Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đến quý Thầy Cô trong khoa Lý Luận Chính Trị, Trường Đại
học Khoa học đã hướng dẫn, truyền đạt kiến thức cho em trong bốn năm
học vừa qua. Đặc biệt là cô giáo Thạc sỹ Thái Thị Khương đã tận tình
giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt quá trình viết và hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp.
Em xin cảm ơn UBND tỉnh Quảng Bình, thư viện, trung tâm học
liệu đã tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành tốt khóa luận.
Qua đây, em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình và bạn bè đã
động viên giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận này. Với vốn kiến thức
được tiếp thu trong quá trình học tập không chỉ là nền tảng cho quá
trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để em bước
vào đời một cách vững chắc và tự tin hơn.
Cuối cùng em xin kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và
thành công trong sự nghiệp trồng người.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Hiền
SVTH: Nguyễn Thị Hiền
1
Khóa luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1. Mục đích 4
3.2. Nhiệm vụ 4
2.3 Thực trạng và giải pháp của nền kinh tế Quảng Bình hiện nay 52
2.3.1. Thực trạng của nền kinh tế Quảng Bình từ năm 2000 – 2010 52
2.3.2. Một số giải pháp về kinh tế ở Quảng Bình hiện nay 59
Tiểu kết chương 2: 65
KẾT LUẬN 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
SVTH: Nguyễn Thị Hiền
3
Khóa luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
C. Mác và Ph. Ăngghen đã có những cống hiến hết sức vĩ đại cho
nhân loại ngày nay và một trong những cống hiến đó là đã mở rộng thế giới
quan duy vật biện chứng vào lĩnh vực xã hội. Đem lại sự nhận thức xã hội
trong chỉnh thể và phát hiện ra những quy luật vận động, phát triển phổ
biến của lịch sử xã hội bởi học thuyết hình thái kinh tế xã hội.
Sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội, tức quá trình phát triển
có quy luật của xã hội loài người nói chung khi được phản ánh dưới hình
thức hệ thống các khái niệm, quy luật và các quan niệm thì đem lại cho
chúng ta lý luận về quá trình đó. Đây là hình ảnh lý luận là cái cụ thể trong
tư duy và quá trình phát triển tất yếu của xã hội loài người nói chung. Các
nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã cho thấy mặt lý luận của học thuyết hình
thái kinh tế xã hội có nội dung rất rộng, bao gồm rất nhiều yếu tố hợp
thành, nhưng có thể quy về ba quan niệm hay ba yếu tố lớn là khái niệm
hình thái kinh tế xã hội, quan niệm về quá trình lịch sử tự nhiên, tức là sự
phát triển của các hình thái kinh tế xã hội, quan niệm về mối liên hệ giữa
quá trình lịch sử - tự nhiên và sự đa dạng của lịch sử. Trong những quan
niệm này, quan niệm về quá trình lịch sử - tự nhiên với yếu tố đặc trưng nổi
bật của nó là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất, là quan niệm cơ bản nhất.
Vấn đề học thuyết hình thái kinh tế xã hội nói chung và quy luật quan
hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nói riêng
là vấn đề hết sức quan trọng đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đặc
biệt là đối với vấn đề phát triển kinh tế. Góp phần làm nền tảng lý luận,
định hướng phát triển kinh tế, đưa ra những con đường, những giải pháp
phù hợp cho việc hoàn thiện nền kinh tế theo hướng công nghiệp, hóa hiện
đại hóa đất nước.
Vì vậy mà đã có rất nhiều nhà nghiên cứu Mác xít quan tâm, tìm hiểu,
đưa ra những lý luận duy vật về hình thái kinh tế xã hội đặc biệt là về quy
SVTH: Nguyễn Thị Hiền
5
Khóa luận tốt nghiệp
luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất. Họ đã có những công trình nghiên cứu được đông đảo mọi người
quan tâm, chúng ta không thể kể hết những công trình đó mà chỉ có thể nêu
một số nghiên cứu gần đây mà chúng ta thường nhắc đến:
Với tác phẩm: “ Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội và lý
luận về con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở nước ta” Nxb Chính Trị
Quốc Gia, Hà Nội, 2005. Chủ biên: Tiến sĩ Phạm Văn Chung đã tập trung
xem xét nội dung khoa học của học thuyết Mác về hình thái kinh tế xã hội
và mối liên hệ hữu cơ của nó đối với lý luận về con đường phát triển chủ
nghĩa xã hội ở nước ta. Từ việc nghiên cứu học thuyết Mác về hình thái
kinh tế - xã hội, cuốn sách xác định hai phương diện là lý luận và phương
pháp luận của học thuyết và chỉ ra một cách cụ thể vai trò phương pháp
luận của học thuyết này đối với việc xác định nội dung khoa học của lý
luận về con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, thông qua luận giải một số
vấn đề lý luận cấp bách.
