www.document.vn
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận vẫn luôn
là mục tiêu cơ bản nhất của doanh nghiệp, nó chịu sự chi phối đến mọi hoạt động
của doanh nghiệp. Bất kỳ doanh nghiệp cũng luôn tìm và thực thi những giải pháp
nhằm hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra.
Nhưng để làm được điều này thì không hề đơn giản, nó đòi hỏi phải tìm được
hướng đi đúng cho doanh nghiệp của mình và một chế độ kế toán hợp lý. Việc hạch
toán chi phí để tính giá thành sản phẩm quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp và việc tăng hay giảm chi phí sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến
các chỉ tiêu kinh tế khác.
Thấy rõ tầm quan trọng trên cùng với quá trình học tại trường, em đã tập
trung phân tích và nghiên cứu đề tài:
"Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây
dựng Binh đoàn 11".
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chuyên đề chia thành 3 phần như
sau:
Phần I: Lý luận chuyên về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong các doanh nghiệp xây dựng, xây lắp.
Phần II: Tình hình thực tế kế toán chi phí sản xuất và tình giá thành sản phẩm
ở các doanh nghiệp xây lắp - Binh đoàn 11.
Phần III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng - Binh đoàn 11.
Vì thời gian và trình độ có hạn nên trong quá trình viết chuyên đề, em không
tránh khỏi những thiếu sót, em mong thầy cô góp ý để chuyên đề được hoàn thiện
hơn. Đồng thời em xin cảm ơn cô Lê Thị Bình đã giúp em hoàn thành bản chuyên
đề này.
Trang 1
www.document.vn
PHẦN THỨ NHẤT
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
dụng thường là dài, nó phụ thuộc vào quy mô và tính chất phức tạp về kỹ thuật của
từng công trình. Quá trình thi công thường được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi
giai đoạn thi công bao gồm nhiều công việc khác nhau. Khi đi vào từng công trình
cụ thể, do chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết khí hậu làm ngừng quá trình sản xuất và
làm giảm tiến độ thi công công trình. Sở dĩ có hiện tượng này vì phần lớn có các
công trình đều thực hiện ở ngoài trời do vậy mà điều kiện thi công không có tính ổn
định, luôn biến động theo địa điểm xây dựng và theo từng giai đoạn thi công công
trình.
Các công trình được ký kết tiến hành đều được dựa trên đơn đặt hàng, hợp
đồng cụ thể của bên giao thầu xây lắp. Cho nên phụ thuộc vào nhu cầu của khách
hàng và thiết kế kỹ thuật của công trình đó. Khi có khối lượng xây lắp hoàn thành
đơn vị xây lắp phải đảm bảo bàn giao đúng tiến độ, đúng thiết kế kỹ thuật, đảm bảo
chất lượng công trình.
2. Yêu cầu của công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp
Do đặc thù của xây dựng và của sản phẩm xây dựng nên việc quản lý về đầu
tư xây dựng cơ bản có khó khăn phức tạp hơn một số ngành khác. Chính vì thế
trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản phải đáp ứng yêu cầu sau:
- Công tác quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản phải đảm bảo tạo ra những sản
phẩm, dịch vụ được xã hội và thị trường chấp nhận về giá cả, chất lượng, đáp ứng
các mục tiêu phát triển kinh tế.
- Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của
nhân dân.
- Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn đầu tư trong nước
cũng như nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, khai thác tốt tiềm năng lao động, tài
nguyên đất đai và mọi tiềm lực khác nhằm khai thác hết tiềm năng của đất nước
phục vụ cho quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo bền vững
mỹ quan. Thực hiện cạnh tranh trong xây dựng nhằm đáp ứng công nghệ tiên tiến
Trang 3
lý đảm bảo cung cấp một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác các số liệu cần thiết cho
công tác quản lý. Cụ thể là:
Trang 4
www.document.vn
- Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với tổ chức sản
xuất ở doanh nghiệp đồng thời xác định đúng đối tượng tính giá thành.
- Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát
sinh.
- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí, vật tư, nhân công sử
dụng máy thi công... và các dự toán chi phí khác. Phát hiện kịp thời các khoản chênh
lệch so với định mức dự toán các khoản chi phí ngoài kế hoạch, các khoản thiệt hại,
mất mát, hư hỏng trong sản xuất để ngăn chặn kịp thời.
- Tính toán chính xác, kịp thời giá thành sản phẩm xây lắp các sản phẩm là
lao vụ hoàn thành của doanh nghiệp.
- Kiểm tra việc thực hiện hạ giá thành của doanh nghiệp theo từng công trình,
hạng mục công trình, từng loại sản phẩm... vạch ra khả năng và các mức hạ giá
thành hợp lý, hiệu quả.
- Xác định đúng đắn, bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng công tác xây
lắp hoàn thành. Định kỳ kiểm tra và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo quy
định.
- Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công
trình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công, tổ đội sản xuất... trong từng thời
kỳ nhất định. Kịp thời lập báo cáo kế toán về chi phí sản xuất và tính giá thành công
tác xây lắp. Cung cấp chính xác, nhanh chóng các thông tin về chi phí sản xuất và
tính giá thành phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp.
