Ứng dụng công nghệ Web với cơ sở dữ liệu trong điều hành quản lý
Ngu
ồ
n:quantrimang.com
Sử dụng công nghệ web vào các ứng dụng tin học là một xu hướng cho
các hệ thống quản lý hiện nay. Ưu điểm nổi bật đầu tiên của công nghệ
web là khả năng tải tự động ứng dụng từ máy chủ. Ưu điểm này hơn hẳn
mô hình client-server ở khả năng triển khai rộng.
Tại Việt Nam hiện nay một số đơ
n vị đã ứng dụng hiệu quả công nghệ này, từ đó
giảm bớt chi phí nhân công, cũng như thuận tiện trong việc điều hành và quản lý
từ đó có các biện pháp quản lý hiệu quả nhanh chóng đưa ra các quyết định
sáng suốt,phù hợp. Bài báo này với mục đích giúp người đọc có cái nhìn cụ thể
hơn về công nghệ này cũng như khả năng ứng dụng rộng rãi của nó.
1.Mở đầu
Sử dụng công nghệ web vào các ứng dụng tin học là một xu hướng cho các hệ
thống quản lý hiện nay. Ưu điểm nổi bật đầu tiên của công nghệ web là khả năng
tải tự động ứng dụng từ máy chủ. Ưu điểm này hơn hẳn mô hình client-server ở
khả năng triển khai rộng. Tại Việt Nam hiện nay một số đơn vị
đã ứng dụng hiệu
quả công nghệ này, từ đó giảm bớt chi phí nhân công, cũng như thuận tiện trong
việc điều hành và quản lý từ đó có các biện pháp quản lý hiệu quả nhanh chóng
đưa ra các quyết định sáng suốt,phù hợp. Bài báo này với mục đích giúp người
đọc có cái nhìn cụ thể hơn về công nghệ này cũng như khả năng ứng dụng rộng
rãi của nó.
2. Cơ
sở dữ liệu với web
Hiện nay, các trang web tĩnh được phát triển từ HTML đang bị cạnh tranh bởi
ng tệp mà trong đó dữ liệu sắp xếp, tìm kiếm dễ dàng, nhanh
chóng, chính xác, cho phép dễ chia xẻ tài nguyên với nhiều người cùng sử
dụng, và an toàn.
Một cơ sở dữ liệu nên hoàn chỉnh và đạt yêu cầu như một hệ thống hiệu
chỉnh giám sát tài khoản thường được sử dụng trong các nhà băng để quản lý
việc thay đổi các tài khoản của hàng nghìn khách hàng. Một cơ sở dữ liệu
phả
i cho phép chứa dữ liệu, nhập vào hoặc sửa đổi nó khi cần đến thao tác
trên đó.
Thông thường, các cơ sở dữ liệu chạy những ứng dụng lớn trên những
máy chủ mạnh (mainframe). Ví dụ như Oracle 8, Sybase hay SQL Server.
Tuy nhiên với những máy tính cá nhân nhỏ, cơ sở dữ liệu cần trở thành tiện
dụng hơn với số đông người dùng có máy tính, ví dụ như Microsoft Access
hay Borland Paradox.
Quan trọng hơn nữa là cơ
sở dữ liệu phải có thể kết hợp cho dịch vụ,
phát triển và thiết kế phục vụ các trang web.
Cơ sở dữ liệu phân tích (OLAP - On Line Analytical Processing) là một
CSDL tĩnh và chỉ dùng cho đọc số liệu chứa trong đó, đó là các số liệu lưu trữ
dùng cho phân tích. Trên web, đôi khi ta gặp một CSDL phân tích ở dạng
bảng tra cứu thống kê, ví dụ như Amazon.com. Một CSDL kiểu như vậy
thường lư
u giữ thông tin về tất cả những sản phẩm nằm trong danh mục.
Trang web được tạo động qua việc truy xuất dữ liệu trong danh sách, khác
với việc tìm kiếm theo một số tham số. Trang được tạo động sẽ hiển thị dữ
liệu về những mục chứa trong CSDL.
Cơ sở dữ liệu thao tác (OLPT - On Line Transaction Processing), theo
một cách khác, được sử dụng để quản lý những phần động của dữ liệu.
Những kiểu CSDL như thế cho phép thực hiện việc trình bày dữ liệu lưu trữ
đơn giản hơ
phát triển ứng dụng tuỳ theo yêu cầu nghiệp vụ.
Oracle cung cấp hệ thống bả
o mật ở nhiều mức , người quản trị CSDL sẽ
thực hiện phân quyền cho từng người sử dụng được phép. Đối với CSDL ,
Oracle phân các quyền nhập mới, sữa chữa, xoá, xem, index trên các đối
tượng như bảng (table), khung nhìn (view) Như vậy chỉ những người có mật
khẩu mới sử dụng được dữ liệu của hệ thống.
Oracle cung cấp các quyền và quy tắc có sẵn cho người sử dụng. Mỗi
người sử dụng (user) sử dụng cơ sở dữ liệu Oracle đều phải đăng ký một tài
khoản (account) trong cơ
sở dữ liệu bao gồm:
Use namer: mỗi người sử dụng kết nối với cơ sở dữ liệu với tên duy nhất,
được gắn liền với mật khẩu. Các trạm làm việc cùng chia sẻ tài nguyên và cơ
sở dữ liệu.
User password: gắn với User name.