Trong tác phẩm: “Xây dựng quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ
nghĩa và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ở Việt Nam”, của Lương Xuân
Quỳ, nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội. Đề cập đến hệ quan điểm,
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về học thuyết hình thái
kinh tế xã hội đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Nêu ra được những đặc điểm cũng như
thực trạng và giải pháp của tỉnh Quảng Bình trong sự vận dụng quy luật đó.
3.2. Nhiệm vụ
Để hoàn thành mục đích trên sinh viên thực hiện đề tài này có nhiệm vụ:
* Nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất, làm rõ tác động qua lại giữa chúng.
* Nêu ra những nội dung cơ bản của học thuyết hình thái kinh tế xã hội
và những quy luật trong đó. Qua đây thấy được ý nghĩa của việc vận dụng học
SVTH: Nguyễn Thị Hiền
7
Khóa luận tốt nghiệp
thuyết hình thái kinh tế xã hội nói chung, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ của lực lượng sản xuất nói riêng vào phát triển kinh tế Quảng Bình.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Đề tài này được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin về học thuyết hình thái kinh tế xã hội, đồng thời dựa trên nền tảng tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con
đường phát triển đi lên CNXH.
4.2. Phương pháp
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra còn vận dụng các phương
pháp cụ thể như: Phân tích - tổng hợp, lôgic - lịch sử, liệt kê, so sánh và các
phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội khác.
5. Đóng góp của đề tài
Trong phạm vi là một bài khóa luận tốt nghiệp, người thực hiện đề tài
bất kì mà là những yếu tố được hình thành một cách tất yếu, lặp đi lặp lại
trong những xã hội cụ thể. Ở đây, chúng ta sẽ bàn đến mối quan hệ biện
chững giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất để thấy được sự tác
động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố và sự vận động, phát triển một cách
tự nhiên.
Đầu tiên là khái niệm lực lượng sản xuất: Theo định nghĩa trong sách
giáo trình Triết học Mác - Lênin đã viết: ”Lực lượng sản xuất là năng lực
thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người nhằm đáp ứng nhu cầu đời
sống của mình”.
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp người lao động và tư liệu sản xuất,
trong đó “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân,
SVTH: Nguyễn Thị Hiền
9
Khóa luận tốt nghiệp
là người lao động”. Chính người lao động là chủ thể của quá trình lao động
sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao
động, trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để
sản xuất ra của cải vật chất.
