Tài liệu Đề tài “Chi phí kinh doanh và một số giải pháp tiết kiệm chi phí kinh doanh tại công ty Cổ Phần Vận Tải Sơn Dương” - Pdf 10

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP KHOA : KẾ TOÁN-TÀI CHÍNH
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta ngày nay được cả thế giới biết đến không chỉ vì là một dân
tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất và kiên cường trong đánh giặc mà còn
đang có nền kinh tế phát triển đi lên rất mạnh mẽ và đầy tiềm năng. Xuất phát từ
một đất nước đi lên sau 30 năm chiến tranh rồi lại trải qua những năm nền kinh
tế nước ta thực hiện theo công tác kế hoạch hoá tập trung đã kìm hãm năng lực
sản xuất của nước nhà. Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới nền kinh tế nước ta đã
và đang tăng tốc phát triển đi lên dần hoà nhập với sự phát triển chung của nền
kinh tế thế giới. Điều này được thể hiện qua việc chúng ta xoá bỏ nền kinh tế
tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiếp
đó là sự chủ động ra nhập các khối và các tổ chức kinh tế chính trị như:
ASEAN, AFTA…và mới đây nhất là tổ chức thương mại quốc tế (WTO) đã
khẳng định sự hội nhập đầy đủ của Việt Nam với thế giới. Đây là điều kiện
thuận lợi cho đất nước nói chung và các doanh nhiệp nói riêng, đồng thời cũng
là một thách thức to lớn bởi sự trênh lệch về trinh độ công nghệ, nguồn vốn,
trình độ quản lý. Trước cơ hội và thách thức để phát triển hiện nay đòi hỏi các
doanh nghiệp phải làm thế nào để tồn tại và phát triển đi lên trong môi trường
mà sự cạnh tranh khốc liệt như hiện nay? Đây là vấn đề nan giải với cả nền kinh
tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng phải tìm hướng đi và lời giải cho
mình.
Trong cuộc cạnh tranh khốc liệt để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp
muốn giành được chiến thắng thì phải thực hiện tốt 3 vấn đề sau đây: Hiệu quả
sản xuất, hoạt động quản trị kinh doanh và chi phí. Trong đó tiết kiệm chi phí
mà tiết kiệm chi phí kinh doanh là vấn đề thiết thực và lành mạnh nó không
những mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, ngoài ra xét trên khía cạnh toàn xã
hội thì nó còn tiết kiệm cho nền kinh tế, nâng cao hiệu quả lao động xã hội …
thúc đẩy một sự cạnh tranh lành mạnh. Vì thế hiện nay, việc nỗ lực cắt giảm chi
phí đã trở thành một vấn đề quan trọng trong công tác quản lý kinh doanh bởi
hiệu quả của việc sử dụng chi phí kinh doanh quyết định đến sự thành bại của
doanh nghiệp trước sự cạnh tranh ngay gắt hiện nay của các công ty đặc biệt là

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP KHOA : KẾ TOÁN-TÀI CHÍNH
CHƯƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHI PHÍ KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ HIỆN NAY.
1. KHÁI NIỆM VÀ PHẠM VI CỦA CHI PHÍ KINH DOANH.
1.1. Khái niệm về chi phí kinh doanh.
a. Khái niệm về chi phí kinh doanh:
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngày nay hoạt động của các doanh
nghiệp ngày càng đa dạng, phong phú trên tất cả các lĩnh vực từ sản xuất,
thương mại, dịch vụ, xây lắp …nhằm cung cấp và thoả mãn tối đa nhu cầu của
xã hội và mang lại lợi nhuận cho các đơn vị kinh tế tham gia. Tuy vậy, các
doanh nghiệp dù ở loại hình nào thì hoạt động kinh doanh muốn thực hiện được
cũng phải bỏ ra chi phí để thực hiện. Đây là những khoản chi phí phục vụ hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp ta thấy các chi
phí luôn phát sinh dưới nhiều hình thức khác nhau từ đơn giản đến phức tạp.
Các chi phí mà chúng ta nhận thấy đó là chi phí mua nguyên vật liệu, chi phí trả
lương cho cán bộ công nhân viên, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí vận
chuyển bốc dở, thuế giá trị gia tăng …Vậy chi phí kinh doanh là gì?
Đứng dưới góc độ khác nhau thì chi phí được hiểu theo nhiều cách khác
nhau nhưng căn cứ vào nội dung kinh tế và nguồn bù đắp ta có thể chia chi phí
kinh của doanh làm ba nhóm chủ yếu là chi phí đầu tư dài hạn, chi phí phúc lợi
và chí phí kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó, chi phí đầu tư dài hạn được
hiểu là những khoản chi phí phát sinh cần thiết để tạo ra các yếu tố của quá trình
kinh doanh theo mục tiêu nhằm phục vụ cho những phương hướng kinh doanh
trong tương lai của doanh nghiệp. Nhóm chi phí này bao gồm các khoản như:
chi phí đầu tư xây dựng cơ bản, chi phí cho việc nghiên cứu phát triển sản phẩm
mới, chi phí cho việc ứng dụng thiết bị công nghệ mới, chi phí mua thêm thiết
bị máy móc mới, chi phí đào tạo cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp.
Chúng được trang trải từ nguồn vốn đầu tư dài hạn của doanh nghiệp. Tiếp theo,

