Kinh tế học vi mô: Chính phủ tham gia vào
luồng lưu thông hàng hoá và dịch vụ
Trọng tâm của chương này là bàn về vai trò của chính phủ trong nền kinh tế. Thị
trường không phải luôn cư xử có hiệu quả như đã bàn tới trong
Chương Điều tiết
thị trường
. Khi thị trường có kết quả không hiệu quả về kinh tế, có thể Chính phủ
sẽ can thiệp làm thay đổi thất bại của thị trường
.
Chính phủ tham gia vào luồng lưu thông hàng hoá và dịch vụ
Về biểu đồ chi tiết về luồng lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ có Chính phủ tham
gia luồng lưu thông của khu vực tư nhân quá phức tạp để có thể vẽ ra ở đây, vì vậy
có thể sẽ hữu ích hơn nếu liên hệ biểu đồ này bằng chữ. Như biểu đồ này cho thấy,
chính phủ thu thuế của cả hộ gia đình và các xí nghiệp và đổi lại cung cấp dịch vụ
của chính phủ.
Để sản xuất ra dịch vụ của mình, chính phủ mua các yếu tố sản xuất từ hộ gia đình
và mua hàng hoá và dịch vụ từ các xí nghiệp. Đổi lại, chính phủ thanh toán các
yếu tố sản xuất cho hộ gia đình và thanh toán hàng hoá dịch vụ chính phủ mua của
các xí nghiệp.
Về vấn đề bơm thêm vào và sự rò rỉ như được thảo luận trước đó, thuế là sự rò rỉ
khỏi luồng lưu thông thu nhập trong khi chi tiêu của chính phủ là một sự bơm
thêm sức mua.
Hiệu quả kinh tế và kỹ thuật
Hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency) xuất hiện khi nền kinh tế hoạt động trên
đường giới hạn khả năng sản xuất (production possibility curve ~ PPC). Trong
trường hợp này, không có các nguồn tài nguyên không được sử dụng hoặc chưa
được sử dụng hết mức.
Hiệu quả kinh tế (economic efficiency) là một khái niệm
nói chung cho biết khi có bất kỳ sự thay đổi nào đem lại lợi ích cho người này thì
sẽ làm thiệt hại cho người khác. Lưu ý là hiệu quả kỹ thuật là điều kiện cần thiết
cho hiệu quả kinh tế do một sự dịch chuyển đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ
nếu vậy ít nhất họ sẽ ra một quyết định trao đổi khiến họ phải hối tiếc sau đó.
Chính phủ có thể sửa chữa kiểu thất bại này của thị trường bằng việc:
• yêu cầu sản phẩm phải dán nhãn danh mục thành phần
• chịu trách nhiệm dán mác cảnh báo với sản phẩm có thể gây nguy hiểm,
• yêu cầu bảo hộ cho một số sản phẩm (vì dụ như "luật lemon" với việc sử
dụng ô tô)
• cấm khẳng định không trung thực và yêu cầu "trung thực trong quảng cáo"
• cấp giấy phép cho người lao động trong một số nghề nghiệp,
• bằng việc cung cấp thông tin công cộng về sản phẩm
Yếu tố ngoại sinh (Externalities)
Yếu tố ngoại sinh là những tác động phụ của hoạt động sản xuất hoặc tiêu dùng tác
động lên các bên không trực tiếp tham gia vào giao dịch. Ngoại ứng dương
(positive externalities) xuất hiện khi các bên không tham gia vào giao dịch có lợi
từ giao dịch. Ngoại ứng âm xuất (negative externalities) hiện khi bên thứ ba bị
thiệt hại. Nếu ai đó sơn nhà ở của họ, xúc tuyết khỏi đường đi đằng trước nhà ở,
nhận được vắc-xin cho các căn bệnh truyền nhiễm, hoặc dời ô tô phế thải ra khỏi
bãi cỏ của họ, ngoại ứng dương xuất hiện. Ngoại ứng âm xảy ra do kết quả của ô
nhiễm, nhạc ầm ĩ từ nhà hàng xóm (giả sử bạn không thích sự lựa chọn hoặc thời
gian thưởng thức nhạc của họ), khói thuốc xì gà hoặc thuốc lá, hoặc tham gia vào
những hoạt động gây thiệt hại cho người khác.
Khi ngoại ứng dương xuất hiện, những ai tham gia giao dịch sẽ không được tính
lợi ích xã hội bên ngoài từ kết quả hoạt động của họ. Kết quả là, hàng hoá hoặc
hoạt động tạo ra ngoại ứng dương được sản xuất ít hơn trong một nền kinh tế thị
trường. Chính phủ có thể sửa chữa thất bại này bằng việc trợ cấp cho hoạt động đó
hoặc ban hành những quy định hoặc trách nhiệm yêu cầu có mức hoạt động cao
hơn. Ví dụ, chính phủ vừa trợ cấp giáo dục vừa quy định trách nhiệm tới trường
của mỗi cá nhân ít nhất tới độ tuổi 16. Chính phủ vừa trợ cấp vắc-xin vừa quy định
trách nhiệm tất cả các trẻ em trong độ tuổi tới trường được tiêm vắc xin trước khi
được phép đi học.
