Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty vật tư tổng hợp Hưng Yên - Pdf 10

LỜI NÓI ĐẦU
Nước ta từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp nay chuyển thành nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần và được hoạt động dưới sự điều tiết của Nhà nước.
Trong đó vấn đề tiền lương phải được thực hiện theo đúng chế độ, chính sách của
Nhà nước và kèm theo các khoản trích theo lương.
Lương bổng là một trong những động lực kích thích con người làm việc hăng
hái. Tiền lương được biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động mà doanh nghiệp trả
cho người lao động theo thời gian, hay theo khối lượng công việc mà người lao động
đã đóng góp. Nó là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động. Nếu sử dụng tiền
lương hợp lý sẽ kích thích được năng suất lao động làm cho năng suất lao động tăng
lên, giảm chi phí, hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh trên thị trường góp phần tạo nên
lợi nhuận, tăng thu nhập cho người lao động. Trả lương cho người lao động là một
phần chi phí cấu thành giá trị lương sản phẩm hay dịch vụ cuả doanh nghiệp. Chính
vì vậy công tác quản lý lao động tiền lương là một công việc rất quan trọng và là một
nhân tố chủ yếu trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Trong điệu kiện kinh tế hiện nay yêu cầu công tác hạch toán lao động tiền
lương phải hết sức năng động, thường xuyên được sửa đổi, bổ sung sao cho đảm bảo
phản ánh hết các yếu tố về SXKD của đơn vị mình gắn chặt với 3 lợi ích: Người lao
động - Doanh nghiệp - Nhà nước.
Với vai trò quan trọng như vậy việc tìm ra phương pháp xây dựng và phân phối
quỹ lương và các khoản trích theo lương phù hợp vơí đặc điểm sản xuất kinh doanh
của đơn vị mình sẽ là một đòn bẩy kinh tế quan trọng trong hoạt động SXKD.
Cũng như bao doanh nghiệp khác, Công ty Vật tư Tổng hợp Hưng Yên thuộc
Sở Thương mại và Du lịch Hưng Yên từ khi thành lập đến nay tuy còn non trẻ nhưng
cũng đã gặt hái được nhiều thành công trong quá trình kinh doanh của mình: "Có
1
nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia trên thị trường ". Một trong những nhân tố
quan trọng luôn giúp cho Công ty hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đặt
ra đó chính là công tác tổ chức kế toán tiền lương của Công ty.
Kết hợp giữa lý thuyết trong thời gian đã học tại trường với thực tế qua tìm
hiểu công tác kế toán tiền lương tại Công ty Vật tư Tổng hợp Hưng Yên, cùng với sự

hoạt cần thiết về vật chất, về tinh thần để duy trì đời sống của mọi công dân và những
phí tổn để công dân có một trình độ nhất định.
Việc xác lập giá trị hàng hoá sức lao động là tất yếu đối với quá trình tái sản
xuất sức lao động xã hội. Các yếu tố hợp thành giá trị hàng hoá sức lao động phụ
thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước như: Khí hậu, tập quán, trình độ văn hoá,
nguồn gốc và hoàn cảnh ra đời của giai cấp công nhân.
3
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng nhằm thoả mãn nhu cầu cho người
mua để sử dụng vào quá trình lao động khác. Với hàng hoá thông thường giá trị sử
dụng của hàng hoá sức lao động khi được sử dụng sẽ tạo ra một giá trị mới hơn giá trị
của bản thân nó. Đây là thuộc tính đặc biệt chỉ có hàng hoá sức lao động mới có. Khi
giá trị sức lao động biểu hiện bằng tiền thì được gọi là giá cả sức lao động hay còn
gọi là tiền lương.
II. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ, NHIỆM VỤ, CHỨC NĂNG, Ý NGHĨA
CỦA TIỀN LƯƠNG
1. Khái niệm
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN, tiền
lương được biểu hiện là giá cả của một hàng hoá nhất định đó là sức lao động, cho
nên tiền lương cũng được tác động bởi các quy luật kinh tế và quan hệ cung cầu trên
thị trường.
2. Đặc điểm
Tiền lương vừa là một phạm trù kinh tế vừa là một phạm trù xã hội. Đứng trên
góc độ kinh tế thì doanh nghiệp coi như một yếu tố của quá trình sản xuất. Về mặt xã
hội tiền lương rất nhạy cảm và nó gắn liền với công bằng xã hội, tiền lương có liên
quan đến những chính sách xã hội như: Giáo dục, y tế, nhà ở, phúc lợi...
Trong điều kiện tồn tại nền kinh tế sản xuất hàng hoá và tiền tệ thì tiền lương là
một yếu tố chi phí SXKD cấu thành nên giá thành của sản phẩm lao vụ, dịch vụ.
Tiền lương là một đòn bẩy kinh tế quan trọng để nâng cao hiệu quả SXKD,
tăng năng suất lao động, là nguồn động viên tích cực cho công nhân viên chức phấn
khởi, tích cực lao động, nâng cao hiệu quả công tác.