Xã hội tồn tại và phát triển được là nhờ có sản xuất vật chất và lịch sử
loài người là lịch sử của các phương thức sản xuất kế tiếp nhau. Mỗi chế độ
xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất khác nhau.Vì vậy
mà phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản
xuất trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Phương thức sản xuất là sự
thống nhất biện chứng hai mối quan hệ của con người, thứ nhất là quan hệ
giữa con người với tự nhiên, thứ hai là quan hệ giữa người với người. Hai
mối quan hệ trên thống nhất biện chứng trong một quá trình sản xuất được
gọi là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Nhưng lúc đầu Mác chưa dùng thuật ngữ “lực lượng sản xuất” mà gọi
là “sức sản xuất”. Ông cho rằng: “sức sản xuất” không phải là cái “bản chất
tinh thần” nào đó mà đó là sức mạnh vật chất. Mác viết “Để xua tan vầng
thực chất là quá trình nạp nhu cầu vào đối tượng. Trong chiều hướng đó
của hoạt động sống, con người phải thay đổi nhu cầu của mình sao cho phù
hợp với đối tượng, có như thế nhu cầu của họ mới được thỏa mãn. Nhưng
việc thõa mãn nhu cầu và sự tăng thêm càng nhiều cá thể trong bầy, đã làm
cho lượng cầu của con người gia tăng nhanh chóng. Trong tương quan với
sự gia tăng như thế về lượng cầu, thì lĩnh vực giới tự nhiên làm thành môi
trường sống của con người trở nên nghèo đi cùng với tốc độ tương ứng, và
đến mức độ nhất định thì giới tự nhiên với những sản vật sẵn có của nó sẽ
không còn đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của họ. Lúc này, hoạt
động sống của con người vẫn cứ tiếp diễn theo những quá trình, song có
chiều hướng ngược lại, nạp đối tượng vào nhu cầu. Trong chiều hướng này
của hoạt động sống, nhu cầu của con người chỉ được thõa mãn, khi đối
tượng thay đổi sao cho phù hợp với nhu cầu và để đối tượng trở nên phù
hợp với nhu cầu của mình thì con người chỉ còn một cách duy nhất là tích
cực tác động vào nó từ lao động. Bằng lao động và thông qua lao động, con
SVTH: Nguyễn Thị Hiền
11
Khóa luận tốt nghiệp
người sản xuất ra đời sống vật chất - một đời sống do chính con người tạo
ra cho mình, khác về chất so với đời sống chỉ biết lợi dụng những gì có sẵn
trong tự nhiên của họ ở thời đại bầy đàn.
Qua đây ta có thể hiểu lực lượng sản xuất biểu hiện quan hệ giữa
người và giới tự nhiên. Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện trình độ
chinh phục tự nhiên của loài người. Đó là kết quả của năng lực thực tiễn
của con người trong quá trình tác động vào tự nhiên tạo ra cả cải vật chất
bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của loài người. Mác viết: “Lực lượng
sản xuất là cơ sở của toàn bộ lịch sử con người bởi vì mọi lực lượng sản
xuất đều là lực lượng được tạo ra, đều là sản phẩm của hoạt động trước đó.
Như thế, lực lượng sản xuất là kết quả của nghị lực thực tiễn của con
người, nhưng bản thân nghị lực ấy lại được chế định bởi những điều kiện
lượng sản xuất có liên quan tới việc đưa những đối tượng lao động ngày
càng mới hơn vào quá trình sản xuất. Điều đó hoàn toàn có tính quy luật,
bởi chính những vật liệu mới mở rộng khả năng sản xuất của con người.
Con người là yếu tố năng động nhất, quyết định lực lượng sản xuất. Bởi vì
chỉ có yếu tố con người mới có trí tuệ và cũng chỉ có con người mới có
năng lực tự phát triển và tự hoàn thiện bản thân mình. Người lao động
không chỉ sinh con, tái sản xuất ra sức lao động, mà còn luôn nâng cao chất lượng
của lao động bằng con đường kế thừa các yếu tố xã hội và phát triển chúng.
Ngày nay, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền sản xuất hiện đại
đòi hỏi con người phải phát triển cao hơn về trí tuệ , khỏe mạnh về thể chất,
giàu có về tinh thần, trong sáng về đạo đức. Trong đó, trí tuệ không phải là
những tri thức trừu tượng mà trước hết phải có năng lực chuyên môn được
đào tạo. Thể chất không chỉ đơn giản là cường tráng về thể lực mà còn bao
hàm trong đó cả sự phát triển tốt về trí lực, hơn nữa cùng với việc phát triển
sức lao động và tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhân tố trí lực chiếm tỷ lệ ngày
càng cao, vai trò của người lao động trí óc ngày càng lớn và rõ rệt. Vì vậy
mà có thể nói rằng, con người là chủ thể quyết định mọi quá trình vận động
và phát triển lịch sử.
SVTH: Nguyễn Thị Hiền
13
Khóa luận tốt nghiệp
Còn tư liệu lao động là vật hay là phức hợp vật thể mà con người đặt
giữa mình với đối tượng lao động, chúng dẫn truyền tích cực sự tác động
của con người vào đối tượng lao động. Đối tượng lao động và tư liệu lao
động là những yếu tố vật chất của quá trình lao động sản xuất hợp thành tư
liệu sản xuất. Vì thế mà trong tác phẩm: “Hệ tư tưởng Đức” ta bắt gặp
những dòng: “Có thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, bằng tôn
giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu
bằng tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những
tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con
những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất
của mình và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình,
loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình. Cái cối xay quay
bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa
lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp” [10,15].