một thời kỳ đó và được bù đắp bằng chính thu nhập tạo ra từ chi phí đó.
Nói một cách tổng quát thì chi phí kinh doanh là biểu hiện những hao phí
lao động cá biệt mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong kỳ, chính vì vậy nó là căn cứ
để xác định số phải bù đắp của doanh nghiệp và nó là nhân tố ảnh hưởng trực
tiếp đến lợi nhuận. Do đó, nếu công tác quản lý chi phí không hợp lý, không
đúng với bản chất sẽ gây ra việc giảm lợi nhận. Điều này được thể hiện rõ qua
phương trình sau :
Lợi nhuận trước thuế = Doanh thu thuần - Chi phí kinh doanh.
Giả sử rằng doanh thu thuần là cố định thì việc hạ thấp chi phí kinh doanh
là biện pháp tối ưu nhất để tăng lợi nhuận trước thuế. Từ đây, ta nhận thấy vấn
đề cần quan tâm của các nhà quản trị tài chính đó là: Làm thế nào để luôn kiểm
soát được chi phí kinh doanh nghiệp để chi phí bỏ ra được sử dụng một cách tối
ưu và có hiệu quả nhất.
b. Đặc điểm Chi phí kinh doanh trong ngành giao thông vận tải.
Đối với các doanh ngiệp dịch vụ đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc
nghành giao thông vận tải việc quản lý chi phí có sự phức tạp và khó khăn
riêng. Nguyên nhân là do quá trình sản xuất, trao đổi và tiêu dùng cùng diễn ra
một lúc nên sản phẩm của doanh nghiệp dịch vụ có tính vô hình, không bảo
quản dự trữ được. Ở các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao thông vận tải
công cộng chi phí chiếm tỷ trọng lớn là những chi phí nhiên liệu, khấu hao, tiền
lương. Nó khác các doanh nghiệp dịch vụ thuộc diện sản xuất, chế biến như : ăn
uống công cộng, may mặc…thì chi phí về nguyên liệu chính là chiếm tỉ trọng
cao. Điều này cho ta thấy, việc quản lý chi phí trong các doanh nghiệp dịch vụ
vận tải cần phải linh hoạt, chú ý quản lý tốt các trang thiết bị phục vụ khách
hàng, xây dưng các định mức nhiên liệu phù hợp, cải tiến phương pháp phục vụ,
nâng cao trình độ tay nghề chuyên môn kỹ thuật và tinh thần phục vụ.
ĐINH CÔNG CHIẾN 4 LỚP : K39 - D4
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP KHOA : KẾ TOÁN-TÀI CHÍNH
Ngoài ra, sản phẩm được tạo ra là vô hình, sản xuất đồng thời là tiêu thụ
và không có dự trữ, không có sản phẩm dở dang. Nghành giao thông vận tải

chi phí có tính chất lương trả cho người lao động.
-Các khoản trích nộp theo quy định hiện hành của Nhà Nước như: Bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn.
-Khấu hao tài sản cố định: Đó là số tiền trích khấu hao tài sản cố định của
doanh nghiệp được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở kỳ
hoạch toán.
-Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là các chi phí trả cho tổ chức, cá nhân bên
ngoài doanh nghiệp về các dịch vụ mà họ đã cung cấp theo yêu cầu của doanh
nghiệp như chi phí vận chuyển, điện nước, chi phí kiểm toán, chi phí quảng cáo,
hoa hồng đại lý, uỷ thác, môi giới…
ĐINH CÔNG CHIẾN 5 LỚP : K39 - D4
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP KHOA : KẾ TOÁN-TÀI CHÍNH
-Chi phí bằng tiền khác như thếu muôn bài, thếu tài nguyên, nhà đất, phí
cầu đường, chi phí tiếp dân…
-Chi phí dự phòng là các khoản trích dự phòng giảm giá vật tư, hàng hoá,
nợ khó đòi được hạch toán vào chi phí trong kỳ của doanh nghiệp theo quy
định.
-Chi phí phát sinh từ các hoạt động tài chính như: Chi phí trả lãi tiền vay,
thuê tài sản, mua bán chứng khoán, liên doanh - liên kết, chiết khấu thanh toán
trả cho người mua khi họ thanh toán tiền hàng hoá - dịch vụ trước hạn và các
chi phí hoạt động tài chính khác.
Vậy chi phí chỉ được tính vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp khi
nó trực tiếp hoặc gián tiếp phát sinh phục vụ cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp và được bù đắp bằng doanh thu của kỳ đó. Ngoài ra, theo yêu cầu
của chế độ hoạch toán và chế độ quản lý của nhà nước chi phí phòng cháy chữa
cháy, phòng chống bão lụt, dân quân tự vệ …cũng được tính vào chi phí kinh
doanh.
Các khoản chi phí không thuộc phạm vi chi phí kinh doanh của doanh
nghiệp bao gồm:
-Chi phí đầu tư dài hạn của doanh nghiệp như: Chi xây dựng cơ bản, mua

