trên cùng nhãn gáy
Vùng CallNumber ở vị trí trung tâm và xuống dòng khi gặp khoảng trống
Vùng Đăng ký cá biệt được trình bày dưới cùng nhãn gáy
2.3.2. Kết quả nhãn gáy
Với kết quả đầu ra nhãn gáy tài liệu, thư viện có thể tổ chức kho tài liệu theo xếp giá
kho mở hoặc kho đóng tùy theo yêu cầu cụ thể của đơn vị.

Viện có lịch sử ra đời và phát triển hơn 40 năm, qua các giai đoạn sau: [6]
1961 - 1966: Tổ Địa lý trong Ban Sinh vật - Địa học thuộc Uỷ Ban Khoa học và Kỹ thuật
nhà nước.
1967 - 1975: Phòng Địa lý trong Viện Khoa học Tự nhiên thuộc Ủy Ban Khoa học Kỹ thuật
Nhà nước.
1975 - 1981: Phòng Địa lý trở thành một đơn vị phòng trong Viện Các Khoa học về Trái đất
thuộc Viện Khoa học Việt Nam.
1981 - 1984: Phòng Địa lý tách khỏi Viện Các Khoa học về Trái đất để thành lập Phòng Địa
lý - Bản đồ trực thuộc Viện Khoa học Việt Nam.
1984 - 1993: Tháng 7 năm 1984 Viện Khoa học Việt Nam quyết định thành lập Trung tâm
Địa lý - Tài nguyên trên cơ sở sát nhập Phòng Địa lý - Bản đồ và Trung tâm Viễn thám thuộc
Viện Khoa học Việt Nam.
1993 đến nay: Viện Địa lý được thành lập trên cơ sở Trung tâm Địa lý – Tài nguyên theo
Quyết định số 24/CP/QĐ ngày 22 tháng 5 năm 1993 và theo Quyết định số 19/KHCNQG/QĐ
ngày 19 tháng 6 năm 1993 của Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia nay là
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
3.1.2. Chức năng và nhiệm vụ
Chức năng
Nghiên cứu cơ bản về khoa học địa lý và phát triển công nghệ theo các hướng trọng
điểm của Nhà nước nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý tài nguyên môi
trường và xây dựng chính sách chiến lược, quy hoạch vùng lãnh thổ phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội, phòng tránh giảm nhẹ thiên tai và đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ địa lý có
trình độ cao cho đất nước theo quy định của pháp luật.
Tổ chức công tác điều tra, nghiên cứu, đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội, hiện trạng và biến động của môi trường địa lý từng vùng lãnh thổ trên phạm vi cả
nước, phục vụ cho quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và trung ương cho
việc khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Tổ chức đào tạo các cán bộ chuyên ngành Địa lý, tài nguyên môi trường, bản đồ viễn
thám.
Nhiệm vụ

10600E DDR3 UB ECC, ổ cứng 250GB SATA NHP HDD, giao tiếp mạng Embedded
NC107i PCI Express Gigabit Ethernet Server Adapter, hỗ trợ hệ điều hành Microsoft®
Windows® Small Business Server 2003 R2 trở lên, chạy ứng dụng website của Viện tại địa
chỉ 08 swicth 3com 24 Port Switch - 81 results like the 3Com Gigabit
Ethernet Switch with 24 x RJ-45 10/100/1000Base-T LAN Ports, 3Com 4800G 24-port; 120
máy tính để bàn chủ yếu cấu hình Pentium 4, 20% máy tính mới thương hiệu Việt và 05
laptop hiệu HP, 100% chạy hệ điều hành windows XP, Vista, Windows 7 Ultimate.
3.1.5. Tài nguyên thông tin
3.1.5.1 Nguồn tài liệu điện tử
Viện Địa Lý trực thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam nên cán bộ thuộc
Viện có thể sử dụng nguồn tài nguyên thông tin của Trung tâm Thông tin tư liệu của Viện
lớn. Hàng năm Trung tâm được đầu tư nguồn kinh phí khá lớn bổ sung tài liệu điện tử mà chủ
yếu là các tạp chí điện tử thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên như: Nông nghiệp và Thực
phẩm, Sinh học và Khoa học về sự sống, Hóa học và Khoa học Vật liệu, Khoa học Máy tính,
Khoa học Trái đất, Kỹ thuật và Công nghệ, Khoa học Môi trường, Toán học, Vật lý và Thiên
văn,… Ngoài ra Trung tâm đã xây dựng được một CSDL nội sinh bằng phần mềm mã nguồn
mở quản trị tư liệu số Dspace có 2734 nhan đề với các bộ sưu tập Báo cáo tổng hợp các kết
quả nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ theo các hướng; Các bài báo của cán bộ
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam được đăng trong các tạp chí trong và ngoài nước;
Các chuyên đề Hóa học, Vật lý, Khoa học trái đất, Khoa học công nghệ, Phòng tránh giảm
nhẹ thiên tai … hiện đang trong quá trình thử nghiệm.
3.1.5.2 Nguồn tài liệu in
Nguồn tài liệu in của Phòng Tư liệu Viện Địa lý nhìn chung còn hạn chế về loại hình
tài liệu và số lượng. Tính đến tháng 11/2011 tổng số đầu tài liệu là 511 tên với tổng số bản là
1118 bản, trong đó tài liệu chiếm tỉ lệ cao là sách và đề tài cơ sở - đây là hai loại hình tài liệu
có nội dung chuyên sâu, tập trung vào lĩnh vực chuyên ngành khoa học trái đất và đặc biệt là
địa lý, địa mạo, bản đồ. Ngoài ra mấy năm gần đây Viện Địa lý có chức năng đào tạo tiến sỹ
nên có 15 đầu giáo trình và 18 tên luận án của các học viên được đào tạo và bảo vệ tại Viện.
3.1.6. Nhu cầu thông tin và quản lý thông tin trong Viện Địa lý
Với quy mô 17 phòng nghiên cứu, 2 trạm nghiên cứu trực thuộc, 119/131 cán bộ

