MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NSNN CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO - Pdf 75

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NSNN CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
3.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ NSNN CHO
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Thứ nhất, với vị trí quốc sách hàng đầu của giáo dục, trong cả hiệ tại và
tương lai, Đảng và Nhà nước ta đã và đang nỗ lực tìm mọi biện pháp để tăng chi
NSNN cho giáo dục và đào tạo. Nghị quyết 37/2004/QH11 đã nêu rõ “ Đầu tư
ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo bảo đảm tỷ lệ 20% tổng chi NSNN trước
năm 2010 từ 2 đến 3 năm”. Nhưng về thực tiễn khả năng của NSNN để đầu tư phát
triển nền giáo dục quốc dân chỉ có giới hạn. Mặc dù ưu tiên NSNN đầu tư cho giáo
dục nhưng do nguồn lực và mối quan hệ đầu tư từ nguồn NSNN cho các lĩnh vực
kinh tế xã hội khác của nền kinh tế nên NSNN cho giáo dục đào tạo luôn bị ràng
buộc. Việc dành ngân sách đến 20% trong hoàn cảnh kinh tế của chúng ta hiện nay
cũng là một cố gắng rất lớn của Nhà nước và xã hội dành cho Giáo dục- đào tạo.Vì
vậy, bên cạnh những nỗ lực tăng đầu tư từ NSNN cho giáo dục và đào tạo thì việc
hoàn thiện cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục và đào tạo là cần thiết.
Thứ 2, cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo hiện nay còn bộc lộ nhiều
hạn chế như đã trình bày ở chương 2.
Thứ 3, để đạt được mục tiêu phát triển giáo dục từ nay đến 2010 và những
năm tiếp theo chúng ta phải không ngừng hoàn thiện cơ chế quản lý NSNN cho
giáo dục và đào tạo là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng NSNN cho giáo dục đào tạo, phát triển giáo dục- đào tạo theo
định hướng của Đảng và Nhà nước.
3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ NSNN CHO GIÁO
DỤC VÀ ĐÀO TẠO
3.2.1 Hoàn thiện cơ chế lập và phân bổ dự toán NSNN
3.2.1.1 Đối với căn cứ lập, phân bổ dự toán NSNN
Một là, việc áp dụng tiêu chí phân bổ ngân sách giáo dục theo đầu dân ở
nhiều nơi chưa đảm bảo sự hợp lý. Việc phân bổ giao dự toán cho các cơ sở giáo
dục đào tạo thiếu căn cứ xác đáng và chưa gắn quy mô, khối lượng nhiệm vụ sự
nghiệp của mỗi đơn vị đựợc cấp có thẩm quyền giao. Vì vậy, Bộ tài chính cân

hướng ưu tiên hơn nữa cho các vùng đồng bằng, vùng núi thấp- vùng sâu, núi cao –
hải đảo.
Để giảm bớt khoảng cách chênh lệch về tỷ lệ lao động được đào tào giữa các
vùng, thực hiện tốt hơn công bằng xã hội trong giáo dục đào tạo nên xem xét các
yếu tố tác động đến sự phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo giữa các vùng ( như
cơ sở đào tạo, khả năng thu học phí,…) để điều chỉnh hệ số định mức phân bổ giữa
các vùng hợp lý hơn theo hướng ưu tiên hơn nữa cho các vùng núi thấp- vùng sâu,
núi cao- hải đảo.
Ba là, xây dựng định mức phân bổ dự toán NSNN chi đầu tư phát triển giáo
dục cho các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương nhằm phát huy quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm của các địa phương trong đầu tư xây dựng CSVC cho giáo dục và
đào tạo.
Các tiêu chí lựa chọn phân bổ:
- Định mức phân bổ tính theo dân số
- Áp dụng hệ số định mức phân bổ ưu tiên theo vùng.
- Bổ sung có mục tiêu cho các địa phuơng có điều kiện kinh tế xã hội khó
khăn.
3.2.1.2. Đối với quy trình lập và phân bổ dự toán NSNN cho giáo dục đào tạo.
Bộ tài chính, Kho bạc Nhà nước và các cơ quan có liên quan cần phối hợp
đồng bộ trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo trong quá trình lập,
chấp hành NSNN để giảm đỡ những vướng mắc, thủ tục phiền hà không cần thiết
cho các địa phương, cơ sở. Cần có cớ chế thích hợp để các cơ quan quản lý giáo
dục và đào tạo các cấp được tham gia vào quy trình lập và chấp hành ngân sách
nghành để đảm bảo sử dụng ngân sách có hiệu quả, sát với thực tế chuyên môn,
nghiệp vụ của từng nghành.
Để hoàn thiện cơ chế phân bổ dự toán NSNN cho nghành giáo dục và đào
tạo cần phải tăng cường phát huy tốt sự quản lý, giám sát của các cơ quan chức
năng, của người dân, của cả xã hội. Chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm
toán của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc phân bổ và sử dụng các
nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục. Trong những năm qua, do công tác thanh tra,

Thứ nhất, tiếp tục ưu tiên phân bổ NSNN cho các cấp học phổ thông.
Thực tế cho thấy khả năng huy động các nguồn lực tài chính ngoài NSNN
vào đầu tư phát triển các cấp học phổ cập có nhiều khó khkăn hơn so với các cấo
học sau giáo dục phổ cập. Ưu tiên NSNN cho các cấp học phổ cập nhằm để thực
hiện tốt quyền và nghĩa vụ học tập của mọi công dân sinh sống trên mọi vùng,
miền của đất nước.
Mặc dù phổ cập giáo dục tiểu học ở nước ta đã hoàn thành vào năm 2000 và
sau khi hoàn thành phổ cập thì số học sinh tiểu học có xu hướng giảm mỗi năm
khoảng nửa triệu học sinh. Tuy vậy, kết quả phổ cập giáo dục tiểu học chưa vững


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status