tính toán chính xác các khoản nộp thuế ngân sách nhà nước đặc biệt là thuế thu
nhập doanh nghiệp.
2. PHÂN LOẠI CHI PHÍ KINH DOANH.
2.1. Phân loại theo nội dung kinh tế.
Các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra là để phục vụ cho các hoạt động
kinh doanh, trong các hoạt động kinh doanh ta có thể chia ra từng công đoạn.
Theo nội dung kinh tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bắt đầu từ việc
hình thành sản phẩm đến việc tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp phải bỏ ra những
chi phí như: Nguyên vật liệu, khấu hao tài sản cố định, lương công nhân, dịch
vụ mua ngoài và các khoản chi bằng tiền khác để hoạt động kinh doanh có thể
thực hiện. Những khoản chi phí đó cụ thể như sau.
*Chi phí nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu chính là những nguyên vật liệu sau quá trình gia công
chế biến sẽ cấu thành nên thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm. Tuy nhiên
trong quá trình sản xuất nguyên vật liệu chính còn bao gồm cả bán thành phẩm
mua ngoài để tiếp tục chế biến.
Nguyên vật liệu phụ là những nguyên vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ
trong sản xuất, được sử dụng kết hợp với vật liệu chính để làm thay đổi hình
dáng màu, sắc mùi vị hay dùng để bảo quản phục vụ cho hoạt động của các tư
liệu lao động hay phục vụ cho lao động của công nhân viên chức trong doanh
nghiệp. Vật liệu phụ ở đây bao gồm: Dầu nhờn, hồ keo, thuốc nhuộm, tẩy…
Nhiên liệu bao gồm những thứ dùng để cung cấp nhiệt lượng trong quá
trình sản xuất kinh doanh như xăng dầu, khí đốt, than đá.
Ngoài ra, chúng ta còn có thể phân loại chi phí nguyên vật liệu thành chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nguyên vật liệu gián tiếp. Chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính và
nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu… tham gia trực tiếp vào việc sản xuất chế tạo
sản phẩm hay thực hiện dịch vụ. Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp là những loại
vật liệu được sử dụng để kết hợp với nguyên vật liệu chính làm tăng thêm chất
lượng của sản phẩm cũng như vẻ đẹp của sản phẩm để sản phẩm có thể tồn tại

theo mức lương tháng và số ngày làm việc trong tháng và được tính:
Hình thức trả lương theo thơi gian đơn giản dễ tính, ít tốn thời gian tính
toán và chi phí phát sinh khác song hình thức trả lương này lại không khuyến
khích người lao động tăng năng suất công việc.
Bên cạnh chế độ tiền lương, thưởng được hưởng trong quá trình sản xuất
kinh doanh người lao động còn được hưởng các khoản trợ cấp thuộc quỹ bảo
hiểm y tế, bảo hiểm xã hội…trong các trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động…Các quỹ này hình thành một phần do người lao động đóng góp và phần
còn lại được tính vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp. Quỹ bảo hiểm y tế
được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng quỹ lương cấp bậc
và các khoản phụ cấp của người lao động trên thực tế phát sinh trong tháng.
Theo chế độ hiện hành tỷ lệ trích bảo hiểm xã hội là 20 % trên trên cơ sở quỷ
lương của doanh nghiệp trong đó 15 % là do đơn vị chủ sử dụng lao động nộp
và được tính vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp, còn 5 % trên lương là do
người lao động đóng góp và được trích trừ vào lương tháng của người lao động.
ĐINH CÔNG CHIẾN 8 LỚP : K39 - D4
Lương cấp bậcĐơn giá tiền
lương theo =
thời gian
Lương tháng theo
= từng người
Đơn giá tiền lương x
số ngày lao động định mức
Số ngày làm việc thực tế
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP KHOA : KẾ TOÁN-TÀI CHÍNH
Quỹ bảo hiểm xã hội được chi tiêu trong trường hợp người lao động ốm
đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí…quỹ này do cơ quan
bảo hiểm xã hội quản lý. Vì vậy, theo pháp luật quy định thì công ty phải ký
hợp đồng lao động và trình lên sở lao động thương binh và xã hội để làm căn cứ
lập sổ bảo hiểm xã hội. Sổ này ghi mức đóng góp của người lao động trong suốt

thuật nhưng giá bán lại thấp hơn hay có thông số kỷ thuật tiến bộ hơn nhưng giá
bán lại không cao hơn…Nói chung hao mòn vô hình liên quan đến sự mất giá
của tài sản cố định và không liên quan đến hao mòn vật chất của nó vì thế có
những tài sản cố định do chậm đem ra sử dụng đã bị hao mòn vô hình.
Khi tài sản cố định được sử dụng vào sản xuất kinh doanh thì sự chuyển
dịch giá trị hao mòn của nó vào chi phí của đối tượng sử dụng tài sản cố định và
được gọi là khấu hao. Khấu hao là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ
thống nguyên giá của tài sản cố định vào chi phí kinh doanh qua thời gian sử
ĐINH CÔNG CHIẾN 9 LỚP : K39 - D4
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP KHOA : KẾ TOÁN-TÀI CHÍNH
dụng của tài sản cố định. Tuy nhiên không phải bất cứ tài sản cố định nào cũng
được phép trích khấu hao mà chỉ có những tài sản cố định liên quan đến hoạt
động sản xuất kinh doanh thì mới được phép trích khấu hao, mức trích khấu hao
được hoạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ.
Chi phí khấu hao là khoản tiền trích ra do tài sản cố định bị hao mòn
trong quá trình sử dụng, dùng để tái sản xuất tài sản cố định của đơn vị theo đặc
điểm của việc hình thành và sử dụng quỹ khấu hao.
Nguyên giá tài sản cố định được lấy làm căn cứ để tính khấu hao và nó là
toàn bộ lượng giá trị đã đầu tư vào tài sản cố định tính đến thời điểm tài sản cố
định chính thức phục vụ sản xuất kinh doanh bao gồm chi phí thực tế đã chi ra
để có được tài sản cố định cho tới khi đưa tài sản cố định vào hoạt động bình
thường như giá mua, chi phí vận chuyển, lắp đặt, chạy thử gồm tài sản cố định
mua ngoài và tài sản cố định thuê tài chính.
Việc lựa chọn phương pháp khấu hao nào là do quy định của nhà nước
về chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp và theo yều cầu quản lý của
doanh nghiệp. Phương pháp khấu hao phải đảm bảo được yêu cầu thu hồi vốn
đầy đủ và phù hợp với đặc điểm từng nghành kinh tế. Trong thực tế, phần giá trị
hao mòn (hay phần giá trị tài sản cố định được phân bổ) được ghi nhận trong chi
phí sản xuất kinh doanh hay giá trị sản phẩm dịch vụ được tạo ra được coi là
một yếu tố chi phí và được gọi là chi phí khấu hao tài sản cố định. Bộ phận chi