mềm.
Ubuntu là hệ điều hành có nhân là Linux, do cộng đồng phát triển, sử dụng tuyệt vời
cho các máy tính xách tay, máy tính để bàn và máy chủ. Bất kỳ sử dụng nó ở đâu, Ubuntu
đều có tất cả các ứng dụng mà người sử dụng luôn cần, từ các ứng dụng soạn thảo văn bản tới
thư điện tử, từ phần mềm máy chủ web tới các công cụ lập trình.
Ubuntu là và sẽ luôn là miễn phí (free of charge). Người sử dụng không phải trả bất kỳ phí
bản quyền nào. Có thể tải nó về, sử dụng và chia sẻ Ubuntu với bạn bè, gia đình, nhà trường
hoặc doanh nghiệp.
Ubuntu phát hành phiên bản mới cứ 6 tháng một lần và hỗ trợ 18 tháng sau khi phát
hành phiên bản mới đó thông qua các nâng cấp về an ninh. Với phiên bản hỗ trợ lâu dài –
LTS, người sử dụng sẽ có hỗ trợ 3 năm với các máy tính để bàn và 5 năm đối với các máy
chủ. Không có bất kỳ phí bổ sung nào đối với phiên bản LTS. Các nâng cấp lên các phiên bản
mới của Ubuntu là và vẫn sẽ là miễn phí. Bằng cách này Ubuntu nhắm tới mục tiêu cung cấp
một hệ điều hành luôn được cập nhật và tương đối ổn định cho người sử dụng thông qua việc
sử dụng các phần mềm tự do.
3.2.2.2 Web Server Apache
Apache là tên của một nhóm phát triển phần mềm. Rob McCool phát triển Apache
trong khi đang làm việc tại trường đại học Illinois Mỹ vào năm 1994. Một vài webmaster
trên thế giới đã tạo ra phần mở rộng riêng cho máy chủ sao cho họ có thể điều khiển các thay
đổi của mình với hệ thống (được biết đến với cái tên ‗patches' có nghĩa là các 'miếng vá'). Hệ
thống này bao gồm một hệ thống nhân gốc với rất nhiều mảnh (patches) do đó nó được biết
đến với tên gọi là ‘a patchy server' hay gọi đơn giản là ‘apache'. Apache hiện nay có thể
download miễn phí trên internet ở địa chỉ
3.2.2.3 Ngôn ngữ lập trình Perl
Perl - ngôn ngữ kết xuất và báo cáo thực dụng được Larry Wall xây dựng từ năm
1987, với mục đích chính là tạo ra một ngôn ngữ lập trình có khả năng chắt lọc một lượng lớn
dữ liệu và cho phép xử lí dữ liệu nhằm thu được kết quả cần tìm. Perl là ngôn ngữ thông dụng
trong lĩnh vực quản trị hệ thống và xử lí các trang Web do có các ưu điểm sau: Có các thao
tác quản lí tập tin, xử lí thông tin thuận tiện; Thao tác với chuỗi kí tự rất tốt; Đã có một thư
viện mã lệnh lớn do cộng đồng người sử dụng Perl đóng góp.