Database name: định nghĩa tên của cơ sở dữ liệu mà người sử dụng muốn
kết nối vào. SQL* Net là phần mềm truyề
n thông cho phép các trạm làm việc
kết nối với cơ sở dữ liệu trên oracle Server và thao tác trên oracle server.
+ Chỉ tiêu tablespace (không gian đĩa có sẵn) cho người sử dụng.
+ Giới hạn nguồn tài nguyên hệ thống cho người sử dụng.
Sau khi tạo ra người dùng, người quản trị cơ sở dữ liệu (DBA- database
Adminitrator) phải gán quyền cho người dùng có thể truy cập được vào cơ sở
dữ liệu.
Quyền của người sử d
ụng CSDL Oracle có thể chia thành hai loại:
- System privilege (quyền hệ thống) cho phép người sử dụng thực hiện
trên hệ thống rộng riêng hoặc một hoạt động đặc biệt trên một kiểu đối tượng
đặc biệt. Ví dụ, quyền tạo bảng, chỉ mục trên bất kỳ một tablespace nào,
quyền tạo người dùng mới, quyền cập nhật hỏi đáp dữ liệu trên bất kỳ bảng
Với Orcle: Oracle Application Server cung cấp một số sơ đồ hay chức
năng bảo mật cho phép người phát triển kiểm soát việc truy nhập đến các
trang web và ứng dụng .
Browser - có thể là Netscape Navigator, Internet Explorer hoặc loại khác.
Listener - là HTTP daemon (httpd) dùng
để nghe yêu cầu dịch vụ .
Dispatcher - Dispatcher quản lý yêu cầu HTTP gọi đến cartridges. Mỗi
dispatcher cho mỗi listener. Dispatcher tập hợp của một loạt các khối như
Auth Server, Configuration Provider, Logger
- Database - tham chiếu đến một Oracle database. Web cartridges hoặc
CORBA components (ECOs, C++ cartridge, EJBs) có thể giao tiếp với một
Oracle database qua Oracle Call Interface (OCI) hay các thủ tục khác. Nếu
database nằm trên máy khác nhau, chúng sẽ kết nối qua Net8.
- RM Proxy - proxy quản lý tài nguyên (Resource Manager - RM) là một dich
vụ Web Request Broker bao gồm cả đối tượng tham chiếu đến đối tượng
ECO/Java, EJB, C++ và trả lại cho client.
Mật mã cổng máy chủ cho phép các máy chủ bảo vệ thông tin với sơ đồ
mã hoá mạnh (128 bit) khi kết nối để xuất các phiên bản trình duyệt (40 bit).
Oracle Application Server cung cấp nhận thực máy chủ tuỳ thuộc vào
nguồn gốc người ký nhận đến trình duyệt máy client. Trình duyệt được đáp
ứng với nhận thực của máy chủ. Việc tạo lập ràng buộc nhận thực không yêu
cầu bổ dung cấu hình máy chủ.
Mộ
t firewall được sử dụng để bảo vệ máy chủ Oracle Application Server
qua kết nối Internet/ Intranet. Một firewall có thể đặt ở :
- Trước listener - trong trường hợp này firewall đảm bảo truy nhập cho HTTP
đối với liên lạc browser-to-listener.
- Giữa các khối của Oracle Application Server
- Kết nối giữa Oracle Application Server và Oracle databases thông qua Net8.
Do vậy, bảo mật giữa Oracle Application Server và một Oracle database do
ng dụng rộng
rãi, với các công ty, đơn vị có các chi nhánh trải rộng trên các vùng miền khác
nhau. Với cấu hình mạng như hình 4. Gồm một máy chủ cơ sở dữ liệu, một
máy chủ ứng dụng, các máy trạm có thể truy nhập vào máy chủ này qua một
modem vào Internet dưới dạng Web với user name, password của mình, tiến
hành gửi các báo cáo định kỳ, các báo cáo đột xuất, nhận các thông tin của
nhà quản lý đối với đơn vị mình. Căn cứ vào s
ự phân quyền truy nhập, trang
Web sẽ hiển thị các thông tin cần thiết đối với từng user name, password,
cũng như giới hạn các quyền sửa, gửi báo cáo, phân tích, tổng hợp báo cáo,
đồng thời với nhà quản trị mạng có thể giám sát chặt trẽ việc truy nhập cũng
như gửi báo cáo của các đơn vị thành viên. Một trong những đơn vị áp dụng
thành công công nghệ này là Ban viễn thông thuộc Tổng công ty bưu chính
viễn thông Việt Nam với bộ ch
ương trình viết bởi trung tâm ứng dụng công
nghệ mới thuộc Viện khoa hoc kỹ thuật Bưu điện. Trang Web này đã giúp ban
viễn thông giảm thiểu được việc nhận Fax các báo cáo, nhanh chóng nắm
được tình hình viễn thông với các ứng dụng như :
+ Điều hành thông tin
+ Thu thập và tổng hợp báo cáo ngày, tuần
+ Quản lý mạng chuyển mạch và truyền dẫn
+ Quản lý kế hoạch phát triển
+ Phổ biến văn b
ản nghiệp vụ
+ Quản lý phát triển dịch vụ
Với các chức năng cơ bản cho mỗi ứng dụng (tuỳ theo quyền truy nhập):
+ Nhập số liệu
+ Sửa đổi
+ Giám sát quản lý số liệu và thực hiện quy trình nghiệp vụ
+ Lập báo cáo