Tài liệu Lymphôm nguyên phát đường tiêu hoá: chẩn đoán và điều trị - Pdf 89

Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

LYMPHÔÂM NGUYÊN PHÁT ĐƯỜNG TIÊU HÓA:
CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
Phạm Hùng Cường*, Phạm Xuân Dũng*, Lê Tấn Đạt**
TÓM TẮT
Sau khi khảo sát 18 trường hợp lymphôâm nguyên phát đường tiêu hóa điều trò tại Bệnh viện Ung
Bướu TpHCM trong 2 năm 1999-2000, chúng tôi ghi nhận:
Về chẩn đoán: Các triệu chứng lâm sàng và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh thường không thể
phân biệt được lymphôâm hoặc carcinôm của đường tiêu hóa, thường phải cần đến phẫu thuật mổ bụng
sinh thiết để chẩn đoán xác đònh. Vò trí thường gặp theo thứ tự là: ruột non, đại tràng và dạ dày.
Kết quả giải phẫu bệnh hầu hết các trường hợp đều thuộc loại có độ ác tính trung bình và cao.
Tiêu chuẩn chẩn đoán limphôm nguyên phát đường tiêu hóa: + Có bướu ở đường tiêu hóa với giải
phẫu bệnh xác đònh là limphôm. + Không có sự hiện diện limphôm ở các vò trí khác như: hạch ngoại
biên, hạch trung thất, gan lách, tủy xương và máu ngoại vi. Tuy nhiên khi hạch lớn hơn bướu hoặc hạch
liên tục với bướu thành một khối thì việc phân đònh rạch ròi giữa limphôm nguyên phát và limphôm thứ
phát thật không thể thực hiện được.
Về điều trò: Phẫu thuật đươc dùng để chẩn đoán xác đònh (83% trường hợp), và để điều trò nếu còn có
thể cắt bướu được (72% trường hợp). Hóa trò được chỉ đònh trong 100% trường hợp, với phác đồ chọn là
CHOP.
SUMMARY
PRIMARY GASTROINTESTINAL LYMPHOMA:
DIAGNOSIS AND TREATMENT
Pham Hung Cuong, Pham Xuan Dung, Le Tan Dat * Y Hoc TP. Ho Chi Minh
* Vol. 9 * Supplement of No 1 * 2005: 163 – 171
Having retrospectively studied 18 cases of primary gastrointestinal lymphoma treated at HCMC
Cancer Center from 1999 to 2000, the author noted:
In diagnosis: To have a positive diagnosis, a laparotomy must be performed in most of cases.
Symptoms, signs and imaging techniques are often unable to distinguish lymphoma from carcinoma of
the gastrointestinal tract.The small bowel is the most frequent site, followed by the colon and stomach,

chỉ trong 0,25% các trường hợp. Ngược lại các bướu ở
đường tiêu hóa có thể gặp trong 10 – 15% các trường
hợp lymphôâm không Hodgkin
(16)
.
Lymphôâm không Hodgkin của đường tiêu hóa
chiếm 4 – 20% các trường hợp lymphôâm không
Hodgkin và là vò trí ngoài hạch thường gặp
nhất
(11,20,23)
.
Theo ghi nhận ung thư quần thể năm 1997 tại
Thành phố Hồ Chí Minh, xuất độ chuẩn cho cả hai
giới của lymphôâm không Hodgkin là 1,7/100.000 dân,
đứng hàng thứ 11 trong các loại ung thư thường gặp
tại TpHCM
(6)
. Tại Bệnh viện Ung Bướu TpHCM
đường tiêu hóa là vò trí thường gặp nhất của các
lymphôâm nguyên phát ngoài hạch
(2)
.
Lymphôâm là một bệnh lý nội khoa, nhưng các
lymphôâm nguyên phát đường tiêu hóa lại thường
được chẩn đoán và điều trò đầu tiên tại các khoa
ngoại (do triệu chứng lâm sàng gợi ý đến bệnh lý
bướu của đường tiêu hóa
(11)
). Phác đồ điều trò tối ưu
các lymphôâm này cho đến nay vẫn chưa được xác

+ Đánh giá trước hóa trò không ghi nhận có hạch
trung thất, tủy đồ và phết máu ngoại biên bình
thường.
Tổng cộng có 18 bệnh nhân được chọn.
Phương pháp nghiên cứu
Hồi cứu hồ sơ bệnh án, so sánh các số liệu ghi
nhận với y văn.
KẾT QUẢ
Tuổi
Bảng 1: Phân bố tuổi của nhóm bệnh nhân khảo sát.
11-19 20-29 30-39 40-49 50-59 60-69 70-79 Tổng cộng
3 0 6 2 3 2 2 18
_ Tuổi nhỏ nhất: 16
_ Tuổi lớn nhất: 74
_ Tuổi trung bình: 45 ± 18
164
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

Giới
11
7
Nam
Nữ
Biểu đồ 1: Phân bố giới của nhóm bệnh nhân khảo
sát.
Lâm sàng
Triệu chứng cơ năng
Bảng 2: Các triệu chứng cơ năng.
Các triệu chứng Số lượt

