Tài liệu Triệu chứng cơ năng tiêu hóa - Pdf 10

TRIỆU CHỨNG CƠ NĂNG TIÊU HOÁ
Mục tiêu:
1. Phân biệt đau bụng cấp, đau bụng mạn.
2. Trình bày các nguyên nhân gây buồn nôn và nôn.
3. Trình bày các nguyên nhân gây nuốt khó.
4. Phân biệt táo bón cấp, táo bón mạn.
Dàn bài:
I. ĐAU BỤNG
II. BUỒN NÔN VÀ NÔN
III. Ợ NÓNG
IV. NUỐT KHÓ
V. XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ
VI. THAY ĐỔI THÓI QUEN ĐI TIÊU: TIÊU CHẢY, TÁO BÓN
Tiếp cận lâm sang một bệnh nhân tiêu hoá cần điều tra các triệu chứng cơ
năng của bệnh nhân và khám thực thể. Trong một số trường hợp, việc hỏi
bệnh sử kỹ lưỡng có thể giúp chẩn đoán được bệnh một cách rõ rang và
chính xác mà không cần nhờ đến những xét nghiệm cận lâm sàng.
ĐAU BỤNG (ABDOMINAL PAIN)
Đau bụng là triệu chứng cơ năng thường gặp nhất ở các bệnh nhân rối loạn
dạ dày ruột. Phản ứng đau của từng người thay đổi rất khác nhau.
Các kiểu đau (?) đau do tạng, đau do thành bụng, đau do liên quan.
Đau do tạng được cảm nhận tại nơi bị kích thích đầu tiên. Đau thường mơ
hồ, định vị không rõ ràng và thường khó khăn để mô tả. Có thể kèm hoặc
không kèm đau do liên quan.
Đau do thành bụng là đau somatic, sâu do tình trạng kích thích hoặc hiện
tượng viêm của phúc mạc thành hoặc của mạc treo. Đau thường dể xác định
hơn và dễ dàng mô tả hơn đau do tạng.
Đau do liên quan là đau được cảm nhận tại vị trí khác nơi bị kích thích nhưng
trong cùng một vùng được chi phối bởi cùng một dây thần kinh hoặc kế cận.
Mức độ đau bụng giúp tiếp cận lâm sàng liên quan đến các hội chứng quan
trọng. Nhưng cần lưu ý một điều, cảm giác đau là cảm giác chủ quan của

3. Hỏi bệnh sử kỹ lưỡng, có hoặc không có các rối loạn khác, các rối loạn này
có thể gây ra đau do liên quan (như viêm phổi, viêm màng ngoài tim, nhồi
máu cơ tim, viêm đốt sống).
4. Hỏi các triệu chứng liên quan với các nguyên nhân gây đau nội sinh và
ngoại sinh cũng như các nguyên nhân có nguồn gốc thần kinh.
5. Kiểm tra tiến sử kinh nguyệt. Vỡ nang trứng giữa kỳ kinh là nguyên nhân
gây đau bụng lành tính thường gặp. Một bệnh sử trễ kinh xảy ra cùng lúc với
đau bụng gợi ý thai ngoài tử cung.
6. Tiền sử gia đình có thể giúp phát hiện nguyên nhân đau bụng. Những rối
loạn có tính chất gia đình như tăng lipid máu, sốt Địa Trung Hải giađình,
thalassemia, thiếu máu hồng cầu liềm, porphyria từng cơn gián đoạn thường
đi kèm với đau bụng.
7. Các thuốc kháng đông có thể gây xuất huyết trong ổ bụng hoặc sau phúc
mạc, gây đau bụng cấp.
8. Tiền sử giang mai hoặc lậu có thể giúp ích để làm sáng tỏ nguyên nhân
đau bụng.
Lưu ý:
• Các xét nghiệm cận lâm sàng, mạc dù quan trọng nhưng hiếm khi xác
minh chẩn đoán.