tiện vận chuyển chuyên dùng của doanh nghiệp. các phương tiện vận chuyển
thuê ngoài thì doanh nghiệp phải trả tiền cho chủ phương tiện.
Chi phí bốc dở, khuân vác là khoản chi phí thuê công nhân bốc dở, khuân
vác hàng hoá lên phương tiện vận chuyển hoặc sang phương tiện vận chuyển
khác.
Các chi phí vận tải khác là số tiền chi phí thuê bao bì, bến bãi tạm thời,
tiền thuê đò phà, các khoản chi phí cần thiết khác để bảo quản hàng hoá trong
quá trình vận chuyển, chi phí này theo tỷ lệ phần trăm cước phí vận chuyển.
Chi phí hoa hồng là khoản tiền mà doanh nghiệp phải trả cho tập thể hoặc
cá nhân bán hàng đại lý cho doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ vận tải thì chi phí hoa hồng là khoản tiền doanh nghiệp trả cho người môi
giới của doanh nghiệp. Khoản hoa hồng này có thể tính bằng % trên giá bán
hoặc tính phần trăm trên hợp đồng thêu xe hoặc theo thoả thuận giữa doanh
nghiệp với đại lý, môi giới.
Tiền thuê kho, thuê bãi có thể tính theo ngày thuê cũng có thể tính theo
diện tích mặt bằng thuê, thoả thuận giữa doanh nghiệp với bên cho thuê.
Chi phí lãi vay là khoản chi phí doanh nghiệp phải trả cho việc huy động
vốn phục vụ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm cả vay ngắn hạn
và vay dài hạn.
Như vậy, đối với doanh nghiệp thì chi phí dịch vụ mua ngoài chiếm tỷ
trọng vừa phải song nhiều khoản kho hoạch toán, doanh nghiệp cần phân loại rõ
ràng từng khoản chi phí để quản lý tốt tránh lãng phí thất thoát, giảm giá thành
sản phẩm.
* Chi phí bằng tiền khác.
Là khoản chi ngoài các khoản chi ở trên, phát sinh trong quá trinh kinh
doanh của doanh nghiệp như chi phí tiếp khách, quảng cáo, hội nghị, đồ dùng
văn phòng…khoản chi phí này thực tế phát sinh tại mọi doanh nghiệp và không
có định mức cụ thể để quản lý.
Các khoản chi phí như vệ sinh quét dọn, quãng cáo, tiếp khách và giao
dịch góp phần mang lại cho doanh nghiệp uy tín, thương hiệu và có thể là các

nghiệp dù doanh nghiệp có hoạt động hay không doanh nghiệp vẫn phải trả
khoản chi phí này, chi phí thường liên quan đến cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp
như chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí trả tiền thuê đất, thuê văn phòng,
chi phí lãi vay, lương quản lý…đây là loại chi phí mà doanh nghiệp không thể
hạ thấp về không được.
- Định phí tuỳ ý là những khoản chi phí có thể thay đổi bằng các quyết
định của nhà quản trị như : Chi phí quảng cáo, chi phí nghiên cứu khoa học.

Chi phí
định phí
X
0
X
1
Mức hoạt động
Tóm lại, do bản chất khó thay đổi của định phí nên nếu muốn thay đổi
doanh nghiệp phải gán với các kế hoạch dài hạn của doanh nghiệp. Định phí là
bộ phận chủ yếu trong chi phí của doanh nghiệp nên trong công tác quản lý và
kế hoạch doanh nghiệp cần tính toán giảm tối đa định phí có thể theo hướng dài
hạn.
*Chi phí khả biến( hay chi phí biến đổi).
ĐINH CÔNG CHIẾN 12 LỚP : K39 - D4
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP KHOA : KẾ TOÁN-TÀI CHÍNH
Chi phí biến đổi là chi phí thay đổi khi trực tiếp theo sự thay
của doanh thu hay quy mô sản xuất, bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu, chi
phí dịch vụ được cung cấp như tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại, lương theo
sản phẩm…
Tổng chi phí khả biến của doanh nghiệp luôn thay đổi theo hướng thay
đổi của doanh thu, khi doanh thu tăng thì đồng nghĩa với tổng chi phí tăng lên
và ngược lại, trên lý thuyết thì biến phí có thể giảm tới không đó là khi doanh