thể cần mua thêm nếu có nhiều điểm lưu thông hoặc cần thêm máy phục vụ lưu thông.
Máy In mã vạch: Nếu ngân sách cho phép có thể mua 1 máy in mã vạch dùng cho cả
các công việc in mã vạch của Viện, nếu không, Thư viện có thể in mã vạch từ máy in Laser.
3.2.4. Đề xuất nghiệp vụ
3.2.4.1 Khổ mẫu biên mục MARC21
Koha cho phép lựa chọn một trong hai khổ mẫu sử dụng biên mục là MARC21 và
UNIMARC. Ở Việt Nam các thư viện hầu hết sử dụng MARC21, hơn nữa MARC21 đã trở
thành khổ mẫu nổi tiếng, được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới kết hợp với thực tiễn tại
Phòng tư liệu có 4 loại hình tài liệu in ấn là sách, giáo trình, luận án và đề tài cơ sở, nên đề tài
đề xuất sử dụng khổ mẫu MARC21 và các trường đề xuất để quản lý bản ghi, nhập liệu như
bảng 2.2.
3.2.4.2 Quy tắc biên mục AACR2
Thuận lợi cơ bản khi áp dụng AACR2 là các quy tắc mô tả ở Việt Nam đang áp dụng
đều sử dụng tiêu chuẩn ISBD cho phần mô tả tài liệu, điều này tương thích với phần mô tả
trong quy tắc AACR2. Từ năm 2000 trở lại đây, các thư viện Việt Nam đã được hiện đại hóa
và áp dụng các phần mềm quản trị thư viện tích hợp tiên tiến theo các chuẩn quốc tế. Đa số
các phân hệ biên mục của các phần mềm này đều sử dụng khổ mẫu MARC21, do vậy tiện lợi
cho biên mục sao chép qua mạng, tận dụng được các kết quả biên mục của các thư viện khác
có cùng tiêu chuẩn.
3.2.4.3 Phân loại theo khung DDC14
DDC được xây dựng dựa trên các nguyên tắc hợp lý, làm cho nó trở nên một công cụ
tri thức tổng hợp lý tưởng: các ký hiệu có ý nghĩa bằng các số Arập được toàn thế giới thừa
nhận, các môn loại được xác định rõ, hệ phân cấp được phát triển tốt và có một mạng lưới
phong phú các mối quan hệ giữa các đề tài. [12, tr.xxviii]
Với số lượng tài liệu không nhiều, chủ yếu là tài liệu chuyên ngành địa lý, khoa học trái đất
và nhân viên thư viện chỉ 01 người lại kiêm nhiệm nên sử dụng DDC14 do Thư viện Quốc
gia Việt Nam biên soạn ở cấp độ đơn giản được đánh giá là phù hợp cả về khoa học, tổ chức
kho và nhân lực. Phân loại tập trung vào các lớp sau 500 và 900
3.2.4.4 Công cụ làm từ khóa
Bộ từ khóa của Thư viện Quốc gia xuất bản năm 2005 với 43.000 từ khóa được lựa

Ví dụ: Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam: VIE
Đối với các tên tác giả tập thể đã quen dùng tên viết tắt, như tên các cơ quan tổ chức
của Liên hợp quốc, ví dụ như FAO, UNDP, thì được giữ nguyên khi định kí hiệu xếp giá.
Kí hiệu tên sách: áp dụng cho sách không ghi tên tác giả hoặc sách
có 4 tác giả trở lên.
Tên sách chữ Việt: Lấy 3 chữ cái đầu của từ đầu tiên trong tên sách và bỏ dấu.
Ví dụ : ― Địa lý Nam Trung Bộ và Tây nguyên‖: ĐIA
Nếu từ đầu tiên của tên sách là chữ số, thì khi định ký hiệu phải phiên chữ số đó ra
chữ cái và áp dụng cách làm như trên.
Ví dụ: ― 10 Danh lam thắng cảnh ‖ : ―10‖ = ― Mười‖: MUO
Tên sách chữ nước ngoài:
Tên sách chữ Latin, Xlavơ: áp dụng như sách chữ Việt. Đối với tên sách có quán từ,
mạo từ là từ đầu tiên thì không được lấy quán từ, mạo từ đó làm căn cứ để định kí hiệu mà
lấy từ tiếp theo trong tên sách.
Tên sách chữ tượng hình: Phiên âm tên sách sang chữ latin sau đó áp dụng như đối
với tên sách chữ Việt.
+ Năm xuất bản ghi ngay dưới kí hiệu tên tác giả/tên sách.
- Xây dựng CSDL bạn đọc
Để vận hành Koha ILS, ngoài việc xây dựng CSDL tài liệu còn phải xây dựng CSDL
bạn đọc. Xây dựng CSDL bạn đọc cho phép cán bộ thư viện đánh giá các nhóm, các phòng
ban, các đối tượng, các độ tuổi và mức độ sử dụng tài liệu của từng nhóm đối tượng và tạo ra
một sợi dây liên kết chặt chẽ giữa bạn đọc và thư viện cũng như xây dựng một hồ sơ lưu
thông tài liệu, tự động hóa việc ghi mượn, ghi trả thủ công.
Thông tin về bạn đọc trong CSDL càng nhiều, càng chi tiết giúp cho việc thống kê
báo cáo càng dễ dàng và thuận tiện.
Đề xuất các thông tin bạn đọc của Viện Địa lý như sau:
+ Họ và tên
+ Tên khác, tên thường gọi
+ Ngày sinh
+ Giới tính