• Một số trường hợp không thể xác minh chẩn đoán ngay lần đầu tiên khám
bệnh.
• Nếu bệnh nhân đau bụng cấp cần hội chẩn ngoại khoa.
• Nếu vẫn còn nghi ngờ, theo dõi cẩn thận, hỏi bệnh lại và khám lại sẽ cho
biết diễn tiến đúng của bệnh.
Đau bụng mạn
Đau bụng mạn, đau bụng kéo dài nhiều tuần hoặc nhiều tháng, chẩn đoán
có thể tiến hành từ từ và có kế hoạch. Bệnh nhân phải được điều tra cẩn
thận về vị trí, cường độ, đặc điểm, thời gian mạn tính và khởi phát đau
những yếu tố làm nặng thêm hoặc làm giảm đau và những triệu chứng, dấu
hiệu đi kèm. Nói chung các mối liên quan với đau là quan trọng. Mỗi cơ quan

có thể đi kèm với thay đổi thói quen đi tiêu mới xảy ra. Chảy máu trực tràng
thường gặp. Thiếu máu nhẹ thường gặp.
7. Các nguyên nhân khác:
• Viêm túi thừa mạn
• Bán tắc ruột
• Viêm phúc mạc do lao.
• Bệnh toàn than và ngộ độc (bệnh mô liên kết, ngộ độc chì, tiểu đường,
porphyria, bệnh Tabes lưng…)
• Ung thư tụy tạng.
BUỒN NÔN VÀ NÔN (NAUSEA AND VOMITING)
Mặc dù buồn nôn và nôn có thể xảy ra độc lập, nhưng chúng có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau và thường xảy ra cùng lúc.
Buồn nôn được xem như sự thôi thúc nôn. Nôn hay là sự tống xuất nhanh
các chất chứa trong dạ dày. Tuy nhiên, buồn nôn là triệu chứng báo trước
nôn sẽ xảy ra. Ợ hơi liên quan đến hoạt động co thắt đường hô hấp trước
nôn. Ợ hơi không theo sau bởi sự tống xuất một lượng chất ói đáng kể,
thường được gọi là oẹ. Nôn khác với ụa (ợ), ụa liên quan đến sự phun ngược
những lượng nhỏ thức ăn của thực quản dạ dày hoặc tá tràng không đi trước
buồn nôn và không có sự tham gia hoạt động của cơ bụng.
Căn nguyên
Buồn nôn và nôn thường là biểu hiện của các cơn rối loạn chức năng và thực
thể. Buồn nôn không kèm nôn có thể gặp trong hội chứng ure huyết, trị liệu
quang tuyến, nghiện rượu, bệnh gan, tăng calci máu, có thai, tác dụng phụ
của thuốc (digital, thuốc phiện, kháng sinh, ngừa thai uống…).Buồn nôn dai
dẳng ở người khoẻ mạnh thường có căn nguyên tâm thần.
Nôn có thể do bệnh cấp hoặc mạn tính, hoặc do rối loạn thần kinh hoặc chức
năng. Nôn có thể là dấu hiệu đầu tiên của cơn đau bụng cấp hoặc một bệnh
toàn thân nặng.
Trong thực hành lâm sàng hàng ngày, những nguyên nhân thường gặp nhất
của buồn nôn và nôn là viêm dạ dày ruột cấp, bệnh toàn thân có sốt, tác

phát nhiều lần. Sự hiện diện của mật ám chỉ tình trạng mở của dạ dày. Nôn
mật thường gặp ở bệnh nhân sau phẫu thuật dạ dày.
10. Nôn kéo dài có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng (như viêm phổi
hít, mất nước, rối loạn cân bằng nước và điện giải, xuất huyêt tiêu hoá do
rách niêm mạc vùng nối thực quản dạ dày - $ Mallory Weiss).