2.3. Phân loại theo các khâu kinh doanh.
Các khâu kinh doanh trong doanh nghiệp gồm có sản xuất, tiêu thụ và
công tác quản lý các hoạt động đó, để thực hiện điều đó doanh nghiệp phải bỏ ra
chi phí. Phân loại theo cách này ta chia chi phí thành : Chi phí sản xuất, chi phí
tiêu thụ và chi phí quản lý.
* Chi phí sản xuất.
ĐINH CÔNG CHIẾN 13 LỚP : K39 - D4
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP KHOA : KẾ TOÁN-TÀI CHÍNH
Phân loại chi phí theo tiêu thức này, toàn bộ chi phí sản xuất của doanh
nghiệp được chia thành các yếu tố như sau:
- Nguyên liệu chính mua ngoài: Là toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính
dùng vào sản xuất mà doanh nghiệp phải mua từ bên ngoài, bao gồm mua
nguyên vật liệu, chi phí vận chuyển về kho, hao hụt định mức.
- Vật liệu phụ mua ngoài bao gồm các loại nhiên liệu như than, củi, điện,
dầu nhờn…mua từ bên ngoài dùng cho sản xuất của doanh nghiệp.
- Tiền lương bao gồm lương chính lương phụ của cán bộ, công nhân viên
trong doanh nghiệp.
- Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là số tiền tính theo tỷ lệ quy định trên
quỹ lương của doanh nghiệp trợ cấp mất sức lao động, hưu trí, ốm đau, tai
nạn… của công nhân.
- Khấu hao tài sản cố định là số tiền khấu hao những tài sản cố định dùng
trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Các chi phí khác bằng tiền bao gồm những chi phí về tiền mặt mà theo
tính chất kinh tế thì không thể sắp xếp vào các yếu tố kể trên như tiền công tác
phí, chi phí nước…
Chi phí sản xuất là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm và
cũng là bộ phận chi phí chủ yếu trong doanh nghiệp việc xác định rỏ từng bộ
phận cấu thành để quản lý tốt tránh lãng phí và có thể thực hiện tốt việc hạ giá
thành sản phẩm.
* Chi phí tiêu thụ sản phẩm.

- Chi phí cho công tác điều tra, nghiên cứu thị trường gồm chi phí thu
thập thông tin, phân tích thông tin…giúp cho công việc ra quyết định kinh
doanh.
- Chi phí cho đàm phán ký kết hợp đồng, việc đàm phán ký kết hợp đồng
có thể tự doanh nghiệp thực hiện khi đó chi phí đàm phán gồm chi phí đi lại, ăn
ở, công tác phí còn khi nhờ môi giới doanh nghiệp mất chi phí môi giới.
- Chi phí cho quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hội trợ triển lãm nhằm mở
rộng thị trường và đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm gồm các chi phí như thuê quản
cáo, chi phí thuê triển lãm, chi phí thực hiện tiếp thị khuyến mại và chi phí về
hàng tiếp thị khuyến mại, tặng kèm…
Chi phí tiêu thụ sản phẩm là yếu tố quyết định việc tiêu thụ sản phẩm
được tiến hành tốt hay không. Trong các yếu tố cấu thành nên chi phí tiêu thụ
sản phẩm có nhiều yếu tố khó định mức vì vậy việc quản lý chi phí tiêu thụ cần
thực hiện tốt tránh lãng phí và không ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ sản
phẩm.
* Chi phí quản lý.
Chi phí quản lý của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền về toàn bộ lao
động sống và lao động vật hoá phát sinh ở bộ máy quản lý của doanh nghiệp.
Đây là chỉ tiêu tương đối quan trọng đối với các doanh nghiệp nó phục vụ cho
bộ máy điều hành hoạt động của doanh nghiệp. Chi phí quản lý doanh nghiệp
bao gồm :
- Chi phí nhân viên quản lý: Là khoản tiền mà doanh nghiệp phải trả cho
cán bộ công nhân viên quản lý như tiền lương, phụ cấp và các khoản tính theo
lương.
- Chi phí đồ dùng văn phòng là toàn bộ chi phí về đồ dùng văn phòng
xuất dùng như giấy, bút, mực…sửa chữa cho tài sản cố định, công cụ, dụng cụ,
đồ dùng trong quản lý.
- Chi phí khấu hao ở bộ phận quản lý doanh nghiệp là chi phí về những
hao mòn của tài sản cố định dùng cho bộ phận quản lý như văn phòng làm việc
phương tiện, máy móc, thiết bị truyền dẫn…

kinh doanh phát sinh trong kỳ được kết chuyển (phân bổ) cho hàng hoá dịch vụ
đã tiêu thụ trong kỳ của doanh nghiệp.Tổng chi phí kinh doanh được xác định
trên cơ sở tính toán và tổng hợp từng khoản mục chi phí cụ thể, việc này phải
dựa vào việc tính toán và xác định từng khoản mục chi phí thực tế đã phát sinh
và phù hợp.
Tổng chi phí kinh doanh phân bổ cho hàng hoá- dịch vụ tiêu thụ trong kỳ
được tính bằng công thức:
F =F
dk
+ F
ps
- F
ck
Trong đó:
F: Là tổng chi phí kinh doanh phân bổ cho hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ
trong kỳ.
F
dk
: Là số dư chi phí kinh doanh đầu kỳ.
F
ps
: Là tổng chi phí kinh doanh phát sinh trong kỳ.
F
ck
: Là tổng chi phí kinh doanh phân bổ cho hàng hoá dự trữ cuối kỳ.
Tổng chi phí kinh doanh là một số tuyệt đối tính bằng tiền phản ánh quy
mô của chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được bù đắp từ doanh thu
của doanh nghiệp trong kỳ hạch toán. Song chưa phản ánh được trình độ sử
ĐINH CÔNG CHIẾN 16 LỚP : K39 - D4
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP KHOA : KẾ TOÁN-TÀI CHÍNH

