Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo - Pdf 10


MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới của đất nước, với mục tiêu xây dựng một
nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
và đến năm 2020 “cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
đại”, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu” và “Muốn tiến hành CNH - HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh
giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát
triển nhanh và bền vững”.
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đầu tư từ NSNN cho giáo
dục đào tạo ngày càng tăng đã giúp ngành giáo dục đào tạo đạt được nhiều
thành tựu trên cả 3 mặt: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, đầu tư tăng nhưng việc thực thi chưa đạt được hiệu quả cũng như
mục tiêu đặt ra, chất lượng, hiệu quả giáo dục còn thấp so với yêu cầu,
phương pháp giáo dục lạc hậu do chậm đổi mới, đội ngũ giáo viên vừa thiếu
vừa thừa, chưa đồng bộ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một bộ phận còn
thấp, CSVC còn rất thiếu và lạc hậu…
Từ thực tiễn ấy thì bên cạnh nỗ lực tăng đầu tư NSNN cho giáo dục đào
tạo, việc không ngừng hoàn thiện cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục và đào
tạo là hết sức quan trọng.
Luận văn “Hoàn thiện cơ chế quản lý Ngân sách nhà nước cho giáo dục
và đào tạo của Việt Nam” phân tích cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào
tạo Việt Nam hiện nay, đánh giá những mặt tích cực và những mặt hạn chế
đồng thời cũng đưa ra nguyên nhân của những hạn chế đó. Từ đó, luận văn đã
chỉ rõ sự cần thiết cũng như đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện cơ chế
quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo.

1

Đề tài được trình bày thành 3 chương:

Như các sản phẩm kinh tế khác, quá trình sản xuất giáo dục đòi hỏi sự
tiêu dùng các nguồn lực khan hiếm. Có thể định nghĩa giáo dục là một:
• Hàng hóa mà tất cả người dân đều có quyền hưởng thụ đến một mức tối
thiểu nào đó.

3

• Sản phẩm tích lũy theo nghĩa quá trình sản xuất giáo dục thông thường
đòi hỏi nhiều thời gian.
• Dịch vụ với một vài đặc tính của hàng hóa công.
• Hàng hóa mà lợi ích xã hội của giáo dục lớn hơn lợi ích của giáo dục
cho cá nhân.
• Dịch vụ bền theo nghĩa vốn con người (đầu ra của giáo dục) là một
nhân tố sản xuất lâu dài.
• Hàng hóa chuyển tiếp mà người mua cuối cùng là người tiêu thụ.
1.1.2. Vai trò của giáo dục đào tạo trong nền KTQD
Bất cứ một quốc gia nào cũng phải được xây dựng và phát triển trên
nền tảng con người, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế tri
thức đã trở thành một xu thế thời đại. Theo UNDP, chất lượng cuộc sống
được đánh giá trước hết ở tiêu chí thu nhập, giáo dục, sức khỏe và dinh
dưỡng, mức nghèo khổ, tình trạng môi trường, sự bình đẳng, mức độ tự do cá
nhân, sự phong phú về văn hóa. Như vậy, giáo dục là một trong những mục
đích phát triển kinh tế.
Giáo dục được xem là một hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực
tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế - xã
hội, đồng thời có tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển nhanh hay chậm
của một quốc gia. Điều 35 – Hiến pháp năm 1992 của nước ta đã ghi rõ:
“Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu”. Quan điểm đó đã được tiếp tục
khẳng định trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa VIII (1996) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo

mọi thời đại bởi một trong những điều kiện tiên quyết để hình thành và
chuyển dịch cơ cấu nền KTQD chính là số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn
nhân lực của quốc gia. Mà điều kiện tiên quyết đó chỉ có được thông qua sự
phát triển của nền giáo dục quốc dân. Sự phát triển của giáo dục cả về quy