doanh nghiệp.
5
4. Nhiệm vụ :
Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về số lượng lao động, thời gian
kết quả, từ đó ta tính ra lương, tính ra BHXH, BHYT, KPCĐ và phân phối chi phí
nhân công đúng đối tượng sử dụng lao động.
Hướng dẫn, kiểm tra các nhân viên hạch toán ở các bộ phận SXKD, các phòng
ban, thực hiện đầy đủ các chứng từ cần thiết để hạch toán về lao động, tiền lương rồi
mở sổ cần thiết để kế toán nghiệp vụ lao động tiền lương theo đúng chế độ và phương
pháp.
Lập các báo cáo về lao động tiền lương thuộc phần việc do mình phụ trách.
Phân tích tình hình quản lý về việc sử dụng thời gian lao động, chi phí nhân
công, năng suất lao động và đề xuất các biện pháp để nhằm khai thác sử dụng tiền tệ
có hiệu quả mọi tiềm năng có sẵn trong doanh nghiệp.
5. Chức năng của tiền lương
Tiền lương có các chức năng cơ bản sau:
+ Tiền lương phải đẩm bảo được tái sản xuất sức lao động ( bao gồm cả tái sản
xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ). Điều này có nghĩa là : với tiền lương của
người lao động không chỉ đủ sống mà còn nâng cao trình độ về mọi mặt cho bản
thân, con cái, thậm chí một phần nhỏ để tích luỹ.
+ Chức năng kích thích người lao động: Tiền lương đảm bảo và góp phần tác
động để tạo ra cơ cấu lao động hợp lý trong toàn bộ nền kinh tế, khuyến khích phát
triển kinh tế ngành và lãnh thổ. Tiền lương là đòn bẩy kinh tế thu hút người lao động
hăng say làm việc, là động lực thúc đẩy tăng năng suất, khuyến khích nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ gắn trách nhiệm cá nhân với tập thể và công việc.
6
+ Chức năng tích luỹ: tiền lương của người lao động không những duy trì cuộc
sống hàng ngày trong thời gian làm việc mà còn để dự phòng trong cuộc sống lâu dài
khi họ hết khả năng lao động hoặc gặp rủi ro trong cuộc sống.
+ Chức năng thước đo giá trị: là cơ sở để điều chỉnh giá cả cho phù hợp mỗi

