PHÂN TÍCH nội DUNG, QUY LUẬT QUAN hệ sản XUẤT PHÙ hợp với TRÌNH độ PHÁT TRIỂN của lực LƯỢNG sản XUẤT ĐẢNG TA đã NHẬN THỨC và vận DỤNG QUY LUẬT này NHƯ THẾ nào TRONG GIAI đoạn HIỆN NAY - Pdf 10

MỤC LỤC
A. Đặt vấn đề……………………………………………………… 2
B. Nội dung……………………………………………………… 3
I. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất – hai mặt thống nhất của
nền sản xuất xã hội…………………………………………………… 3
1. Các khái niệm…………………………………………………… 3
1.1. Lực lượng sản xuất……………………………………………… 3
1.2. Quan hệ sản xuất……………………………………………… 4
2. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất………………………………………………… 5
2.1. Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất………………. 5
2.2. Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất………… 6
II. Sự vận dụng quy luật đó trong quá trình đổi mới ở Việt Nam…. 7
1. Bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam………………………………… 7
2. Đảng nhận thức và vận dụng quy luật như thế nào? 7
2.1. Nhận thức và vận dụng………….………………………………. 7
2.2. Những thành tựu và hạn chế…………………………………… 9
2.2.1. Thành tựu……………………………………………………. 9
2.2.2. Hạn chế…………………………………………………… 11
C. Kết luận…………………………………………………………12
Tài liệu tham khảo……………………………………………… 13
PHÂN TÍCH NỘI DUNG, QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ
HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN
XUẤT. ĐẢNG TA ĐÃ NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG QUY LUẬT
NÀY NHƯ THẾ NÀO TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cho đến nay, con người đã trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội: công xã
nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, chủ nghĩa tư bản, và chủ
nghĩa xã hội. Ứng với mỗi hình thái kinh tế - xã hội đó là những phương thức
sản xuất khác nhau. Phương thức sản xuất bao gồm lực lượng sản xuất (LLSX)

văn hóa, xã hội. Phương thức sản xuất do hai mặt kết hợp thành là LLSX và
QHSX. Trong đó LLSX là nội dung còn QHSX là hình thức của phương thức
sản xuất.
1.1. Lực lượng sản xuất:
LLSX biểu hiện mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên. Nghĩa là
trong quá trình sản xuất, bằng các khả năng thực tiễn của mình, con người khai
thác giới tự nhiên tạo ra sản phẩm càn thiết cho đời sống.
LLSX là sự kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất:
Người lao động là yếu tố đầu tiên, là chủ thể của quá trình sản xuất.
Người lao động với sức mạnh và kỹ năng của mình, sử dụng tư liệu lao động,
trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra
của cải vật chất.
Tư liệu sản xuất gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động:
- Tư liệu lao động gồm công cụ lao động và những phương tiện, vật liệu
khác dùng để tăng cường, hỗ trợ cho công cụ lao động tác động tác động lên đối
tượng. Tư liệu lao động được coi là cánh tay thứ hai của con người. Nó kéo dài
và tăng cường sức mạnh thế giới quan con người. Trong đó, công cụ lao động là
yếu tố động nhất đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc biến đổi tự nhiên.
Chính sự chuyển đổi cải tiến và hoàn thiện không ngừng của nó đã gây lên
những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất.
- Đối tượng lao động là toàn bộ những khách thể tự nhiên hoặc những
vật liệu tự nhiên đã được con người làm biến đổi nhưng chưa thành sản phẩm.
Dưới sự tác động của con người, chúng có thể biến thành sản phẩm đáp ứng
nhu cầu con người.
Những yếu tố nói trên của LLSX liên hệ chặt chẽ với nhau và chỉ có ở
trong sự kết hợp đó chúng mới là LLSX. Còn trong sự tách rời nhau, chúng chỉ
3
là LLSX ở dạng tiềm năng. Trong những yếu tố của lực lượng sản xuất, thì con
người lao động giữ vai trò quyết định. Vì con người không những tạo ra LLSX
mà còn sử dụng nó.