Nói cách khác, ngoại ứng âm mang lại kết quả chi phí xã hội không được tính tới
tục sử dụng nó thậm chí cho dù họ không trả tiền. Trong một tình huống như vậy,
mỗi người có động cơ trở thành "người hưởng thụ miễn phí" (free rider) và để
những người khác trả tiền cho hàng hoá công cộng. Tất nhiên vấn đề là hàng hoá
sẽ vừa không được sản xuất đủ hoặc vừa không được sản xuất tí nào nếu quyết
định cung cấp hàng hoá do thị trường quyết định
Chính phủ cố sửa chữa thất bại này của thị trường bằng việc cung cấp hoặc trợ cấp
cho việc sản xuất hàng hoá công cộng.
Thiếu quyền sở hữu (The absense of property rights)
Một vấn đề nảy sinh khi không ai có quyền sở hữu tư nhân với một hàng hoá. Vấn
đề này nảy sinh trường hợp những nguồn tài nguyên sở hữu chung trong đó không
cá nhân nào có quyền sở hữu tư nhân. Khi mọi người cùng sở hữu một số nguồn
tài nguyên, mỗi cá nhân nhận được tất cả lợi ích từ việc sử dụng chúng, nhưng chi
phí cũng được chia xẻ cho tất cả mọi người. Ví dụ, hãy xem xét trường hợp về cá
voi, trâu, nghề cá và những nguồn tài nguyên tương tự. Trong mỗi trường hợp,
người đánh bắt cá voi, người săn bắt hoặc ngư dân nhận được quyền sở hữu chỉ
sau khi đánh bắt và giết các con vật. Mỗi người sẽ nhận được toàn bộ lợi ích từ
hoạt động của họ, nhưng mọi người lại phải chia xẻ chi phí về nguồn cung cấp
sinh sản bị giảm. Nếu bạn là một ngư dân dang đánh bắt tại ngư trường bị nguy
hiểm, bạn không có động lực giảm mùa thu hoạch cá của bản thân vì bạn biết nếu
bạn không bắt thêm cá, một số người khác có thể sẽ bắt thêm. Trong mỗi tình
huống như vậy, nguồn tài nguyên bị sử dụng quá mức. (Ví dụ của Việt Nam, đánh
cá trên sông Tiền Giang, Hậu Giang và sông Hồng).
Chính phủ giải quyết vấn đề này bằng cách áp đặt hạn chế tiêu dụng hoặc bằng
cách ban hành quyền sở hữu khi có thể. Khi da cá sấu là một nguồn tài sản chung
tại Hoa Kỳ, cá sấu bị săn cho tới khi bị đe doạ tuyệt chủng. Ban hành luật "trang
trại cá sấu" trong đó cá sấu được cá nhân sở hữu đã loại trừ nguy cơ tuyệt chủng
do bản thân các chủ trang trại cá sấu có động cơ duy trì nguồn cung cấp sinh sản
cho các vụ thu hoạch hàng năm liên tục.
"Vấn đề của chung" (the problems of the commons) này (như được biết tới là "Cha
chung không ai khóc") giải thích tại sao các công viên công cộng và đường cao tốc
kinh tế vi mô liên quan tới những chính sách được thiết lập nhằm sửa
chữa những thông tin không hoàn hảo, yếu tố ngoại sinh, hàng hoá công cộng,
thiếu quyền sở hữu và độc quyền.
Chính sách kinh tế vĩ mô là chính sách được thiết lập nhằm thúc đẩy sự ổn định
kinh tế vĩ mô và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Chính sách kinh tế vĩ mô liên quan
tới việc sử dụng chính sách tài khoá (fiscal policy) và tiền tệ (monetary policy).
Chính sách tài khoá liên quan tới việc thay đổi chi tiêu của chính phủ, thuế và
thanh toán chuyển nhượng. (Thanh toán chuyển nhượng là những thanh toán được
trả cho các cá nhân mà không nhận lại bằng hàng hoá và dịch vụ nào. Danh mục
chi tiêu này bao gồm trợ cấp thất nghiệp, chi trả an sinh xã hội, và chi tiêu phúc
lợi). Chính sách tiền tệ liên quan tới việc sử dụng những thay đổi về lượng cung
tiền để tác động lên mức hoạt động kinh tế.
Một sự thặng dư ngân sách xuất hiện nếu doanh thu từ thuế vượt quá tổng chi tiêu
của chính phủ và thanh toán chuyển nhượng. Nếu tổng thanh toán chuyển nhượng
và chi tiêu của chính phủ vượt quá doanh thu từ thuế sẽ xuất hiện sự thâm hụt
ngân sách.
Kế hoạch tập trung (Central Planning)
Một hình thức tổ chức kinh tế khác thay thế là nền kinh tế kế hoạch tập trung.
Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, những vấn đề cơ bản sản xuất cái gì, xuất
lượng được sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai do hội đồng kế hoạch tập
trung trả lời (về lý thuyết). Với sự sụp đổ của Liên Bang Xô-Viết và cải cách thị
trường ở Trung Quốc, hiện nay chỉ còn một vài nền kinh tế cam kết giữ hình thức
kế hoạch tập trung.
Hiệu đính:
1. Khi Liên Bang Xô-Viết chưa sụp đổ, trên lý thuyết, Nga có nền kinh tế tập
trung. Nhưng những tài liệu nghiên cứu gần đây, trên 50% hoạt động kinh tế của
Liên Bang Xô-Viết vẫn là kinh tế thị trường qua chợ đen.
2. Nói chi xa, các bạn có thể liệt kê các khoảng chi tiêu của gia đình mình trong
thời gian 1979-1986, và xem coi chính phủ VN cung cấp bao nhiêu phần trăm.