5

mô, cả về chất lượng với một cơ cấu hợp lý về vùng, miền, trình độ, ngành
nghề đào tạo… sẽ góp phần tích cực thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển
dịch cơ cấu nền KTQD phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại, từ đó
đảm bảo được sự tăng trưởng cao và bền vững của nền kinh tế.
- Chức năng chính trị - xã hội: Chính trị là lĩnh vực hoạt động của xã
hội loài người mà đặc trưng của nó là các vấn đề liên quan đến quyền lực và
lợi ích của con người, cộng đồng giai cấp trong xã hội. Trong lịch sử phát
triển xã hội loài người, từ khi xã hội có giai cấp, có Nhà nước thì giáo dục đào
tạo luôn luôn là một công cụ quan trọng của Nhà nước. Giai cấp cầm quyền
luôn nắm lấy giáo dục đào tạo để chi phối chúng theo hướng củng cố quyền
lực và bảo vệ lợi ích cho mình. Giáo dục đào tạo phục vụ chính trị nhưng giáo
dục đào tạo tồn tại một cách tương đối độc lập với chính trị. Giáo dục đào tạo
là hiện tượng phổ biến và vĩnh cửu còn quan hệ chính trị chỉ hình thành rõ nét
khi xã hội có phân chia giai cấp và Nhà nước xuất hiện. Xét về bản chất, giáo
dục đào tạo thực sự gắn bó với những xu hướng chính trị tiến bộ. Nền giáo
dục đào tạo ở nước ta hiện nay là nền giáo dục đào tạo được ra đời và phát
triển nhờ một thể chế chính trị cách mạng và tiến bộ. Mục tiêu xã hội chủ
nghĩa và độc lập dân tộc được quán triệt một cách sâu sắc trong toàn bộ hệ
thống giáo dục Việt Nam.
Như vậy, giáo dục không chỉ tạo nên một lớp người lao động mới cho
xã hội mà còn làm thay đổi cả bộ mặt chính trị xã hội thông qua mục đích tổ
chức của nền giáo dục, các chính sách giáo dục thể hiện tính nhân văn, tính
đại chúng hay tính đẳng cấp của giáo dục.

giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; khối đào tạo bao gồm giáo dục
nghề nghiệp và giáo dục đại học.

7

Hình 1.1: Cấu trúc hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

GIÁO
DỤC
THƯỜNG
XUYÊN
TIẾN SĨ
THẠC SĨ
ĐẠI HỌC
CAO ĐẲNG
MẪU GIÁO
TIỂU HỌC
THCS
TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG
TRUNG CẤP
CHUYÊN NGHIỆP
DẠY NGHỀ
NHÀ TRẺ
GIÁO
DỤC
NGHỀ
NGHIỆP
GIÁO
DỤC

8

1.2. VAI TRÒ CỦA NSNN VỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1.2.1. Khái niệm và bản chất của NSNN
1.2.1.1. Khái niệm
NSNN với tư cách là một phạm trù kinh tế bao giờ cũng gắn liền với sự
xuất hiện, tồn tại của Nhà nước phát triển đến một trình độ nhất định. Sự xuất
hiện của Nhà nước trong lịch sử đòi hỏi phải có những nguồn lực tài chính để
đáp ứng chi tiêu nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của Nhà nước.
NSNN là dự toán thu - chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng
thời gian nhất định (thường là một năm). Như vậy, NSNN là một kế hoạch tài
chính cơ bản của quốc gia, trong đó gồm kế hoạch thu, kế hoạch chi và được
lập theo phương pháp cân đối (thu phải đủ chi, chi không vượt thu).
Theo Luật NSNN Việt Nam thì: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi
của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được
thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
Nhà nước”.
1.2.1.2. Bản chất
- Về phương diện pháp lý: NSNN là một đạo luật dự trù các khoản thu, chi
bằng tiền của Nhà nước trong một thời gian nhất định thường là một năm.
Đạo luật này được cơ quan lập pháp của quốc gia đó ban hành.
- Về bản chất kinh tế: NSNN là hệ thống những mối quan hệ kinh tế giữa
Nhà nước và xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng
các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng của Nhà
nước.
Các quan hệ kinh tế này bao gồm:
+ Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
+ Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị HCSN.