Các hệ thống QHSX ở mỗi giai đoạn lịch sử đều tồn tại trong một
phương thức sản xuất nhất định. Hệ thống QHSX thống trị của mỗi hình thái
kinh tế-xã hội quyết định tính chất, bộ mặt hình thái kinh tế – xã hội ấy.
4
2. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất.
LLSX và QHSX có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau hình thành nên quy
luật về sự phù hợp giữa QHSX với tính chất và trình độ phát triển của LLSX.
Quy luật này vạch rõ tính chất phụ thuộc khách quan của QHSX vào sự phát
triển của LLSX, đồng thời QHSX cũng tác động trở lại LLSX.
2.1. Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất
Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi và
phát triển. Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát
triển của LLSX, trước hết là công cụ lao động.
Trình độ của LLSX là trình độ phát triển của công cụ lao động, của kỹ
thuật, trình độ kinh nghiệm, kỹ năng của người lao động, quy mô sản xuất, trình
độ phân công lao động Trình độ của LLSX gắn với tính chất của nó.
Tính chất của LLSX: Khi sản xuất ở trình độ thấp kém thì lực LLSX có
tính chất cá nhân. Khi sản xuất đạt tới trình độ cơ khí hiện đại, phân công lao
động xã hội phát triển thì LLSX có tính chất xã hội hóa.
Trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao
hơn, con người luôn luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao động và chế
tạo ra những công cụ lao động mới, tinh xảo hơn, đồng thời kinh nghiệm sản
xuất, thói quen lao động, kỷ năng sản xuất, kiến thức khoa học của con người
cũng tiến bộ theo.
Như vậy, sự thay đổi của xã hội bao giờ cũng bắt đầu bằng sự thay đổi
LLSX. Cùng với sự phát triển của LLSX, QHSX cũng hình thành và biến đổi
cho phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX . Sự phù hợp đó là động lực
làm cho LLSX phát triển mạnh mẽ.
Vậy thế nào là phù hợp?

hội, phương thức phân phối sản phẩm và phần của cải ít hay nhiều mà người lao
động được hưởng. Từ đó, nó sẽ tạo ra những điều kiện để kích thích việc cải
tiến lao động và kỹ thuật sản xuất, LLSX phát triển.
Thực tiễn đã cho chúng ta thấy rằng LLSX chỉ có thể phát triển khi có
một QHSX hợp lý, đồng bộ, phù hợp với nó. QHSX lạc hậu hoặc “tiên tiến”
hơn một cách giả tạo cũng sẽ kìm hãm sự phát triển của LLSX. Quy luật về sự
phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của LLSX là quy luật chung nhất
của sự phát triển xã hội. Sự tác động của quy luật này đã đưa xã hội loài người
trải qua các phương thức sản xuất khác nhau. Tuy nhiên không phải bất cứ nước
nào cũng nhất thiết phải tuần tự trải qua tất cả các phương thức sản xuất … một
số nước có thể bỏ qua hoặc một số phương thức sản xuất để tiến lên phương
thức sản xuất mới cao hơn.
6
II. Đảng nhận thức và vận dụng quy luật này trong quá trình đổi mới ở
Việt Nam
1. Bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam
Từ năm 1975, sau khi giành được độc lập và thống nhất đất nước, chúng
ta đã đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa nửa phong kiến với LLSX ở
trình độ còn thấp và tiềm năng mọi mặt còn non trẻ, nền kinh tế gặp nhiều khó
khăn, phát triển trì trệ.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định “… nắm bắt thời cơ, vượt
qua thách thức, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa…”.
Đất nước ta đang trên đà phát triển, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá tạo
nên tiền đề vật chất xây dựng nền kinh tế dân tộc tự chủ, làm cơ sở vững chắc thực
hiện sự phân công và hợp tác kinh tế quốc tế, tạo điều kiện củng cố quốc phòng,
an ninh.
Thêm vào đó, Việt Nam đang đứng trước thềm hội nhập với nền kinh tế
quốc tế, xu thế toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan, hứa hẹn nhiều tiềm
năng to lớn cũng như thách thức:
Trở thành thành viên thứ 150 của WTO (07/11/2006)