4.Vai trò, ý nghĩa của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng hiện nay
4.1. Vai trò
Hạch toán kinh tế thúc đẩy tiết kiệm thời gian lao động, động viên các nguồn
dự trữ nội bộ của doanh nghiệp và đảm bảo tích luỹ tạo điều kiện mở rộng không
= C + V + m
Trong đó:
G
XL
: Giá trị sản phẩm xây lắp
C : toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất tiêu hao trong
quá trình tạo ra sản phẩm
V : Là chi phí tiền lương, tiền công phải trả cho
người lao động tham gia
m : Là giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình
tạo ra sản phẩm
Về mặt lượng chi phí sản xuất phụ thuộc vào 2 yếu tố:
Trang 6
www.document.vn
- Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã bỏ ra trong quá trình xây lắp ở
một thời kỳ nhất định.
- Giá tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiền lương của
một đơn vị lao động đã hao phí.
Trong điều kiện giá cả thường xuyên thay đổi như hiện nay thì việc tính toán
đánh giá chính xác chi phí sản xuất là một điều khá quan trọng. Nhât là trong điều
kiện hiện nay doanh nghiệp phải tự chủ trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh,
kinh doanh phải có lãi và bảo toàn được vốn.
1.2. Phân loại chi phí sản xuất
Trong doanh nghiệp xây lắp, các chi phí sản xuất bao gồm có nội dung kinh
tế và công dụng khác nhau. Yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác nhau, vì
vậy việc quản lý sản xuất, tài chính, không những dựa vào số liệu tổng hợp mà còn
căn cứ vào số liệu cụ thể của từng công trình, hạng mục công trình trong từng thời
kỳ nhất định.
Không phân loại chi phí một cách chính xác thì việc tính giá thành không thể
thực hiện được. Việc phân loại đựơc tiến hành theo các tiêu thức sau:
sản phẩm.
* Chi phí nhân công trực tiếp gồm tiền lương cơ bản, các khoản phụ cấp
lương. Với khoản chi phí tiền lương của công nhân điều khiển máy tính trong đơn
giá XDCB cũng tính vào chi phí nhân công trực tiếp. Còn chi phí tiền lương của cán
bộ quản lý công trình (bộ phận gián tiếp) được tính vào chi phí sản xuất chung chứ
không phải là chi phí nhân công trực tiếp.
*Chi phí sản xuất chung bao gồm tiền lương cơ bản, các chế độ bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, KPCĐ cho nhân viên quản lý, các khoản chi phí khác bằng tiền
hoặc công cụ, dụng cụ cũng tính vào chi phí sản xuất chung của doanh nghiệp.
*Chi phí sử dụng máy thi công gồm tiền lương, các khoản phải trích theo
lương của nhân viên điều khiển máy, chi phí khấu hao máy và vật liệu.
+ Chi phí gián tiếp (chi phí sản xuất chung) là những chi phí phục vụ cho
việc quản lý sản xuất phát sinh trong quá trình xây lắp tạo ra sản phẩm hoặc thực
hiện các đòi hỏi ở bộ phận tổ đội sản xuất.
Trang 8
www.document.vn
* Chi phí quản lý doanh nghiệp là toàn bộ chi phí quản lý chung các hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí sản xuất, quản lý hành
chính và các chi phí khác.
* Chi phí hoạt động khác là chi phí phát sinh trong quá trình tiến hành các
hoạt động khác ngoài hoạt động sản xuất của doanh nghiệp bao gồm: Chi phí về
hoạt động tài chính và chi phí hoạt động bất thường.
Phân loại theo mục đích, công dụng của chi phó có tác dụng xác định số chi
phí đã chi cho từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, làm cơ sở để tính giá
thành và kết quả hoạt động sản xuất. Theo cách phân loại này thì chi phí sản xuất
chế tạo ra sản phẩm sẽ là những chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm khi hoàn
thành.
Ngoài ra có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng hai cách phân loại trên
được sử dụng nhiều hơn cả bởi vì trong dự toán công trình xây lắp thì chi phí sản
xuất được phân công theo từng khoản mục.
lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành. Như vậy bản chất của giá thành sản phẩm
là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố chi phí vào sản phẩm xây lắp nhất định đã
hoàn thành.
Giá thành sản phẩm có hai chức năng chủ yếu là chức năng thước đo bù đắp
chi phí và chức năng lập giá.