10

chính đầu tư cho giáo dục đào tạo thì đầu tư từ NSNN là tất yếu, đóng vai trò
chủ đạo trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục bởi:
- Trong hệ thống tài chính nước ta thì tài chính Nhà nước chiếm một tỷ
trọng lớn. Mà trong tài chính Nhà nước bao gồm NSNN và tín dụng Nhà
nước thì NSNN có tỷ trọng lớn nhất. NSNN đảm bảo nhu cầu tiêu dùng xã
hội theo chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước, trong đó nhu cầu giáo
dục đào tạo đứng hàng đầu. Mặt khác, giáo dục đào tạo là dịch vụ công cộng,
tạo ra những ngoại ứng tích cực và có vai trò quyết định đến sự phát triển
nguồn nhân lực - nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc
gia. Đầu tư từ NSNN cho giáo dục nhằm đảm bảo điều kiện tài chính cần thiết
để giải quyết vấn đề phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân ở tầm vĩ mô
như về phát triển rộng khắp mạng lưới các cơ sở giáo dục, xây dựng các cơ sở
giáo dục trọng điểm quốc gia, điều chỉnh quy mô và cơ cấu, nâng cao chất
lượng và hiệu quả giáo dục. Bởi vậy, NSNN là nguồn tài chính cơ bản, to lớn
nhất để duy trì và phát triển hệ thống giáo dục quốc dân theo đúng chủ
trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
- Thứ hai, đầu tư của NSNN có tác dụng hướng dẫn, huy động các
nguồn vốn khác đầu tư cho giáo dục đào tạo vì giáo dục là dịch vụ công cộng,
tạo ra những ngoại ứng tích cực và có vai trò quyết định đến sự phát triển
nguồn nhân lực – nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc
gia. Đầu tư NSNN cho giáo dục như một cú huých ban đầu để khuyến khích
nhân dân đóng góp xây dựng và sửa chữa trường lớp, thu hút các nguồn từ lao
động sản xuất, từ hợp đồng NCKH của các trường, đóng góp của các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế nhằm thực hiện phương châm “Nhà nước
và nhân dân cùng chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo”, đồng thời là
nguồn chính để phát huy nguồn viện trợ và vay của nước ngoài để đầu tư cho
giáo dục đào tạo. Lợi ích của việc đầu tư vào giáo dục đem lại không chỉ cho


12

đó dẫn đến mất công bằng xã hội trong giáo dục. Hơn nữa, công bằng xã hội
trong giáo dục còn là điều kiện quan trọng để đạt đến công bằng xã hội nói
chung.
- Thứ sáu, đầu tư của Nhà nước cho giáo dục nhằm để khắc phục khiếm
khuyết của thị trường vốn. Nghiên cứu kinh tế học giáo dục, các nhà kinh tế
đều cho rằng, thị trường vốn cho việc đầu tư vào giáo dục là không hoàn hảo.
Có nhiều rủi ro cho cả người vay và người cho vay khi đầu tư vào giáo dục.
Hầu như không có cơ sở cho việc xác định khả năng chắc chắn có việc làm và
có được mức thu nhập sau khi đã kết thúc khóa học để có thể trả được các
khoản nợ vay cho việc học tập của các cá nhân. Do vậy, các chủ thể cho vay
vốn không dễ dàng chấp nhận bỏ vốn để cho vay đầu tư vào việc học tập của
các cá nhân. Khắc phục khiếm khuyết của thị trường vốn cần thiết phải có sự
can thiệp và đầu tư của Nhà nước cho giáo dục.
Tóm lại, đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, nguồn lực tài
chính để phát triển giáo dục chủ yếu là từ nguồn NSNN. NSNN đóng vai trò
quan trọng, là yếu tố chính quyết định đối với sự nghiệp giáo dục quốc dân.
1.2.3. Cơ cấu chi tiêu NSNN cho giáo dục đào tạo
Chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN theo những
nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước. Thực
chất, chi NSNN chính là việc cung cấp các phương tiện tài chính cho các
nhiệm vụ của Nhà nước.
Hiện nay, theo Luật NSNN, nội dung chi tiêu NSNN được phân theo
tính chất kinh tế của các khoản chi được sử dụng. Theo tính chất kinh tế, chi
NSNN cho giáo dục được phân ra theo các nội dung:
- Chi thường xuyên bao gồm các khoản chi lương và các khoản chi
củng cố CSVC, thiết bị trường lớp như: SGK, thiết bị dạy học… Đội ngũ cán
bộ giáo viên trong ngành giáo dục đào tạo được hưởng lương từ NSNN, do