Đại hội Đảng VI (12/1986) là một mốc thời gian quan trọng, đánh dấu
bước chuyển mình phát triển của đất nước ta: xoá bỏ chế độ bao cấp sản phẩm,
bãi bỏ sự cấm đoán phát triển kinh tế thị trường, sự phát triển yếu ớt của đời
sống xã hội được thay thế bằng sự hội nhập với thế giới, quan tâm và chú trọng
phát triển đời sống của nhân dân…
Đại hội VII (6/1991), Đại hội VIII (6/1996), Đại hội IX (4/2001) đã tiếp
tục khẳng định, bổ sung và hoàn thiện các chủ trương, chính sách đổi mới kinh
tế - xã hội: phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần dưới sự quản lí của
Nhà nước và theo định hướng XHCN; điều chỉnh cơ cấu các ngành kinh tế; đổi
mới cơ chế quản lý; ứng dụng những thành tựu khoa học – kĩ thuật tiên tiến trên
thế giới, đổi mới về công cụ lao động và chính sách quản lý kinh tế - xã hội, mở
rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, cải thiện đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân.
Trong quá trình công nghiệp hoá (CNH) - hiện đại hoá (HĐH) đất nước,
chúng ta phải có tiềm lực về kinh tế, con người, trong đó LLSX là yếu tố vô
cùng quan trọng. Với tiềm năng lao động lớn nhưng công cụ lao động lại thô sơ
lạc hậu, trình độ khoa học – kĩ thuật còn kém phát triển, CNH-HĐH đứng trước
khó khăn lớn cần nhanh chóng khắc phục. Đảng ta đã thực hiện một cơ cấu sở
hữu hợp quy luật, gắn liền với một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lí, đưa đất
nứoc ta từng bước thoát khỏi tình trạng khó khăn ấy. Và trong thời cơ cũng như
thách thức to lớn hiện nay, đất nước ta đang có rất nhiều tiềm năng phát triển,
mà cốt lõi của sự phát triển ấy là sự phù hợp giữa LLSX và QHSX.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng với những đường lối đúng đắn, mục tiêu
CNH-HĐH đất nước đang được nỗ lực thực hiện và đã đạt được nhiều thành
tựu đáng kể. Cùng với nó vẫn là những khó khăn, hạn chế song tương lai phát
triển của đất nước vẫn mang nhiều yếu tố khả quan.
8
2.2 Những thành tựu và hạn chế
2.2.1. Thành tựu
Vận dụng quy luật về sự phù hợp giữa LLSX và QHSX, sau 20 năm đổi