Nguyên nhân buồn nôn và nôn
A. Thần kinh
1. Migraine
2. Rối loạn mũi hầu
3. Các sang thương ở não
B. Tâm thần
1. Chấn thương tâm lý
2. Nôn lén lút
3. Nôn chu kỳ (ở trẻ em và trẻ nhỏ)
C. Chuyển hóa và nội tiết
1. Suy thận
2. Toan chuyển hóa
3. thuốc và hóa chất
4. Rối loạn điện giải (giảm Na máu, tăng Ca máu, tăng K máu)
5. Suy gan
6. Nhược giáp
7. Thiểu năng thượng thận
8. Thai
9. Dị ứng thức ăn
10. Tiểu đường.
D. Tiêu hóa
1. Dạ dày tá tràng:
- Loét dạ dày tá tràng
- Hẹp môn vị
- Mất trương lực dạ dày

và pepsin, hoặc mật và dịch tụy, hoặc cả hai từ dạ dày vào thực quản.
Những bất thường vận động của thực quản có thể góp phần gây ra những
triệu chứng ợ nóng. Tuy nhiên, ợ nóng có thể xảy ra khi vận động thực quản
bình thường, những kích thích hoá học từ dạ dày trào ngược vào thực quản
là yếu tố quan trọng trong cơ chế sinh bệnh.
Trào ngược dạ dày thực quản
Yếu tố quyết định chủ yếu của trào ngược dạ dày thực quản là trương lực
của cơ vòng thực quản dưới. Về giải phẫu học không thể nhận biết cơ vòng
thực quản dưới, tuy nhiên có thể chứng minh sự hiện diện của nó bằng các
phương pháp cơ học như đo áp lực thực quản. Thoát vị hoành ảnh hưởng
không đáng kể đến áp lực cư vòng thực quản dưới. Một số biến chứng của
trào ngược dạ dày thực quản:
1. Viêm thực quản (thay đổi mô học của niêm mạc thực quản: Xuất huyết,
loét, chít hẹp)
2. Hít vào khí quản gây xơ hóa, viêm phổi và ho mạn tính.
Căn nguyên
1. Trào ngược dạ dày thực quản do cơ vòng mất khả năng, có hoặc không có
thoát vị hoành
2. Thuốc
3. Xơ cứng bì làm ảnh hưởng đến cơ vòng thực quản dưới
4. Hội chứng Barret (thực quản dưới được thay bằng biểu mô trụ và loét tạoi
vùng chuyển tiếp)
5. Bướu, bằng cách ảnh hưởng chức năng cơ vòng hoặc thay đổi vận động
NUỐT KHÓ (DYSPHASIA)
Nuốt khó là cảm giác khó khăn trong khi nuốt, không bị đau. Đây là một
cảm giác chủ quan xảy ra trong khi nuốt. Thường có cảm giác vướng sau
xương ức. Trong đa số các trường hợp, nuốt khó ở cùng vị trí tổn thương
hoặc ở phía trên tổn thương, không bao giờ nuốt khó ở dưới tổn thương.
Nuốt đau là thuật ngữ chỉ cảm giác đau xảy ra khi nuốt.
Căn nguyên

- Bệnh Crohn
Triệu chứng
1. Một bệnh sử chi tiết có thể cung cấp đầu mối có ý nghĩa về căn nguyên
nuốt khó và từ đó giúp đánh giá bệnh.
2. Nuốt khó do bệnh hầu họng được đặc trưng bởi cảm giác khó đây thức ăn
từ miệng xuống hầu. Ợ thức ăn có thể xảy ra ngay lập tức khi qua chỗ hẹp,
ngạt thở và nuốt lặp đi lặp lại, nhất là trong những trường hợp rối loạn thần
kinh cơ.