Tiếp theo, đối tượng lao động là những yếu tố tự nhiên mà lao động
của con người tác động vào nhằm làm biến đổi nó cho phù hợp với mục
đích của con người. Đối tượng lao động gồm hai loại cơ bản:
Thứ nhất, loại sẵn có trong tự nhiên: tức là con người chỉ cần dùng sức
lao động của mình tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra những sản phẩm
đáp ứng cho nhu cầu của mình và cho xã hội.
Thứ hai, loại đối tượng lao động do con người sáng tạo ra từ những sự
vật do tự nhiên cung cấp. Những thứ đó không có sẵn trong tự nhiên như
vậy mà phải thông qua sự cải tạo, chế biến của con người. Do trí tưởng
tượng cũng như sự thông minh của con người mà những sản phẩm làm ra
ngày một phong phú, đa dạng.
Giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất có sự tác động biện chứng. Sự
hoạt động của tư liệu lao động phụ thuộc vào trí thông minh, sự hiểu biết,
kinh nghiệm của con người. Hơn nữa, con người không chỉ sử dụng công
cụ hiện có mà còn sáng chế ra những tư liệu lao động mới. Những tư liệu
lao động này là lực lượng vật chất của tri thức con người. Những tri thức
SVTH: Nguyễn Thị Hiền
15
Khóa luận tốt nghiệp
khoa học, những kinh nghiệm, thói quen của con người đều cần thiết để
hoàn thiện kỹ thuật và phương pháp sản xuất.
Như vậy, sự phát triển của lực lượng sản xuất vào sự phát triển của tư
liệu lao động, thích ứng với bản thân con người, với sự phát triển văn hóa,
khoa học, kỹ thuật của họ. “Năng suất lao động xã hội là thước đo trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Đồng thời xét đến cùng nó là nhân tố
đại. Lực lượng sản xuất chính là cơ sở vật chất của hình thái kinh tế xã hội.
1.1.2. Khái niệm quan hệ sản xuất
Lý luận hình thái kinh tế xã hội của C. Mác đã chỉ rõ: Xã hội không
phải là sự kết hợp ngẫu nhiên các mặt, các yếu tố với nhau theo ý muốn chủ
quan mà là một hệ thống, trong đó các mặt, các yếu tố thống nhất với nhau,
tác động qua lại lẫn nhau và không ngừng tác động qua lại với tự nhiên.
Trong hệ thống các quan hệ xã hội hết sức phức tạp đó, C. Mác đã chỉ
ra và khẳng định quan hệ sản xuất là quan hệ khởi thủy, cơ bản của xã hội,
được hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất và là cơ sở
của các quan hệ xã hội khác, quy định tính độc đáo của mỗi chế độ xã hội
trong lịch sử nhân loại, là tiêu chuẩn khách quan để phân chia xã hội này
với xã hội khác. Trong “lao động làm thuê và tư bản” C.Mác viết: “Tổng
hợp lại thì những quan hệ sản xuất hợp thành cái mà người ta gọi là những
quan hệ xã hội, là xã hội và hơn nữa hợp thành một xã hội ở vào một giai
đoạn nhất định, một xã hội có tính chất độc đáo riêng biệt. Xã hội cổ đại,
xã hội phong kiến, xã hội tư sản đều là những tổng thể quan hệ sản xuất
như vậy, mỗi tổng thể đó đồng thời lại đại biểu cho một giai đoạn phát triển
đặc thù trong lịch sử nhân loại” [11, 553]. Trong tác phẩm: “ Hệ tư tưởng
Đức” đã hình thành những khái niệm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử
như phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng, kiến trúc
thượng tầng, ý thức xã hội, hệ tư tưởng, chế độ xã hội, đồng thời đem đối
lập quan niệm duy vật về lịch sử với quan niệm duy tâm về lịch sử. Cũng
trong tác phẩm này, C.Mác và Ph.Ăngghen hiểu quan hệ sản xuất như quan
hệ được hình thành về mặt lịch sử giữa người với người trong quá trình sản
xuất, quan hệ sản xuất được quy định của chế độ nhà nước và thượng tầng
SVTH: Nguyễn Thị Hiền
17
Khóa luận tốt nghiệp
tư tưởng: “Hình thức giao tiếp cái mà trong tất cả các giai đoạn lịch sử từ
trước đến nay đều được quyết định bởi lực lượng sản xuất và đến lượt nó
sản xuất” [11,552].