đều tìm mọi biện pháp để hạ thấp tỷ suất chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
mình.
3.3. Mức độ tăng giảm tỷ suất chi phí kinh doanh ( ký hiệu là ∆F
/
).
Đây là chỉ tiêu phản ánh sự thay đổi về tỷ suất chi phí giữa hai kỳ kinh
doanh giữa kỳ so sánh với kỳ gốc. Mốc chênh lệch này được phản ánh bằng
công thức sau:
∆F
/
= F
/
1
- F
/
0
Trong đ ó :
∆F
/
: Là mức độ tăng hoặc giảm tỷ suất chi phí kinh doanh.
F
/
1
: Là tỷ suất chi phí kinh doanh kỳ so sánh.
F
/
0
: Là tỷ suất chi phí kinh doanh kỳ gốc.
Đối với doanh nghiệp khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà ta
chọn kỳ so sánh và kỳ gốc cho phù hợp. Ta có thể chọn kỳ gốc là kỳ kế hoặc

'
'
0
×

F
F

Trong đó:
T
F’
: Là tốc độ tăng giảm tỷ suất chi phí kinh doanh.
∆F
/
: Là mức độ tăng giảm tỷ suất chi phí kinh doanh.
F
/
0
: Là tỷ suất chi phí kinh doanh kỳ gốc.
Nếu như qua chỉ tiêu mức độ tăng giảm tỷ suất chi phí kinh doanh mới
chỉ xác định được độ lớn của phần tỷ suất tăng hay giảm thì chỉ tiêu tốc độ tăng
giảm tỷ suất cho ta thấy rỏ quá trình tăng giảm trên là nhanh hay chậm. Qua đó,
nhà quản lý sẽ nhận biết được sự thành công hay thất bại của việc phấn đấu
giảm chi phí kinh doanh vì trong một số trường hợp giữa hai thời kỳ của doanh
nghiệp hoặc giữa hai doanh nghiệp có cùng điều kiện so sánh đều có mức độ hạ
thấp chi phí là như nhau nhưng tốc độ tăng hoặc giảm như nhau, trong trường
hợp này doanh nghiệp hay kỳ nào đó có tốc độ giảm nhanh hơn thì được đánh
giá là tốt hơn và ngược lại.
3.5. Mức độ tiết kiệm hay lãng phí chi phí : ( ký hiệu là ∆F ).
Chỉ tiêu này cho biết với mức doanh thu trong kỳ và mức giảm (hoặc

Trong đó :
H : Là hệ số sinh lợi của chi phí kinh doanh
P : Là tổng lợi nhuận đạt được trong thời kỳ kinh doanh
F : Là tổng chi phí kinh doanh trong kỳ
Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, nó thể hiện mức sinh lợi của chi phí đã bỏ ra: Cứ một
đồng chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra sẽ thu về bao nhiêu đồng lợi nguận. Nếu hệ
số sinh lợi của doanh nghiệp nâng cao ( H càng lớn ) thì chứng tỏ khả năng kinh
doanh của doanh nghiệp là tốt hay nói các khác chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra
đã được sử dụng có hiệu quả và ngược lại nếu hệ số sinh lợi của doanh nghiệp
thấp ( H nhỏ ) chứng tỏ khả năng kinh doanh của doanh nghiệp kém.
Nhìn chung, tất cả các chỉ tiêu đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Do
vậy, để phân tích đánh giá được hiệu quả sử dụng chi phí kinh doanh một cách
toàn diện cần phải đi sâu phân tích các chỉ tiêu này với nhau để rút ra được kết
luận tổng quát, chặt chẽ và chính xác. Từ đó, đề ra những quyết định hay đánh
giá sát với tình hình thực tế của doanh nghiệp.
4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾT KIỆM CHI PHÍ KINH DOANH.
4.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh :
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp luôn chịu ảnh của rất
nhiều yếu tố từ môi trường bên trong và bên ngoài, doanh nghiệp muốn tồn tại
và phát triển thì phải biết kết hợp hài hoà giữa các nhân tố. Môi trường bên
trong bao gồm các nhân tố chủ quan của doanh nghiệp còn môi trường bên
ngoài bao gồm các nhân tố khách quan của doanh nghiệp. Do đó việc phân tích
các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh tức là phân tích các tác động của
các nhân tố từ môi trường bên trong và bên ngoài đến chi phí của doanh nghiệp.
4.1.1. Nhân tố khách quan.
Nhân tố khách quan là những nhân tố bên trong và ngoài doanh nghiệp,
nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp. Bởi vậy, thay vì việc cố gắng tác
động làm thay đổi các nhân tố này doanh nghiệp nên tìm mọi biện pháp để thích
nghi với chúng. Các nhân tố này luôn ảnh hưởng tới doanh nghiệp theo hai