3. Nuốt khó do thực quản thường được mô tả là nuốt vướng. Nuốt khó có thể
xảy ra từng đợt trong trường hợp co thắt cơ vòng thực quản dưới hoặc nuốt
khó tiến triển dần trong trường hợp bướu. Ợ những thức ăn chưa tiêu hóa có
thể xảy ra vài phút đến vài giớ sau ăn. Bệnh nhân nhận thấy rằng họ phải
nhai kỹ thức ăn và đôi khi cần uống nước để cuốn thức ăn xuống. Thời gian
ăn thường kéo dài.
4. Sự hiện diện của sụt cân gợi ý tắc nghẽn rõ do bệnh lành tính hoặc ác
tính.
5. Những triệu chứng về hô hấp, thường ban đêm, có thể xảy ra do việc hít
những chất trong thực quản và khí quản. Phải chú ý tìm bệnh thực quản là
nguyên nhân có thể gặp trong trường hợp viêm phổi tái phát hoặc không giải
thích được.
6. Ợ nóng gợi ý chít hẹp do viêm hoặc bệnh ảnh hưởng đến cơ vòng thực
quản dưới.
7. Hiện tượng Raynaud gợi ý bệnh mô liên kết là nguyên nhân của nuốt khó,
do rối loạn vận động.
8. Hơi thở hôi và cảm giác đầy nghẽn vùng cổ sau bữa ăn gợi ý sự hiện diện
của túi thừa Zenker.
XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA (GASTROINTESTINAL BLEEDING)
Xuất huyết tiêu hóa là tình trạng máu thoát khỏi lòng mạch, chảy vào ống
tiêu hóa và được thải ra ngoài bằng việc ói ra máu và/hoặc tiêu phân đen,
tiêu máu đỏ. Ói máu (hematemesis) là ói máu hoặc bã café. Tiêu phân đen

8. Tiền sử xơ gan làm tăng khả năng chẩn đoán chảy máu từ các tĩnh mạch
thực quản dãn bị vỡ. Tuy nhiên trong nhiều nghiên cứu, 50% trường hợp
xuất huyết tiêu hóa ở bệnh nhân xơ gan là do các tổn thương khác.
9. Phân có thể đỏ ở một số bệnh nhân sau khi ăn củ cải đường. Phân đen có
thể do uống sắt, thuốc có bisthmus (như Pepto-Bismol), hoặc than hoạt.
10. Nguồn gốc mất máu thường không tìm thấy trong những bệnh nhân
chảy máu mà đang điều trị bằng thuốc kháng đông. Cần nghĩ đến chẩn
đoán, nhất là ở những bệnh nhân chảy máu trong khi điều trị thuốc kháng
đông.
THAY ĐỔI THÓI QUEN ĐI TIÊU
Thay đổi thói quen đi tiêu do rối loạn vận động ruột hoặc do bệnh lý thực
thể. Đánh giá toàn thể tiến triển của các thay đổi này cũng như bản chất của
các thay đổi này cùng với các triệu chứng khác về thể chất như sụt cân, sốt,
biếng ăn là điều quan trọng. Một sự thay đổi tạm thời thói quen đi tiêu kèm
với chấn thương tâm lý trong cuộc sống và không có các triệu chứng toàn
thân khác gợi ý bệnh lý thường gặp là hội chứng đại tràng kích thích, nhất là
khi những thay đổi này diễn biến từ đại tràng đến táo bón. Bệnh nhân
thường mô tả phân gồm nhưng viên nhỏ. Những triệu chứng khác đi kèm về
khó tiêu (đầy bụng, buồn nôn, có hơi) cũng thường gặp. Chẩn đoán bệnh lý
này thường được thực hiện dựa vào việc hỏi bệnh sử đầy đủ và khám thực
thể kỹ lưỡng; các thử nghiệm cận lâm sàng rất hạn chế nhằm mục đích loại
trừ các bệnh lý thực thể. Ngược lại, một đợt táo bón ngày càng xấu hơn ở
người lớn có thói quen đi tiêu đều đặn trước đó nhất là khi đi kèm với các
triệu chứng toàn thân như sụt cân gợi ý sự hiện diện của bệnh lý gây tắc
nghẽn, nhất là bệnh lý ác tính.