Vấn đề quan hệ sản xuất được C. Mác phân tích trong mối liên hệ với
các lĩnh vực của đời sống xã hội, với logic của sự phát triển của lịch sử, với
các tư tưởng và thiết chế chính trị, đồng thời rút ra từ những yếu tố chủ
đạo, căn bản nhất. Cơ sở của quan hệ sản xuất là những quan hệ kinh tế
hiện thực về sở hữu, phân phối và sự chiếm hữu kết quả lao động, ở đó làm
nổi bật vai trò của chủ thể lợi ích kinh tế. Theo C. Mác, việc hiểu được
quan hệ trực tiếp của những chủ sở hữu các điều kiện sản xuất cho phép
vạch ra bản chất của một chế độ xã hội.
Thông qua đây, C.Mác cũng chứng minh tính khách quan của các
quan hệ sản xuất ở chỗ:
Thứ nhất: Chúng hình thành ở một trình độ nhất định của lực lượng
sản xuất và phù hợp với lực lượng sản xuất.
Thứ hai: Các mối liên hệ và quan hệ kinh tế của con người trong quá
trình sản xuất vật chất không lệ thuộc vào ý muốn chủ quan của họ, mà vào
tính chất của phương tiện sản xuất và sở hữu.
Thứ ba: Chúng không lệ thuộc vào các dự án và các mục tiêu định sẵn
trong đầu con người mà ngược lại.
Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế cơ bản của một hình thái kinh tế
xã hội. Mỗi kiểu quan hệ sản xuất tiêu biểu cho bản chất kinh tế của một
hình thái kinh tế xã hội nhất định. Quan hệ sản xuất bao gồm những mặt
sau đây:
Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất.
Quan hệ quản lý và phân công lao động.
Quan hệ phân phối sản phẩm lao động.
Trong ba mặt của quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất
là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, đặc trưng cho quan hệ sản xuất trong
từng xã hội. Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định quan hệ về tổ
SVTH: Nguyễn Thị Hiền
19
20
Khóa luận tốt nghiệp
hội chủ nghĩa, những quan hệ sản xuất này cấu thành và tương ứng với
những kiểu kết cấu kinh tế xã hội, tức những hình thái kinh tế xã hội.
Xét về mặt nội dung thì kinh tế xã hội là tổng hòa các quan hệ sản
xuất. Trong bất kì một kết cấu kinh tế xã hội nào hoàn toàn không phải chỉ
tồn tại một quan hệ sản xuất mà ngược lại rất nhiều quan hệ sản xuất cùng
tồn tại, chúng ảnh hưởng và tác động qua lại với nhau.
Chẳng hạn, trong xã hội phong kiến ngoài chế độ sở hữu ruộng đất
phong kiến chiếm vị trí thống trị còn tồn tại những tàn dư của chế độ nô lệ.
Hậu kì của chế độ phong kiến còn có sự manh nha của quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa. Hoặc trong xã hội Trung Quốc đương đại không chỉ có quan
hệ sản xuất công hữu đóng vai trò chủ đạo mà còn có cả quan hệ sản xuất
phi công hữu (không đóng vai trò chủ đạo), chúng cấu thành kết cấu kinh tế
xã hôi Trung Quốc đương đại.
Trong tác phẩm: “ Những “người bạn dân” là thế nào” …Lênin đã
đánh giá vai trò của quan hệ sản xuất cũng như ý nghĩa phương pháp luận
được rút ra. Theo Lênin, trong xã hội mặt cơ bản là các quan hệ sản xuất,
việc nêu ra quan hệ sản xuất vật chất như là các quan hệ cơ bản và chủ đạo
cho phép khám phá ra những quy luật phát triển của xã hội. Việc nhấn
mạnh quan hệ sản xuất vật chất khắc phục sự hòa lẫn bản chất và hiện
tượng, vạch ra các tiêu chí cơ bản để phân định ranh giới giữa các hiện
tượng cơ bản và các hiện tượng không cơ bản của đời sống xã hội là rất cần
thiết.