độ tăng của chi phí biến đổi nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu khiến cho tỷ
suất chi phí kinh doanh giảm đi và doanh nghiệp có thể hạ thấp được chi phí.
Ngoài ra, khi mức lưu chuyển hàng hoá tăng thì tổng chi phí cố định không đổi
cũng góp phần vào việc giảm chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm được làm ra.
Ngược lại mức lưu chuyển giảm cũng đồng nghĩa với việc giảm doanh thu của
doanh nghiệp và làm cho chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm được làm ra tăng.
Khi đó doanh nghiệp còn bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh khiến chi phí cơ hội tăng
lên, chi phí trả cho việc sử dụng vốn cũng tăng do tốc độ thu hồi vốn chậm vốn
bị ứ đọng, sử dụng lãng phí.
*Ảnh hưởng của nhân tố môi trường kinh tế vĩ mô đến chi phí kinh
doanh.
Ngoài các nhân tố ảnh hưởng ở trên cò có rất nhiều các nhân tố ảnh
hưởng khách quan khác đến chi phí của doanh nghiệp như: Các chính sách, chủ
chương, đường lối phát triển kinh tế của nhà nước(môi trường kinh tế vĩ mô hay
môi trường kinh doanh của doanh nghiệp).
ĐINH CÔNG CHIẾN 20 LỚP : K39 - D4
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP KHOA : KẾ TOÁN-TÀI CHÍNH
Sự ảnh hưởng của nhà nước hay môi trường kinh tế vĩ mô là sự ảnh
hưởng, tác động đến doanh nghiệp bằng các đường lối pháp luật về kinh doanh,
luật tài chính và các văn bản có tính pháp quy dưới luật. Hệ thống này ràng
buộc về mặt pháp lý và tác động trực tiếp đến quá trình tổ chức quản lý sản xuất
kinh doanh. Nhà nước đóng vai trò hướng dẩn, kiểm soát và điều tiết ở tầm vĩ
mô, tạo lập hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động. Các doanh
nghiệp phải tuân thủ chế độ quản lý kinh tế của nhà nước như: chế độ tiền
lương, tiền công…và là chỗ dựa cho công tác quản lý chi phí kinh doanh của
doanh nghiệp bởi căn cứ vào chế độ kế toán – tài chính mà nhà nước đã quy
định các doanh nghiệp tiến hành việc áp dụng vào công tác phân tích, kiểm tra,
hoạch toán đúng, đủ chi phí. Tuy nhiên, thực tế hoạt động của các doanh nghiệp
Việt Nam đã chứng minh rằng hệ thống pháp luật thiếu và không đồng bộ gây
cản trở lớn cho mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp làm cho chi phí của

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP KHOA : KẾ TOÁN-TÀI CHÍNH
Đây là nhân tố quan trọng tác động chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong điều kiện hiện nay, khi khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão nhiều
nghành công nghệ mới ra đời và được áp dụng vào sản xuất kinh doanh làm
tăng năng suất lao động xã hội, giảm tiêu hao vật tư, vì vậy các doanh nghiệp có
nhiều điều kiện đổi mới công nghệ trang thiết bị máy móc, thay thế nguyên
nhiên, vật liệu từ đó giảm được chi phí sản xuất kinh doanh.
Nói tóm lại, nhân tố khách quan là yếu tố mà các doanh nghiệp không thể
cải tạo được mà chỉ có thể thích nghi. Ảnh hưởng của nó đến doanh nghiệp có
chung và đến chi phí nói riêng theo 2 chiều hướng tích cực và tiêu cực. Song
đây là nhân tố mà tất cả các doanh nghiệp khi tham gia vào nền kinh tế đều gặp
phải vì vậy doanh nghiệp phải biết khai thác triệt để những thời cơ, giảm thiểu
các mặt tiêu cực góp phần hạ thấp chi phí kinh doanh, là cơ hội để các doanh
nghiệp thành công hay thất bại.
4.1.2. Nhân tố chủ quan.
Đây là yếu tố nội tại bên trong doanh nghiệp gây ra ảnh hưởng mà doanh
nghiệp có thể kiểm soát được, nhóm nhân tố nay bao gồm:
*Ảnh hưởng của kết cấu mặt hàng kinh doanh đến chi phí kinh
doanh.
Nếu doanh nghiệp kinh doanh những hàng hoá có chất lượng tốt, giá cả
phù hợp, đa dạng về chủng loại, mẩu mã, phù hợp với thị hiếu của người tiêu
dùng sẽ là yếu tố góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ tạo điều kiện cho
doanh nghiệp có thể quay vòng vốn nhanh, giảm được các chi phí trong lưu
thông và chi phí lãi vay do huy động vốn từ bên ngoài. Ngược lại, nếu cơ cấu
mặt hàng kinh doanh không phù hợp, hàng hoá nghèo nàn về chủng loại, mẩu mã
…sẽ làm cho tốc độ tiêu thụ kém, làm tăng chi phí trong lưu thông như chi phí
bảo dưỡng, bảo quản…và chi phí lãi vay dẫn đến tổng chi phí cũng sẽ tăng lên
tương ứng. Về hình thức ảnh hưởng nay là do cơ cấu nghành hàng, mặt hàng
nhưng nguyên nhân sâu xa ở đây chính là sự hợp thị hiếu hay mức độ phù hợp
với nhu cầu tiêu dùng của các mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp đối với