3.3.1.2 Các Phân hệ nghiệp vụ
Các phân hệ nghiệp vụ với đầy đủ tính năng từ khâu đầu vào Bổ sung trao đổi, Biên
mục tài liệu đến Quản lý lưu thông, Quản lý bạn đọc đến các khâu đầu ra Thống kê báo cáo
và các công cụ bổ trợ giống như hệ quản trị thư viện tích hợp thương mại của một cơ quan
thông tin – thư viện lớn thực sự đã tin học hóa hoàn toàn quy trình quản lý tài liệu thủ công
trước đây của Phòng tư liệu, góp phần nâng cao vị thế của Viện Địa lý so với các phân viện
trong Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Đối với lãnh đạo Viện Địa lý
+ Đánh giá đầy đủ số lượng và chất lượng nguồn tài nguyên thông tin của Viện, qua
đó có kế hoạch bổ sung tài liệu phù hợp, nâng cao chất lượng thông tin.
+ Thống kê, xem xét tình hình nghiên cứu khoa học, khả năng ứng dụng thực tiễn
thông qua các công trình khoa học của cán bộ Viện.
+ Công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác đào tạo sau đại học.
+ Phục vụ thông tin rộng rãi cho cán bộ phân viện và viện lớn.
+ Trao đổi thông tin, kết quả nghiên cứu với các thư viện trong và ngoài nước.
+ Tiết kiệm kinh phí mua phần mềm khi khả năng tài chính hạn hẹp.
+ Quản lý nhân viên và dễ dàng đánh giá hiệu quả hoạt động của phòng tư liệu.
Đối với cán bộ, giảng viên
+ Tin học hóa tiến trình công việc, giảm thiểu các thao tác thủ công.
+ Tạo sự hứng khởi trong công việc hàng ngày.
+ Chuẩn hóa nghiệp vụ.
+ Mở rộng và triển khai dễ dàng các dịch vụ thư viện
+ Tra cứu dễ dàng vào bất cứ lúc nào, từ bất kỳ máy tính nào có nối mạng với máy
chủ thư viện. Nắm được đầy đủ thông tin về tài liệu và hiện trạng của tài liệu mà mình
quan tâm.
+ Có thể yêu cầu thư viện giữ chỗ để phục vụ cho lớp học, khóa học
+ Có thông tin để sắp xếp thời gian hợp lý cho việc mượn trả tài liệu. Được phục vụ
nhanh chóng do chất lượng dịch vụ thư viện đã được nâng cao.
Đối với học viên, nghiên cứu sinh
+ Tìm kiếm thông tin phục vụ việc nghiên cứu học tập một cách dễ dàng từ một máy