Tất cả đều được thử LDH trước điều trò, có 9
trường hợp kết quả cao hơn bình thường (50%).
Chẩn đoán
Chẩn đoán lâm sàng
Bảng 4: Chẩn đoán lâm sàng trước và sau mổ.
Chẩn đoán sau mổ
Ung thư đại tràng: 3
Ung thư dạ dày: 3
Lymphôâm: 2
Carcinôm tá tràng: 1
Bướu bụng: 3
Tắc ruột hoặc Viêm phúc mạc: 4
Ung thư đại tràng: 4
Ung thư dạ dày: 3
Lymphôâm đường tiêu hóa:
5
Carcinôm tá tràng: 1
Bướu ruột non: 3
1 trường hợp chẩn đoán trước mổ là carcinôm đại
tràng phải, sau mổ lại chẩn đoán là lymphôâm.
3 trường hợp được nội soi chẩn đoán là lymphôm
nguyên phát đường tiêu hóa, 2 không can thiệp phẫu
thuật.
Giải phẫu bệnh
Có 2 trường hợp không xếp loại theo Working
Formulation, kết quả giải phẫu bệnh của các trường
hợp còn lại được trình bày trong Bảng 5.
Bảng 5: Kết quả giải phẫu bệnh theo Working
Formulation.
B. Dạng nang, ưu hế tế bào nhỏ có khía

Hóa trò
Có 2 trường hợp điều trò hóa chất đầu tiên, 15
trường hợp hóa trò bổ túc sau mổ.
17 trường hợp hóa trò với phác đồ CHOP hoặc
CEOP, trong đó 14 trường hợp theo đủ 6 chu kỳ hóa
chất, 3 trường hợp chỉ theo được 2-5 chu kỳ rồi bỏ
điều trò.
3 được điều trò với nhiều phác đồ CHOP, rồi
IMVP-16, ESHAP do tái phát sau điều trò hoặc bệnh
chỉ đáp ứng một phần.
Trong 14 trường hợp điều trò đủ 6 chu kỳ CHOP
có 13 trường hợp được đánh giá đáp ứng hoàn toàn.
Độc tính của hoá trò:
Bảng 7: Độc tính của hóa trò.
Độc tính Số bệnh nhân
Độ 1 2
Độ 2 3
Độ 3 4
Độ 4 3
Các độc tính độ 3-4 (41%) đều là các độc tính
huyết học: giảm bạch cầu, giảm bạch cầu hạt.
Xạ trò
Không có trường hợp nào được chỉ đònh điều trò
xạ.
Kết quả điều trò
1 trường hợp tái phát sau điều trò 2 tháng (cắt ½
đại tràng phải, sau đó hóa trò 6 chu kỳ CHOP, đánh
giá đáp ứng toàn phần).
Tỉ lệ sống còn 4 năm sau điều trò là 64 – 84%.


Chúng tôi ghi nhận tuổi thường gặp là 45 (Bảng
1), tỉ lệ nam/nữ = 1,6 (Biểu đồ 1).
Có sự khác biệt với y văn có thể là do tỉ lệ
lymphôm ruột non trong loạt khảo sát này có tỉ lệ cao
(50%) so với lymphôm đại tràng và dạ dày.
166
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

Lâm sàng
Theo Rosen P.J.
(18)
, đa số bệnh nhân có các triệu
chứng: suy kiệt, buồn nôn và nôn, sụt cân, xuất huyết
tiêu hóa hoặc đau bụng. Có thể khám thấy khối bướu
ở bụng nhưng không thấy hạch ngoại vi lớn.
Theo Crump M.
(11)
, các bệnh nhân có các triệu
chứng lâm sàng chủ yếu gợi ý đến tình trạng bệnh lý
ở đường tiêu hóa, thay đổi tùy theo vò trí bướu như:
đau bụng, buồn nôn và nôn, sụt cân, xuất huyết
tiêu hóa (dạ dày);
đau bụng, bán tắc ruột, sụt cân (ruột non);
đau bụng, xuất huyết tiêu hóa, tiêu chảy (đại
tràng).
Vò trí bướu xảy ra theo thứ tự: dạ dày (55 – 65%),
ruột non (25 – 35%), đại tràng (10 – 15%).
Theo Coit D.G.
(10)

tràng lại là vò trí thường gặp nhất, sau đó mới đến dạ
dày (Bảng 3). Ghi nhận này hoàn toàn khác với ghi
nhận của các tác giả nước ngoài.
Chẩn đoán
+ Chẩn đoán lymphôâm nguyên phát đường tiêu
hóa theo Dawson và cs phải có đủ các tiêu chuẩn
sau
(9,16)
:
Khối bướu ở đường tiêu hóa có giải phẫu bệnh
xác đònh là lymphôâm.
Hạch ngoại vi, gan, lách không to.
Không ghi nhận hạch trung thất trên phim x
quang hoặc CT ngực.
Phết máu ngoại biên và tủy đồ bình thường.
Theo Yoon S.S. và cs
(23)
, phân biệt giữa lymphôm
nguyên phát đường tiêu hóa giai đoạn trễ với
lymphôm không Hodgkin có biểu hiện thứ phát ở
đường tiêu hóa không phải lúc nào cũng dễ dàng. Do
vậy nhiều tác giả chấp nhận chẩn đoán lymphôm
nguyên phát đường tiêu hóa khi (1) bệnh nhân có
biểu hiện lâm sàng bệnh lý ở đường tiêu hóa và (2) có
giải phẫu bệnh xác đònh ở sang thương đường tiêu
hóa là lymphôm.
+ Theo Rosen P.J.
(18)
, qua x quang và nội soi
lymphôâm nguyên phát ở dạ dày có thể bò chẩn đoán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status