tại doanh nghiệp tác động mạnh đến năng suất lao động. Nếu doanh nghiệp tuyển
chọn lao động tốt và tổ chức lao động khoa học hợp lý, chế độ thưởng phạt đúng
đắn sẽ kích thích người lao động cải tiến, phát huy sáng kiến trong sản xuất kinh
doanh thì năng suất lao động tăng lên và ngược lại. Ngoài ra, nếu doanh nghiệp
quan tâm đổi mới công nghệ phù hợp với đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp thì
tạo ra tiền đề cho năng suất lao động tăng lên.
*Ảnh hưởng của trình độ tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh và
chi phí, tài chính.
Trình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh tác động mạnh đến quá
trình hoạt động kinh tế của doanh nghiệp: Lựa chọn địa bàn hoạt động, nghành,
mặt hàng, dich vụ kinh doanh, lựa chọn phương pháp, giải pháp trong đầu tư
trong sản xuất kinh doanh tốt nhất đảm bảo cho doanh nghiệp đầu tư hiệu quả
cao làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh tiến triển tốt, tăng được doanh thu,
tăng được sức cạnh tranh, uy tín trên thị trường và ngược lại hiệu quả đầu tư
thấp lãng phí chi phí và giảm sức cạnh tranh và uy tín.
Trình độ quản lý tài chính tốt, giúp doanh nghiệp tổ chức huy động vốn
hợp lý và sử dụng vốn hiệu quả cao, tăng nhanh được vòng quay của vốn, tăng
doanh thu, đồng thời giảm được các chi phí liên quan đến dự trữ hàng hoá, từ đó
tiết kiệm được chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
Trình độ quản lý chi phí tốt còn giúp doanh nghiệp phát hiện kịp thời các
chi phí phát sinh không cần thiết cho hoạt đông sản xuất kinh doanh ở tất cả các
khâu kinh doanh và loại bỏ chúng nhằm tiết kiệm được chi phí cho doanh
nghiệp. Ngược lại, nếu các hoạt động quản lý không tốt sẽ làm tăng chi phí của
doanh nghiệp.
*Ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan khác.
Ngoài các nhân tố chủ quan ở trên, trong thực tế doanh nghiệp còn chịu
ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố chủ quan khác như: Văn hoá của doanh nghiệp,
ĐINH CÔNG CHIẾN 23 LỚP : K39 - D4
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP KHOA : KẾ TOÁN-TÀI CHÍNH
việc tổ chức mạng lưới cung ứng hàng hoá…đây cũng là các nhân tố ảnh hưởng

4.2. Các biện pháp hạ thấp chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với mọi doanh nghiệp việc hạ thấp chi phí kinh doanh là điều rất cần
thiết nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng làm được và càng không thể dể
dàng tìm ra một hệ thống các giải pháp chung cho mọi doanh nghiệp. Bởi vì,
mỗi doanh nghiệp đều có môi trường kinh doanh khác nhau, điều kiện thực tế
khác nhau. Do vậy, các nhà quản trị tài chính phải nhạy bén và có năng lực để
có thể vận dụng một cách linh hoạt các biện pháp sao cho phù hợp với thực tế
của doanh nghiệp mình. Qua nghiên cứu người ta đã tìm ra được một số giải
pháp giúp doanh nghiệp giảm chi phí kinh doanh, nâng cao lợi nhuận.
4.2.1. Làm tốt công tác marketing.
ĐINH CÔNG CHIẾN 24 LỚP : K39 - D4
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP KHOA : KẾ TOÁN-TÀI CHÍNH
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được bắt đầu từ phòng
marketing và kết thúc cũng ở phòng marketing. Điều đó, đã nói lên phần nào sự
quan trọng của công tác marketing, nghiên cứu thị trường. Trên góc độ nào đó,
ta có thể hiểu rằng công tác marketing là công việc tìm hiểu, nghiên cứu, dự
đoán nhu cầu của thị trường để doanh nghiệp có thể nắm bắt được cơ hội kinh
doanh trong tương lai. Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, nhu cầu,
thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng đa dạng phong phú không có giới hạn.
Chính vì thế, bất kể doanh nghiệp nào nếu không tổ chức tốt công tác marketing
điều đó có nghĩa là không nắm bắt được hay nắm bắt chậm nhu cầu của khách
hàng thì mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất ra sẽ không được
người tiêu dùng chấp nhận. Nếu tình trạng này kéo dài thì nguy cơ phá sản sẽ là
điều không tránh khỏi.
Tôn chỉ của các doanh nghiệp ngày nay đó là “Chỉ kinh doanh những cái
mà khách hàng cần chứ không phải kinh doanh những gì mình có”. Ngược lại,
nếu hoạt động marketing càng có hiệu quả bao nhiêu tức là chất lượng chủng
loại và giá cả mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất ra càng gắn với
nhu cầu của người tiêu dùng bao nhiêu thì tương lai mặt hàng đó càng tiêu thụ
tốt bấy nhiêu. Ở đây, tiêu thụ nhanh, tốt đồng nghĩa với việc tăng doanh thu,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status