1. Kế toán lao động
Trong quản lý sử dụng lao động ở doanh nghiệp thì cần thiết phải tổ chức kế
toán các chỉ tiêu liên quan về lao động, nội dung của kế toán lao động chính là hạch
toán về số lượng lao động, thời gian lao động và kết quả lao động.
Kế toán số lượng lao động là kế toán về mặt số lượng từng loại lao động theo
nghề nghiệp, công việc và theo trình độ tay nghề ( cấp bậc kỹ thuật ) của từng công
nhân viên. Việc kế toán về số lượng lao động thường được thực hiện trên sổ sách lao
động của doanh nghiệp và thường được phòng lao động theo dõi.
Kế toán thời gian lao động thực chất là kế toán sử dụng thời gian lao động đối
với từng công nhân viên ở từng bộ phận trong doanh nghiệp. Thông thường từng bộ
phận sử dụng lao động ( tổ chức, phòng ban, phân xưởng ) sử dụng bảng chấm công
để ghi chép thời gian lao động thực tế của từng người lao động, Bảng chấm công là
căn cứ để tính lương, tính thưởng để tổng hợp thời gian lao động ở trong doanh
nghiệp và trong từng bộ phận.
Kế toán kết quả lao động là việc theo dõi, ghi chép kết quả lao động của công
nhân viên biểu hiện bằng số lượng ( khối lượng sản phẩm công việc ) đã hoàn thành
của từng người hay từng tổ, từng nhóm lao động. Kế toán kết quả lao động thường
được thực hiện trên các chứng từ thích hợp như : phiếu xác nhận sản phẩm và công
8
việc đã hoàn thành, hợp đồng làm khoán, kế toán kết quả lao động là cơ sở để tính
lương cho người lao động hay bộ phận lao động hưởng lương theo sản phẩm.
Có thể nói rằng kế toán lao động vừa để quản lý việc huy động, vửa làm cơ sở
để tính toán tiền lương phải trả cho người lao động. Vì kế toán lao động có rõ ràng,
chính xác, kịp thời thì mới có thể tính đúng tính đủ tiền lương cho công nhân viên
trong doanh nghiệp.
2. Các nguyên tắc
Để phát huy tốt tác dụng của tiền lương trong SXKD và đảm bảo hiệu quả của
các doanh nghiệp, khi tổ chức tiền lương cho người lao động cần đạt các yêu cầu cơ
bản sau:
+ Đảm bảo tái sản xuất sức lao động, không ngừng nâng cao đời sống vật chất,

+ Khi đơn vị bố trí người lao động tạm thời chuyển sang nơi làm việc hoặc
công việc khác thì phải trả lương cho người lao động không thấp hơn công việc trước.
Khi đơn vị phá sản, giải thể, thanh lý thì tiền lương phải được ưu tiên thanh toán cho
người lao động.
IV. CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG
Hiện nay trong các Công ty, Xí nghiệp do sự khác nhau về điều kiện SXKD
nên các hình thức chế độ trả lương được áp dụng không giống nhau. Có 2 hình thức
áp dụng là: Hình thức trả lương theo thời gian và hình thức trả lương theo sản phẩm.
10
1. Hình thức trả lương theo thời gian.
Tiền lương trả theo thời gian được áp dụng cho những công việc không tính
được kết quả lao động cụ thể, nó thể hiện theo các thang bậc lương do Nhà nước qui
định và được trả theo thời gian làm việc thực tế. Phạm vi áp dụng hình thức này chủ
yếu gồm khu vực hành chính sự nghiệp, những công tác nghiên cứu, quản lý, sửa
chữa máy móc thiết bị và bộ phận phục vụ sản xuất, những người sản xuất trong dây
chuyền công nghệ nhưng tại đó không tính được định mức. Trả lương theo thời gian
bao gồm 2 loại:
+ Trả lương theo thời gian giản đơn: Đây là hình thức trả lương cho người lao
động chỉ căn cứ vào bậc lương và thời gian thực tế làm việc, không xét đến thái độ và
kết quả của công việc. Hình thức này bao gồm:
- Lương tháng: Là tiền lương trả cho người lao động theo tháng và theo bậc
lương đã xếp. Người hưởng lương tháng sẽ nhận tiền lương theo cấp bậc và các
khoản phụ cấp nếu có
- Lương ngày: Là tiền lương mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo mức
lương một ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng. Lương ngày thường áp dụng
cho người lao động trực tiếp hưởng lương thời gian tính cho những người lao động
trong những ngày hội họp, học tập hoặc làm nghĩa vụ khác. Lương ngày được tính
như sau:
Lương tháng
Lương ngày =