Nói chung, quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong
quá trình sản xuất. Vấn đề quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất như đã nói ở
trên là quyết định quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phối
sản phẩm và nhiều quan hệ khác.
Quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất: Đây là quan hệ nói lên rằng trong
quá trình sản xuất thì ai là người quyết định việc tổ chức, quản lý trong quá
tiếp nhận.
Phân phối sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất theo
nghĩa rộng. Trong quan hệ phân phối, những tính chất và hình thức phân
SVTH: Nguyễn Thị Hiền
22
Khóa luận tốt nghiệp
phối, quy mô thu nhập của các giai cấp, các tập đoàn xã hội khác nhau đều
phụ thuộc vào quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất và quan hệ quản lý. Ba yếu
tố trên đây của quan hệ sản xuất hoạt động trong mối liên hệ và tác động
lẫn nhau rất mật thiết, tạo thành một cơ cấu, một hệ thống quan hệ sản xuất.
Các hệ thống quan hệ sản xuất ở mỗi giai đoạn lịch sử đều tồn tại trong một
phương thức sản xuất nhất định. Hệ thống quan hệ sản xuất thống trị trong
mỗi hình thái kinh tế xã hội quyết định tính chất và bộ mặt hình thái kinh tế
xã hội.
Vì vậy, khi nghiên cứu xem xét tính chất của một hình thái kinh tế xã
hội nào thì không thể nhìn ở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mà
còn phải xét đến tính chất của quan hệ sản xuất.
1.3. Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
1.2.1. Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất
Khi nhân loại đã đi được một chặng đường nhất định trên con đường
tiến hóa của mình thì một câu hỏi đặt ra buộc các nhà triết học phải suy
nghĩ: Cái gì quyết định sự phát triển của lịch sử?
Nhiều nhà tư tưởng của các thế hệ trong lịch sử đã lần lượt đưa ra kiến
giải của mình, cho đến giữa thế kỷ trước, lịch sử vẫn như một đám mây
mù, bởi lẽ lịch sử là hoạt động có ý thức của con người, nhưng người ta lại
lấy tư tưởng, ý chí của con người hoặc của các siêu nhân để giải thích lịch
sử nên cuối cùng vẫn không sao ra khỏi cái vòng luẩn quẩn: tư tưởng quyết
định tư tưởng.
Không giống như những nhà triết học khác, C. Mác ngay từ thời còn
trẻ đã không đi tìm nguyên nhân của sự phát triển lịch sử từ những hiện
phạm vi những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó thì mới có sự tác động của
họ vào giới tự nhiên, tức sức sản xuất” [15,94].
Như vậy: “loài người tồn tại và phát triển được trên thế gian này,
không phải do phép màu của một lực lượng huyền bí hay ý chí của các bậc
vĩ nhân mà là do có sự tồn tại phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất của con người, như cách nói sau này của Mác, là do sự tồn tại và phát
triển của những phương thức sản xuất nối tiếp nhau trong lịch sử” [2,72].
SVTH: Nguyễn Thị Hiền
24
Khóa luận tốt nghiệp
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức
sản xuất. Chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn
nhau. Sự liên hệ tác động giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hình
thành quy luật xã hội phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người: quy luật về
sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất.
Trong phần này ta sẽ tập trung nghiên cứu mối quan hệ biện chứng
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất để thấy được mặt thứ nhất của
quy luật này là lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển.
Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của
lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động. Trong quá trình sản xuất
ra sản phẩm, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn, con người
luôn luôn tìm cách cải tiến những công cụ lao động mới tinh xảo hơn.
Những công cụ đó ngày một hiện đại hơn, làm cho sức lao động của con
người ít hao tổn mà lại sản xuất ra được nhiều hơn.
Cùng với sự biến đổi và phát triển nhiều hơn của công cụ lao động thì
kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản xuất, kiến thức khoa
học của con người cũng tiến bộ. Lúc này, lực lượng sản xuất trở thành yếu
tố động nhất, cách mạng nhất. Còn quan hệ sản xuất là yếu tố tương đối ổn
định, có khuynh hướng lạc hậu hơn sự phát triển của lực lượng sản xuất.