TIÊU CHẢY
Tiêu chảy được định nghĩa là sự gia tăng về lượng dịch trong phân, hoặc số
lần đi tiêu hoặc cả hai. Bình thường khối lượng phân trong 24 giờ ít hơn 300g
và có chứa khoảng 150 ml nước. Khi lượng phân hàng ngày hơn 300g
(khoảng 250 ml nước): Tiêu chảy. Dù là cấp hay mạn, tiêu chảy gây rối loạn

thường xuyên thường xảy ra do thói quen ăn uống không đúng, thói quen đi
tiêu kém, uống ít nước, thiếu luyện tập, sử dụng thuốc hoặc do sự phối hợp
của những yếu tố trên. Táo bón cũng có thể xảy ra ở bệnh nhân bị hội chứng
đại tràng kích thích, những người nàu thường than phiền tiêu chảy xen kẽ
táo bón, khó chịu ở bụng và đi tiêu phân dạng hòn có hoặc không có nhầy.
Táo bón đôi khi là biểu hiện của thần kinh lo lắng hoặc trầm cảm. Trong tất
cả các tình trạng đã đề cập, không có các dấu hiệu về tiêu hóa. Chẩn đoán
được thực hiện bởi loại trừ
2. Bón mạn tính có thể do tình trạng không nhạy cảm của trực tràng, trong
nhiều trường hợp do hậu quả của sự nín đi tiêu kéo dài hoặc nghiện thuốc
nhuận trường. Trong những bệnh nhân như thế thường không có nhu động
ruột, thậm chí ngay cả khi trực tràng đầy phân.
3. Bón mạn tính có thể đi kèm với bệnh hậu môn trực tràng, như dò, loét
hoặc trĩ. Chẩn đoán thường được sáng tỏ nờ hỏi bệnh sử, khám thực thể và
nội soi đại tràng sigma.
4. Bón suốt đời (bón nặng bất hồi phục) đôi khi gặp phải do phình đại tràng.
5. Bón mạn tính cũng có thể do tính đa dạng của các rối loạn dạ dày ruột
hoặc bệnh toàn thân.
Táo bón cấp
1. Bón mới xảy ra ở người trước đây khỏe mạnh nhất là nếu bón tiến triển,
có thể là dấu hiệu của rối loạn trầm trọng.
2. Nguyên nhân gây bón cấp tính, nhất là ở những người lớn tuổi là do phân
đóng chặt. Bón cấp cũng có thể xảy ra trong bệnh cảnh lâm sàng của một
người yếu đuối, ốm yếu hoặc suy nhược, nằm tại giường và sử dụng thuốc
an thần hoặc thuốc phiện thường xuyên. Bón cũng có thể xảy ra sau chụp
đường tiêu hóa cản quang. Đi tiêu không tự chủ có những chất bẩn giống
như đất quanh phân đóng chặt có thể được giải thích sai là tiêu chảy. Cảm
giác khó chịu ở trực tràng có thể trầm trọng. Chẩn đoán được thực hiện bởi
khảo sát trực tràng.
3. Bướu tân sinh của trực tràng và đại tràng, nghẽn mạch mạc treo, những

- Hình dạng mặt, thân, các chi.
- Màu sắc, tính chất của da.
Nhiều khi nhìn đã giúp ta nghĩ tới bệnh nào đó của tuyến nội tiết, như: thay đổi mặt, các đầu chi
trong bệnh to đầu chi; bướu giáp trạng có lồi mắt trong bệnh Basedow….
1.2. Chiều cao. Dùng thước đo chiều cao của người bệnh, đánh giá chiều cao so với tuổi tương
ứng để biết cao quá hay lùn quá so với bình thường, nhất là đối với trẻ em và những người trẻ
tuổi.