Và đơn giá tiền lương của một đơn vị sản phẩm mà doanh nghiệp đang áp dụng đối
với từng loại sản phẩm hay công việc.
Hình thức trả lương theo sản phẩm có thể được thực hiện theo các dạng sau đây:
12
+ Trả lương theo sản phẩm trực tiếp: với hình thức này, tiền lương phải trả cho người
lao động được tính trực tiếp trên số lượng sản phẩm hoàn thành đúng quy cách, phẩm
chất mà đơn giá tiền lương sản phẩm đã quy định , không chịu một hạn chế nào.Tiền
lương theo sản phẩm trực tiếp được tính như sau:
Tiền lương phải trả cho Đơn giá tiền lương Số lượng sản phẩm
= x
người lao động của một đơn vị sản phẩm hoàn thành
Ưu điểm nổi bật của hình thức này là phản ánh mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa tiền
lương của người lao động và kết quả lao động. Do đó kích thích người lao động cố
gắng nâng cao trình độ tay nghề...Tuy nhiên hình thức này vẫn làm cho người lao
động ít quan tâm đến máy móc thiết bị chạy theo số lượng mà không chú ý đến chất
lượng và không chú ý đến công việc chung của tập thể.
+Trả lương theo sản phẩm gián tiếp.
Hình thức này áp dụng để trả lương cho người lao động gián tiếp ở các bộ phận
sản xuất phụ như lao động, làm nhiệm vụ vận chuyển vật liệu, thành phẩm , bảo
dưỡng máy móc thiết bị. Tuy lao động của họ không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng
lại gián tiếp ảnh hưởng đến năng suất lao động của người lao động trực tiếp mà người
lao động gián tiếp phục vụ để tính lương sản phẩm cho lao động gián tiếp.
Tiền lương phải trả cho Định mức tiền lương khối lượng, sản phẩm Cviệc
= x
người lao động gián tiếp hoàn thành
Hình thức này kích thích người lao động gián tiếp phục vụ tốt hơn cho người
lao động trực tiếp nâng cao năng suất lao động. Nhưng do tiền lương lại phụ thuộc
vào kết quả lao động trực tiếp nên việc trả lương chưa thật chính xác, chưa thật
đảm bảo đúng hao phí mức lao đông mà lao động gián tiếp bỏ ra.
+ Trả lương theo sản phẩm cỏ thưởng, có phạt

được giao cho từng phòng ban. Tiền lương thực tế của từng nhân viên ngoài việc phụ
thuộc vào quỹ lương thực tế của phòng ban còn phụ thuộc vào số lượng nhân viên
của phòng ban đó.
Hình thức trả lương theo sản phẩm nói chung có nhiều ưu điểm quán triệt được
nguyên tắc trả lương theo lao động. Tuy nhiên muốn cho hình thức này phát huy
được tác dụng thì doanh nghiệp phải có được định mức lao động cụ thể cho từng
công nhân viên, từng cấp thợ, bậc thợ vừa có căn cứ kỹ thuật, vừa phù hợp với điều
kiện lao động cụ thể của doanh nghiệp. Có như vậy tiền lương trả theo sản phẩm mới
đảm bảo được tính chính xác, công bằng, hợp lý.
3. Quỹ tiền lương
* Khái niệm về quỹ lương
Quỹ lương là tổng số tiền mà doanh nghiệp dùng để trả cho người lao động
phù hợp với số lượng và chất lượng lao động trong phạm vi doanh nghiệp mình phụ
trách.
Vì tiền lương là một bộ phận cấu thành cho chi phí sản xuất, chi phí bán hàng,
chi phí quản lý doanh nghiệp, do đó trong các doanh nghiệp phải có quỹ tiền lương.
Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền lương tính theo số lương công
nhân viên của doanh nghiệp do doanh nghiệp quản lý và chi trả lương, bao gồm các
khoản sau:
- Tiền lương tính theo thời gian, tiền lương tính theo sản phẩm và lương khoán.
- Tiền lương trả cho người lao động tạo ra sản phẩm hỏng trong phạm vi chế độ quy
định.
- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do nguyên nhân
khách quan hoặc trong thời gian được điều đi công tác, làm nghĩa vụ hay thời gian đi
học .
- Các loại phụ cấp làm đêm, thêm giờ.
15
- Các khoản tiền thưởng có tính chất thường xuyên.
Ngoài ra trong quỹ lương kế hoạch còn được trích cả khoản tiền trợ cấp BHXH
cho công nhân viên trong thời gian ốm đau, thai sản, tai nạn lao động.