1.3. CƠ CHẾ QUẢN LÝ NSNN CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
1.3.1. Khái niệm cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục và đào tạo.
Quản lý là yêu cầu tất yếu để đảm bảo sự hoạt động bình thường của
mọi quá trình và hệ thống kinh tế - xã hội. Thực chất của quản lý là thiết lập
và thực hiện hệ thống các phương pháp và biện pháp khác nhau, tác động một
cách có ý thức tới đối tượng của quản lý nhằm đạt được kết quả nhất định.
Quản lý NSNN được hiểu là việc sử dụng NSNN làm công cụ quản lý
hệ thống xã hội thông qua việc sử dụng những chức năng vốn có của nó.
Quản lý NSNN là việc làm cần thiết gắn với việc chi NSNN nhằm tạo ra
những khoản chi đảm bảo đúng mục đích sử dụng và đạt hiệu quả cao.
Cơ chế quản lý NSNN là hệ thống các nguyên tắc, các hình thức và
phương pháp quản lý điều hành NSNN trong từng giai đoạn phát triển kinh tế.
Cơ chế quản lý NSNN bao gồm các cơ chế thu, chi ngân sách, cân đối ngân
sách, cấp phát ngân sách. Yêu cầu của cơ chế quản lý NSNN trong nền kinh
tế thị trường là ưu tiên sử dụng NSNN để thực hiện những nhiệm vụ của Nhà
nước, những công việc mà thị trường không thể thực hiện hoặc không thể
giao cho thị trường thực hiện. Bên cạnh đó, sử dụng ngân sách nhà nước phải
tránh tư tưởng bao cấp, bao biện, làm thay cho thị trường. Trái lại, NSNN
phải tạo ra môi trường để thu hút, khuyến khích sự tham gia của các nguồn
tài chính khác trong thị trường bổ sung cho nguồn lực NSNN.
1.3.2. Nội dung cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo
1.3.2.1. Cơ chế phân cấp ngân sách
Trong cơ chế quản lý NSNN, cơ chế phân cấp ngân sách có vị trí rất
quan trọng, thể hiện mối quan hệ phân cấp, phân quyền, phối hợp hoạt động
giữa các cấp chính quyền trong việc quản lý, điều hành ngân sách. Yêu cầu
đối với cơ chế phân cấp ngân sách là Ngân sách Trung ương phải giữ vai trò
chủ đạo tập trung các nguồn thu có tính chất quốc gia và giải quyết các nhu