Đồng thời phải đo các xương dài (cẳng tay, cánh tay, cẳng chân, đùi), đo vòng đầu xem có hiện
tượng ứ nước não hay đầu quá nhỏ, đo vòng ngực… để đánh giá sự cân đối giữa các bộ phận.
Việc cân đo này rất cần thiết, nhất là đối với những người bệnh chưa đến tuổi trưởng thành.
1.3. Cân nặng. Theo dõi cân nặng người bệnh, hỏi kỹ xem sự thay đổi cân nặng qua các giai đoạn
của bệnh, thời gian xuất hiện và các điều kiện xuất hiện của gầy hoặc béo.
1.3.1. Gày: có thể gầy tự nhiên, ở đây lớp cơ phát triển cân đối, nhưng lớp mỡ dưới da thì không
có. Trái với gầy bệnh lý, lớp cơ và mỡ đều rất kém phát triển. Trong bệnh Simmonds, người
bệnh gầy hoàn toàn.
1.3.2. Béo: có thể béo toàn thân hay khu trú một số bộ phận mà đặc biệt là mông, đùi, mặt, bụng
và ngực. Như béo mặt, thân trong bệnh phì sinh dục.
1.4. Da, lông, tóc, móng.
1.4.1. Da:
- Xem thay đổi về màu sắc, sự xuất hiện các mảng sắc tố… chú ý khám những chổ da đặc biệt
như cùi tay, các nếp cổ, bàn tay, bẹn.
- Nhiệt độ của da như lạnh, ra mồ hôi nhiều, trong bệnh bệnh suy giáp trạng và ngược lại trong
Basedow.
1.4.2. Lông tóc mỏng: - Tóc, lông mi, lông mày khô và dễ gãy trong bệnh phù niêm
(myxoedeme), thưa thớt trong suy sinh dục, rụng trong bệnh Simmonda.
- Râu, mọc râu ở nữ trong bệnh Cushing,
- nam không có râu trong bệnh suy sinh dục.
- Móng dễ gãy trong bệnh phù niêm.
- Răng mọc kém, sâu trong suy cân giáp trạng. Dễ gãy, có mủ lợi, dễ rụng trong đái tháo
đường. Răng mọc thưa trong bệnh to đầu chi.

- Tim to hay tràn dịch màng ngoài
- Tim trong bệnh phù niêm.
2.3. Bộ máy tiêu hoá.
2.3.1. Khẩu vị: khẩu vị có thể bị giảm sút rõ rệt trong rối loạn hạ khẩu nảo- yên như: chán ăn
trong bệnh Simmonds, ăn uống quá nhiều trong bệnh đái tháo đường.
2.3.2. Các rối loạn do phản ứng của thần kinh thực vật dạ dày.
- Tiêu hoá kém, táo bón trong bệnh phù niêm.
- Ỉa chảy trong bệnh Basedow.
- Đau bụng, nôn mửa trong hạ canxi máu.
2.4. Bộ phận vận động. Sự phát triển của bộ xương chịu ảnh hưởng không những của tuyến
cận giáp trạng, mà còn của cả ơstrogen, và androgen và coctison. Rỗ xương trong bệnh
Crushing; thoái khớp trong đái tháo đường.
2.5. Tình trạng thể lực, tinh thần:
2.5.1. Thể lực: xem cường độ và chịu đựng của sức:
- Lười hoạt động và hoạt động chậm chạp trong bệnh phù niêm.
- Cơ lực lúc đầu khoẻ, nhưng giảm rất mau trong Addison.
2.5.2. Tinh thần.
- Trí nhớ, trí thông minh kém phát triễn trong bệnh phù niêm.
- Dễ xúc động, hay sợ, trong bệnh Basedow.
Với các biểu hiện lâm sàng trên, giúp ta rất nhiều để hướng tới chẩn đoán. Nhưng muốn chắc
chắn, phải tiến hành các phương pháp thăm dò tuyến.
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ TUYẾN.1. Thăm dò về hình thái.