bộ phận tiền lương biến đổi.
+ Kết cấu 2: Tiền lương thời ký báo cáo và tiền lương thời kỳ kế hoạch.
Tiền lương thời kỳ báo cáo là những số liệu thực tế trong thời kỳ báo cáo.
tiền lương trong thời kỳ kế hoạch là những số liệu tính toán dự trữ để đảm bảo kế
hoạch sản xuất, đảm bảo quỹ tiền lương để trả cho kỳ sắp tới. Những con số ở đây
đều là những con số dự kiến trước. Cho nên giữa kế hoạch và thực hiện còn có
những sai lệch. Tuy nhiên con số tính toán đó dựa vào các mẫu căn cứ sau:
- Nhiệm vụ sản xuất kỳ kế hoạch ( giá trị tổng sản lượng, chủng loại sản phẩm )
- Năng suất lao động của từng công nhân, tình hình thực tế kế hoạch sản xuất, kế
hoạch năng suất lao động, số người làm việc ở thời kỳ đã qua.
+ Kết cấu 3: Kết cấu chi tiết về các khoản mục thuộc thành phần quỹ tiền lương. Kết
cấu này có thể làm thay đổi một số khoản mục tuỳ theo từng ngành, từng doanh
nghiệp, không bắt buộc giống nhau.
+ Ý nghĩa việc xây dựng và quản lý quỹ tiền lương.
Trong thời kỳ hiện nay, Nhà nước ta đang thực hiện xoá bỏ bao cấp đối với các
đơn vị SXKD. Các đơn vị phải tự SXKD, tự hạch toán lỗ lãi để đóng vào NSNN. Do
vậy xây dựng và quản lý, phân phối quỹ lương cho các đơn vị có vai trò hết sức quan
trọng trong nền kinh tế thị trường.
17
Đối với các doanh nghiệp, quỹ lương là một yếu tố chi phí sản xuất, còn đối
với người lao động tiền lương là nguồn thu nhận chủ yếu. Mục đích của các nhà sản
xuất là lợi nhuận, còn đối với người dùng sức lao động là tiền lương. Với ý nghĩa này
tiền lương không chỉ mang bản chất là nguồn cung ứng sáng tạo ra sức lao động,
năng lực của người lao động trong quá trình sản sinh ra giá trị gia tăng.
Như vậy, tiền lương là giá trị sức lao động, là một yếu tố của chi phí sản xuất.
Do đó muốn sử dụng và phân phối quỹ lương có khoa học cần phải bám sát với tình
hình SXKD của đơn vị mình sẽ đem lại kết quả lớn cho tập thể người lao động.
Việc trả lương cho công nhân trong doanh nghiệp là trả dần theo từng tháng.
Do đó phần tiền lương chưa sử dụng đến phải được sử dụng có hiệu quả. Muốn làm
tốt vấn đề này thì các doanh nghiệp cần phải lập kế hoạch quản lý nguồn vốn tạm thời

thực hiện theo chế độ quy định.
b. BHYT
Là một khoản trợ cấp cho việc phòng, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho
người lao động. Quỹ BHYT theo quy định của chế độ tài chính hiện hành gồm 2 phần
sau:
+ Một nguồn do doanh nghiệp phải chịu được tính vào chi phí SXKD hàng tháng
theo một tỷ lệ quy định tính trên tổng số tiền thực tế phải trả cho CNV trong kỳ
+ Một nguồn do người lao động đóng góp thường được trừ vào lương CNV. Theo chế
độ hiện nay mức trích BHYT là 3%, trong đó 2% tính vào chi ohí SXKD, còn 1% trừ
19
vào thu nhập của người lao động. BHYT được nộp lên cơ quan chuyên môn chuyên
trách ( thường chủ yếu dưới hình thức mua BHYT ) để phục vụ và chăm sóc sức khoẻ
cho CNV ( như khám chữa bệnh ). Thực chất BHYT giúp người lao động đi khám
chữa bệnh, điều trị tại các bệnh viện miễn phí, tạo cho CN sự an tâm khi mắc bệnh.
c. KPCĐ
KPCĐ được hình thành do việc trích lập vào chi phí SXKD của doanh nghiệp
hàng tháng theo 1 tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương phải trả cho CNV. KPCĐ do
người sử dụng lao động đóng góp 2% trên tổng sổ tiền lương thực tế phải trả cho CN
trong kỳ. Quỹ KPCĐ 1 phần nộp cho cơ quan công đoàn và một phần để chi tiêu cho
hoạt động công đoàn của doanh nghiệp.
Thực chất hoạt động công đoàn trong doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền lợi của
CN và tổ chức các phong trào thi đua hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất. Mặt
khác quán triệt chỉ tiêu chính sách của Đảng, hiến pháp, pháp luật Nhà nước. Nhiệm
vụ của công đoàn là nâng cao giác ngộ tinh thần yêu nước XHCN.
Các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ cùng với tiền lương trả cho CNV được
hợp thành chi phí nhân công trong chi phí SXKD. Do vậy quản lý việc tính toán, trích
lập và chi tiêu sử dụng quỹ tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ có ý nghĩa không
những đối với việc tính toán chi phí SXKD mà còn có ý nghĩa trong việc đảm bảo
quyền lợi cho người lao động trong doanh nghiệp.
5. Kế toán tiền lương và BHXH, BHYT, KPCĐ.