15


Mục đích của phân cấp quản lý ngân sách giữa các cấp chính quyền là
nhằm giảm bớt sự ỷ lại của cơ quan cấp dưới, đồng thời xóa bớt sự bao biện,
làm thay của chính quyền cấp trên. Nhờ đó mà sự phân định trách nhiệm,
quyền hạn trong quản lý NSNN một cách rõ ràng hơn và tạo ra các điều kiện
cần thiết cho việc nâng cao hiệu quả quản lý ở lĩnh vực này.
1.3.2.2. Cơ chế lập dự toán và phân bổ NSNN cho giáo dục đào tạo
o Căn cứ để lập kế hoạch phân bổ NSNN
Căn cứ để lập kế hoạch phân bổ NSNN cho giáo dục đào tạo là:
- Đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ
công tác được giao trong năm kế hoạch.
- Luật NSNN và Thông tư Ngân sách hàng năm của Bộ Tài chính.
Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển
ngành giáo dục, thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về việc lập dự toán
NSNN và các văn bản hướng dẫn của Bộ giáo dục và đào tạo.
- Kế hoạch phân bổ ngân sách năm trước.
- Những nhiệm vụ cụ thể của ngành giáo dục đào tạo.
- Định mức phân bổ ngân sách cho giáo dục theo quy định
- Các quy định về phân cấp quản lý ngân sách trong ngành giáo dục.
o Công tác lập dự toán và phân bổ NSNN
Trình tự lập dự toán ngân sách và phân bổ NSNN hàng năm được thực
hiện như sau:
i) Trước ngày 31 tháng 5, Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị về
việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm sau.
ii) Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trước ngày 10
tháng 6, Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn về yêu cầu, nội dung,
thời hạn lập dự toán NSNN và thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách với
tổng mức và từng lĩnh vực thu, chi ngân sách đối với các Bộ, cơ quan ngang

17

thiết. Quốc hội quyết định dự toán NSNN, phân bổ Ngân sách TW năm sau
trước ngày 15 tháng 11 năm trước.
vii) Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội về dự toán NSNN, phân bổ Ngân
sách TW, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về tỷ lệ phần trăm (%)
phân chia đối với các khoản thu phân chia, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm
vụ thu, chi cho từng bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan
khác ở TW, nhiệm vụ thu, chi, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia đối với các
khoản thu phân chia và mức bổ sung từ Ngân sách TW cho từng tỉnh, thành
phố trực thuộc TW. Căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên
giao, UBND các cấp có trách nhiệm lập dự toán ngân sách địa phương,
phương án phân bổ ngân sách cấp mình trình HĐND cùng cấp quyết định và
báo cáo cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp.
HĐND cấp tỉnh quyết định dự toán ngân sách địa phương, phân bổ
ngân sách cấp tỉnh năm sau trước ngày 10 tháng 12 năm trước. HĐND cấp
dưới quyết định dự toán ngân sách địa phương, phân bổ ngân sách cấp tỉnh
năm sau trước ngày 10 tháng 12 năm trước. HĐND cấp dưới quyết định dự
toán ngân sách địa phương , phân bổ ngân sách năm sau của cấp mình chậm
nhất là mười ngày kể từ ngày HĐND cấp trên trực tiếp quyết định dự toán và
phân bổ ngân sách.
viii) Sau khi được Thủ tướng Chính phủ, UBND giao dự toán ngân sách, các
cơ quan Nhà nước ở TW và địa phương, các đơn vị dự toán có trách nhiệm
phân bổ và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực
thuộc, đảm bảo đúng với dự toán ngân sách được giao cả về tổng mức, chi tiết
theo từng lĩnh vực chi, đồng gửi cơ quan tài chính cùng cấp.
1.3.2.3. Cơ chế cấp phát và chấp hành chi NSNN
Căn cứ vào dự toán NSNN được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ,
thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách quyết định chi gửi Kho bạc Nhà nước. Kho