ISIS, Hệ quản trị thư viện tích hợp,… Đối với tiếng Anh chuyên ngành tương đương trình độ
sau B. Một số sinh viên sau tốt nghiệp đã công tác tại các công ty phần mềm thư viện, liên
quan đến lập trình và các văn phòng đại điện cho các công ty nước ngoài.
3.3.3. Kết quả cơ sở dữ liệu
Sau khi viết phiếu nhập tin, triển khai nhập liệu và thống kê từ CSDL thu được kết
quả: 243 bản ghi tên sách (320 ĐKCB); 15 bản ghi giáo trình (300 ĐKCB); 236 bản ghi đề
tài cơ sở (472 ĐKCB); 18 bản ghi luận án (26 ĐKCB). Với số lượng bản ghi và số lượng
ĐKCB tài liệu tuy không lớn nhưng kết quả này đã đánh dấu bước đầu sự thành công việc
triển khai Hệ quản trị thư viện tích hợp mã nguồn mở Koha cho Phòng tư liệu Viện Địa lý,
mở ra một sự lựa chọn mới cho các thư viện Việt Nam.
Các đề xuất nghiệp vụ cũng hoàn toàn phù hợp với phần mềm và cho các kết quả
đúng chuẩn quốc tế, thuận tiện cho việc quản lý, đáp ứng được các yêu cầu đề ra.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Phát triển phần mềm mã nguồn mở đã trở thành một trong những hướng đi chiến lược
trong việc phát triển công nghệ thông tin ở nước ta hiện nay. Đặc biệt với sự bùng nổ của hệ
thống mạng thông tin Internet, việc ứng dụng phần mềm mã nguồn mở đã trở thành một cơ
hội cho phép tiếp cận các công nghệ mới một cách dễ dàng với chi phí hợp lý. Ngày nay càng
nhiều các phần mềm mã nguồn mở được đánh giá cao và được đưa vào ứng dụng tại nhiều tổ
chức nổi tiếng trên thế giới.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu phát triển và ứng dụng các sản phẩm phần mềm mã
nguồn mở đã trở thành một nhu cầu cấp thiết vì nhiều lý do. Lý do đầu tiên đó là do nhu cầu
về phát triển công nghệ thông tin trong nước. Trong hoàn cảnh công nghệ thông tin thế giới
đã có một quãng thời gian phát triển khá lâu với nhiều thành tựu trong khi công nghệ thông
tin Việt Nam mới chỉ đạt được ở mức độ khiêm tốn, để có thể bắt kịp các nước phát triển,
việc tiếp cận với hệ thống phần mềm mã nguồn mở là một hướng đi đúng đắn giúp Việt Nam
có một nền tảng để hội nhập.
Lý do thứ hai quan trọng không kém, quyết định nhu cầu nghiên cứu phát triển phần
mềm mã nguồn mở đó là vấn đề bản quyền và chi phí. Hiện nay, phần lớn các sản phẩm phần
mềm thương mại đang được sử dụng ở Việt Nam đều không có đăng ký bản quyền. Trong

hệ quản trị thư viện mã nguồn mở cần xem xét, học tập gồm có: Greenstone, Dspace, Koha,
PhpMyLibrary, PMB, Emilda,… Sinh viên, học viên cần chia thành nhiều nhóm tương
đương với các bộ phận trong một cơ quan TT-TV, phối hợp vận hành các phân hệ của một
ILS, khi đã thuần thục và hiểu được quy trình vận hành của từng phân hệ thì tiến hành đổi các
nhóm cho nhau.
- Khuyến khích giáo viên, giảng viên soạn giáo án, giáo trình trên các sản phẩm nguồn mở
như Open Office để thay thế cho các sản phẩm nguồn đóng như Microsoft Office.
- Đối với sinh viên, học viên làm khóa luận, luận văn tốt nghiệp trên nền tảng các phần mềm
nguồn mở sẽ được thưởng điểm và cộng điểm vào tổng chung.
- Tổ chức cho giảng viên, sinh viên, học viên tham gia các kỳ thi trong nước và quốc tế về
các phẩn mềm nguồn mở.
- Các tổ chức, hiệp hội TT-TV cần tăng cường các hội thảo, trao đổi, chia sẻ những kinh
nghiệm triển khai phần mềm thư viện mã nguồn mở. References

Tiếng Việt
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Thông tư Quy định về sử dụng phần mềm tự do mã
nguồn mở trong các cơ sở giáo dục, Thông tư Số: 08/2010/TT-BGDĐT, Ban hành ngày
01 tháng 3 năm 2010.
[2] Bộ Thông tin và Truyền thông (2008), Về đẩy mạnh sử dụng phần mềm mã nguồn mở
trong hoạt động của cơ quan, tổ chức nhà nước, Chỉ thị số 07/2008/CT-BTTTT, Ban
hành ngày 30 tháng 12 năm 2008.
[3] Bộ Văn hóa – Thông tin (2006), Các Thư viện và Trung tâm Thông tin – Thư viện ở Việt
Nam. Hà Nội.
[4] Danh mục phần mềm thư viện nước ngoài -
20080712151/Tai-lieu-nghiep-vu/Danh-muc-phan-mem-thu-vien-nuoc-ngoai.html
[5] Giải pháp thư viện điện tử - thư viện số Libol (2009),
Content/Uploads/file/Brochure_LIBOL.pdf



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status