+ Phiếu nghỉ hưởng BHXH ( mẫu số 03 - LĐTL )
+ Bảng thanh toán BHXH ( mẫu số 04 - LĐTL )
21
Ngoài ra còn có thể sử dụng thêm các chứng từ hướng dẫn nếu doanh nghiệp
cần thiết và có nghiệp vụ phát sinh thêm liên quan đến những thông tin bổ sung
cho việc tính lương, phụ cấp lương, BHXH . . . như sau:
+ Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành ( mẫu số 05 - LĐTL )
+ Phiếu báo làm thêm giờ ( mẫu số 06 - LĐTL )
+ Hợp đồng giao khoán ( mẫu số 07 - LĐTL )
+ Biên bản tai nạn lao động ( mẫu số 08 - LĐTL )
Các chứng từ trên có thể sử dụng làm căn cứ ghi sổ kế toán trực tiếp hoặc làm
cơ sở để tổng hợp rồi mới ghi vào sổ kế toán.
5.2. Kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương
a. Tài khoản kế toán.
Kế toán tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ sử dụng chủ yếu các tài khoản sau:
Tài khoản 334 " phải trả CNV ".
Tài khoản 338 " phải trả, phải nộp khác "
Ngoài ra các tài khoản trên kế toán tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ còn sử
dụng một số tài khoản có liên quan như:
+ Tài khoản 622 " chi phí nhân công trực tiếp "
+ Tài khoản 627 " chi phí sản xuất chung "
+ Tài khoản 641 " chi phí bán hàng "
+ Tài khoản 642 " chi phí quản lý doanh nghiệp "
+ Tài khoản 111 " tiền mặt "
+ Tài khoản 112 " tiền gửi ngân hàng "
+ Tài khoản 335 " chi phí phải trả "
22
Và một số tài khoản khác như: Tài khoản 141, tài khoản 138, TK 333.
b. Nghiệp vụ kế toán.
- Căn cứ vào bảng phân bổ tiền lương, tiền lương tính ra số tiền phải trả cho

Có TK 138 " tiền bồi thường "
Có TK 338 " tiền lương CNV chưa được lĩnh hoặc khấu trừ các khoản khác"
- Tính thuế thu nhập của CNV, người lao động phải nộp cho Nhà nước
Nợ TK 334
Có TK 333 ( 333.8 )
- Khi thanh toán các khoản phải trả cho CNV:
Nợ TK 338 ( 3382, 3383, 3384 )
Có TK 111, 112
Các nghiệp vụ hạch toán trên được biểu hiện qua sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ KẾ TOÁN TỔNG HỢP TIỀN LƯƠNG VÀ
CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG
TK 141,138,333 TK 334 TK 622
Các khoản khấu trừ vào thu CNTT sản xuất

nhập của CNV ( tạm ứng,
bồi thường vật chất, thuế TN) TK 627.1

Nhân viên phân xưởng
TK 3383,3384
Phần đóng góp cho quỹ
TK 641,642
BHXH, BHYT
Nhân viên bán hàng

TK 111, 112, 512 quản lý phân xưởng
TK 431.1
24
Tiền
lương,
tiền


TK 111,112
Chi tiêu KPCĐ tại cơ sở Số BHXH, KPCĐ chi vượt cấp

25
Trích
KPCĐ
BHX
H,
BHYT
theo ty
lệ quy
định

Trích đoạn SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN THANH TOÁN BHXH, BHYT, KPCĐ Hình thức Nhật ký chứng từ Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty. Tổ chức công tác kế toán tại Công ty. Thời gian hưởng chế độ ốm đau
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status