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ: chuyển từ khu vực I
(Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản) sang khu vực II (công nghiệp - xây
dựng) và khu vực III (dịch vụ), chuyển từ khu vực quốc doanh, hợp tác xã sang đa
9
thành phần và chuyển theo hướng hình thành 3 vùng kinh tế trọng điểm ở 3 miền
Bắc- Trung- Nam.
- Đẩy lùi lạm phát: 1986: 774,7%; 1990: 67,4%; 1995: 12,7%; 1997:
3,7%; 1999: 0,1%.
- Kinh tế đối ngoại phát triển nhanh: kim ngạch xuất khẩu 1996: 882,9
triệu USD; 2001: 15,027 tỉ USD; Nhập khẩu: 2,16 tỉ USD (1986); 16,162 tỉ
USD (2001).
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank) ra ngày 15/11/2007,
trong phần về Việt Nam nhận định: tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2007
vẫn vững chắc chủ yếu nhờ nguồn thu từ xuất khẩu phi dầu khí, đầu tư và tiêu
dùng tư nhân. GDP tăng 8,3% trong 9 tháng đầu năm 2007, trong đó ngành chế
tạo và công nghiệp tăng tương ứng 12,5% và 10,2%. Tăng trưởng nông nghiệp
đạt mức 3%, trong đó ngành thủy sản tăng trưởng kỷ lục ở mức 9%. Ngành dịch
vụ đạt tỷ lệ tăng trưởng cao trong 9 tháng qua (ở mức 8,5%) nhờ sự phát triển
mạnh của ngành bán lẻ, du lịch, giao thông và dịch vụ tài chính. Báo cáo cũng
cho biết: cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng lên 10,2 tỉ đô la năm
2006 và 9,6 tỉ đô la trong 9 tháng đầu năm 2007, tăng 38% so với năm ngoái.
Cam kết FDI đã tăng nhanh sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Tỷ lệ giải ngân
FDI tăng 20% đến tháng 9/2007, chiếm khoảng 6,8% GDP.
- Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt: lao
động có việc tăng tăng nhanh, mỗi năm tạo 1,3 triệu việc làm mới, thu nhập
bình quân đầu người đạt gần 400 USD/năm . Số hộ giàu tăng > 10%; số hộ
nghèo giảm 55% (1989) còn 11,4% (2000).
Những thành tựu tăng trưởng và ổn định hoá kinh tế, tình hình xã hội đã
được cải thiện rất nhiều. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm mỗi năm 1‰ và giữ
mức bình quân 2,1%/ năm, giảm so với thời kỳ trước (2,3%) nhưng vẫn cao hơn

Hạn chế trong nền kinh tế xã hội nước ta còn nhiều. Nguyên nhân của
những yếu kém đó là do hậu quả của nhiều năm trước để lại khi không hiểu rõ
mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, sự phù
hợp mang tính tất yếu của chúng, đồng thời những bất lợi của tình hình thế giới
hiện nay và những khuyết điểm còn mang tính chủ quan duy ý chí trong công
tác lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.
11
C. KẾT LUẬN
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất là quy luật phổ biến trong toàn bộ tiến trình lịch sử của nhân loại. Sự
thay thế, phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thuỷ, qua
chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chủ nghĩa tư bản và đến chủ nghĩa
xã hội là do sự tác dộng của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật
QHSX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX là quy luật cơ bản
nhất
Trên thực tế không thể có sự phù hợp tuyệt đối giữa QHSX và LLSX
nhưng phải tuỳ theo tình hình thực tế mà chọn giải pháp phù hợp. Đảng và Nhà
nước cần phải nhận thức đúng và vận dụng tốt quy luật đó. Sự vận dụng đúng
đắn của Đảng và Nhà nước sẽ đem lại thành tựu vô cùng to lớn cho nền kinh tế
- xã hội nước ta, hoàn thành tốt mục tiêu phát triển đất nước.
Đổi mới đất nước theo nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là quyết
định phù hợp với lí luận và thực tiễn của Đảng và Nhà nước ta. Những kết quả
do cong cuộc đổi mới mang lại có ý nghĩa vô cùng to lớn, góp phần tăng cường
cơ sở vật chất cho CNXH, phát triển mạnh mẽ LLSX, hoàn thiện QHSX
XHCN. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, cong cuộc đổi mới
vẫn còn tồn tại một số khó khăn. Tìm ra nguyên nhân của những hạn chế, yếu
kém, đưa ra được giải pháp thích hợp đang là vấn đề được Đảng và nhân dân ta
quan tâm thực hiện nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của quá trình đổ mới.
Xây dựng và phát triển đất nước là nhiệm vụ của cả dân tộc. Mỗi người
dân phải tự biết mình phải làm gì trong quá trình này thì nước ta mới có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status