19


Trách nhiệm về việc quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản của Nhà
nước theo đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức và dự toán được
giao do thủ trưởng cơ quan sử dụng ngân sách chịu trách nhiệm.
Ngoài các cơ quan tài chính, trong Luật NSNN cũng quy định nhiều cơ
quan khác có trách nhiệm giám sát việc thực hiện NSNN như:
- Bộ Kế hoạch và đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành
hữu quan kiểm tra, đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư các công trình công cộng
xây dựng cơ bản.
- Ở cấp địa phương, HĐND giám sát việc thực hiện ngân sách ở cấp
mình;
- Chính phủ kiểm tra việc thực hiện NSNN. Định kỳ, Chính phủ báo
cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, UBND báo cáo Thường trực HĐND về tình
hình thực hiện NSNN, các dự án và các công trình quan trọng quốc gia, các
chương trình phát triển kinh tế - xã hội, các dự án và các công trình xây dựng
cơ bản quan trọng khác.
1.3.2.4. Kế toán, kiểm tra và quyết toán NSNN
o Các nguyên tắc phải đảm bảo khi thực hiện
nguyên tắc quyết toán Ngân sách và báo cáo
quyết toán Ngân sách.
- Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời các loại báo
cáo đó cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo đúng chế độ đã quy
định.
- Về số liệu quyết toán NSNN:
+ Số quyết toán thu NSNN là số thu đã thực nộp hoặc đã hạch toán
thu NSNN qua Kho bạc Nhà nước.

21

+ Số quyết toán chi NSNN là số chi đã thực thanh toán hoặc đã hạch
toán chi theo quy định của Luật NSNN và các khoản chi chuyển nguồn sang

đầu tư phải lập báo cáo quyết toán tình hình sử dụng vốn Ngân sách trong
năm; khi dự án hoàn thành phải lập và báo cáo quyết toán công trình theo quy
định của pháp luật.
Số liệu quyết toán phải được đối chiếu và được Kho bạc Nhà nước nơi giao
dịch xác nhận.
iv) Cơ quan Tài chính các cấp ở địa phương thẩm định quyết toán chi
Ngân sách của các đơn vị cùng cấp và quyết toán Ngân sách cấp dưới, tổng
hợp, lập quyết toán ngân sách địa phương trình UBND cùng cấp để UBND
xem xét trình HĐND cùng cấp phê chuẩn, báo cáo cơ quan Hành chính Nhà
nước và cơ quan Tài chính cấp trên trực tiếp.
v) Bộ Tài chính thẩm định quyết toán chi Ngân sách của các Bộ Giáo
dục và các cơ quan liên quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở TW và quyết
toán ngân sách địa phương; tổng hợp, lập quyết toán NSNN trình Chính phủ.
vi) Cơ quan kiểm toán Nhà nước thực hiện việc kiểm toán, xác định
tính đúng đắn, hợp pháp của Báo cáo quyết toán NSNN các cấp, cơ quan, đơn
vị có liên quan theo quy định của Pháp luật.
vii) HĐND cấp tỉnh phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương chậm
nhất 12 tháng sau khi năm ngân sách kết thúc; HĐND cấp tỉnh quy định thời
hạn phê chuẩn quyết toán Ngân sách của HĐND cấp dưới nhưng chậm nhất
không quá 6 tháng sau khi năm ngân sách kết thúc.
viii) Chính phủ phê chuẩn quyết toán Ngân sách địa phương, lập và
trình Quốc hội quyết toán NSNN, quyết toán các dự án và công trình quan
trọng quốc gia do Quốc hội quyết định.

23

ix) Quốc hội phê chuẩn quyết toán NSNN chậm nhất 18 tháng sau khi
năm ngân sách kết thúc.

24

Trích đoạn CƠ CHẾ QUẢN Lí NSNN CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO 1 Cơ chế phõn cấp quản lý NSNN giỏo dục và đào tạo Quy trỡnh lập dự toỏn chi tiết và phõn bổ nguồn NSNN cho giỏo dục đào tạo Căn cứ lập kế hoạch phõn bổ NSNN cho giỏo dục đào tạo ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CƠ CHẾ QUẢN Lí NSNN CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO Hạn chế và nguyờn nhõn.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status