Chủ yếu dựa vào Xquang, chụp phóng xạ. Tuỳ từng tuyến, có thể áp dụng các phương pháp áp
Xquang khác nhau, nhằm tìm và đánh giá thể tích tuyến mà không đo được khi khám lâm sàng.
- Trong bệnh Addison, chụp thường có thể thấy các nốt vôi hoá ở tuyến thượng thận.
- Trong bướu ngầm giáp trạng, chụp thường có thể hình tuyến to ra, có khi đè vào khí, thực quản,
quan sát rất rõ khi người bệnh uống Baryt.
- Chụp nghiêng sọ, để biết tuyến yên có rộng ra không, trong u tuyến yên.
- Chụp bơm hơi sau màng bụng, cắt lớp để phát hiện u thượng thận.
- Chụp thận qua đường tĩnh mạch (U.I.V) để xem đài, bể thận bị đi lệch trong u thượng thận.

Cuối cùng chúng ta phải tổng hợp xem các biểu hiện ấy thuộc hội chứng suy hay cường của
tuyến nào?
III. CÁC HỘI CHỨNG CHỦ YẾU.
Các bệnh nội tiết có thể chia thành ba nhóm:
1. Hội chứng cường hay suy một tuyến.
Các hội chứng cường hay suy đơn thuần của tuyến có thể thấy trong hầu hết các tuyến nội tiết:
1.1. Hội chứng cường tuyến: thường đo sự phát triển (lành hay ác tính) của tổ chức tuyến gây
ra. Người ta có thể gây ra hội chứng này trên súc vật hoặc trên người bằng cách dùng Hocmon
kéo dài (ví dụ bộ mặt kiểm Cushing, khi dùng quá lâu thuốc Cocticoit).
1.2. Hội chứng suy tuyến: thường do sự phá huỷ tổ chức tuyến bởi một khối u (lành hay ác
tính), bởi nhiễm khuẩn ( như lao trong Addison). Sau phẫu thuật cắt bỏ tuýên. Người ta có thể
gây ra hội chứng này trên súc vật hay trên con người bằng việc cắt bỏ nhu mô tuyến (như trong
phù niêm, sau khi phẫu thuật cắt bỏ giáp, chứng tatani sau khi cắt tất cả các tuyến cận giáp
trạng).
2. Hội chứng phối hợp các rối loạn của nhiều tuyến.
Rất phức tạp, ở đây chỉ nêu lên hai loại.
2.1. Thuỳ trước tuyến yên: coi như “ nhạc trưởng” chỉ huy tất cả các tiết ra kích giáp tố, kích tố
vỏ thượng thận, kích sinh dục tố. Trong trường hợp suy thuỳ trước tuyến yên, người ta thấy suy
giáp trạng, vỏ thượng thận, sinh dục: đó là trường hợp điển hình của suy nhiều tuyến.
2.2. Trong rất nhiều bệnh nội tiết: (cường giáp trạng, suy giáp trạng, cường vỏ thượng thận…)
thấy có suy sinh dục.
3. Các hội chứng phối hợp rối loạn thần kinh và rối loạn nội tiết.
Còn phức tạp hơn nữa. Ví dụ bệnh Basedow. Do não trung ương – tuyến yên bị tổn thương (vì
xúc động, nhiểm khuẩn…) hoạt động rối loạn, đưa lại kết quả là cường kích tố giáp trạng của
tuyến yên. Sự quá tiết kích giáp tố này dẫn tới cường chức năng giáp trạng và các rối loạn về
thần kinh trong bệnh Basedow.
IV. KẾT LUẬN.
Các tuyến nội tiết tham gia vào các quá trình hoạt động rất quan trọng của cơ thể. Thiếu chúng
cơ thể không thể sống được.
Các biểu hiện lâm sàng của các bệnh nội tiết cũng muôn màu muôn vẻ sự thay đổi về sinh hoá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status