Toàn bộ chi phí mà các doanh nghiệp chi ra sẽ hoàn thành một khối lượng
công tác xây lắp, một công trình hay hạng mục công trình phải được bù đắp bằng
chính số tiền thu về do quyết toán công trình, hạng mục công trình. Việc bù đắp này
nhằm bảo đảm quá trình sản xuất giản đơn. Mục đích đòi hỏi các doanh nghiệp phải
đảm bảo trang trải bù đắp mọi chi phí đầu vào của quá trình sản xuất phải có
lãi.Trong cơ chế thị trường giá bán sản phẩm phụ thuộc nhiều vào quy luật cung cầu
và sự thoả thuận giữa doanh nghiệp với khách hàng. Giá bán của sản phẩm xây
dựng là giá nhận thầu. Vậy giá nhận thầu là biểu hiện giá trị của công trình hạng
mục công trinh phải dựa trên cơ sở giá thành dự toán để xác định thông qua việc bán
sản phẩm. Còn giá bán sản phẩm lao vụ là biểu hiện giá trị của sản phẩm phải dựa
trên cơ sở giá thành sản phẩm để xác định. Thông qua giá bán sản phẩm mà đánh
giá được mức độ bù đắp chi phí và hiệu quả chi phí.
2.3. Các loại giá thành sản phẩm công tác xây lắp.
2.3.1. Giá thành dự toán.
Trang 10
www.document.vn
Sản phẩm XDCB là thời gian thi công dài do đó mỗi công trình hạng mục
công trình đều có giá trị dự toán để xác định giá thành dự toán.
= + Lãi định mức
Giá thành dự toán = Giá trị dự toán – Lãi định mức
Với lãi định mức là số phần trăm trên giá thành xây lắp do nhà nước quy
định đối với từng loại hình xây lắp khác nhau, từng sản phẩm xây lắp cụ thể. Giá trị
dự đoán của công trình, hạng mục công trình được xác định trên cơ sở định mức
đánh giá của cơ quan thẩm quyền ban hành và dựa trên mặt bằng giá cả thị trường.
Nó chính là giá nhận thầu của đơn vị xây lắp đối với đơn vị chủ thầu đầu tư.
- Khối lượng này phải được xác định cụ thể và được bên chủ đầu tư nghiệm
thu và chấp nhận thanh toán.
- Phải đạt được điểm dừng kỹ thuật hợp lý giá thành khối lượng sản phẩm
hoàn thành quy ước. Phản ánh kịp thời chi phí sản xuất cho đối tượng xây lắp giúp
cho doanh nghiệp phân tích kịp thời chi phí đã chi ra cho từng đối tượng để có biện
pháp quản lý thích hợp.
2.4. Phân biệt giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất là cơ sở hình thành nên giá thành sản phẩm. Tuy nhiên giữa
chúng cũng có sự khác biệt, sự khác biệt đó thể hiện như sau:
- Về phạm vi: chi phí sản xuất chỉ tình trong từng thời kỳ, còn giá thành sản
phẩm lại bao gồm cả chi phí khối lượng xây lắp dở dang kỳ trước chuyển sang
nhưng lại trừ đi chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ.
- Chi phí sản xuất được tập hợp theo từng thời kỳ nhất định còn giá thành
xây dựng là chi phí sản xuất được tính cho công trình hạng mục hay một công trình
hoàn thành.
Nhưng giữa chúng cũng có điểm giống nhau bởi vì chúng có cùng bản chất
đó là điều phản ánh những chi phí hao phí trong quá trình sản xuất. Giá thành xây
lắp và chi phí sản xuất thống nhất về mặt lượng trong trường hợp: đối tượng tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành là một công trình, hạng mục công trình được hoàn
thành trong kỳ tính giá thành hay giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ bằng giá trị sản
phẩm dở dang cuối kỳ.
III. NỘI DUNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH
TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.
1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành.
1.1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp
Trang 12
www.document.vn
Theo thông tư số 23 BXDNKT ngày 15/12/1994 của Bộ xây dựng thì dự toán
xây lắp gồm các khoản mục: chi phí vật liệu, nhân công, máy thi công, chi phí
chung, thuế và lãi.
chứng từ gốc ta tập hợp từng chi phí cho từng đối tượng sản xuất.
Trường hợp doanh nghiệp xác định đối tượng tập hợp chi phí là công trình
hay hạng mục công trình thì hàng tháng căn cứ vào các chi phí phát sinh có liên
quan đến công trình hay hạng mục công trình nào thì tập hợp chi phí cho công trình
đó.
2.1.2. Phương pháp phân bổ gián tiếp.
Được áp dụng với những chi phí gián tiếp liên quan đến nhiều đối tượng kế
toán chi phí sản xuất. Vì vậy phải xác định theo phương pháp phân bổ gián tiếp.
Để phân bổ cho các đối tượng phải chọn tiêu thức phân bổ và tính hệ số phân
bổ chi phí.
Công thức: H = C/T
Trong đó: H: Hệ số phân bổ chi phí
C: Tổng chi phí cần phân bổ
T: Tổng đại lượng của tiêu thức phân bổ
Mức chi phí phân bổ cho từng đối tượng tính theo công thức sau:
Ci = H x Ti
Trong đó: Ci: Chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng i
Ti: Đại lượng của tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng i
Trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là đội thi công hay công
trường thì chi phí sản xuất phải tập hợp theo đội thi công hay công trường. Cuối kỳ
tổng số chi phí tập hợp phải được phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình
để tính giá thành sản phẩm riêng.
2.2. Trình tự kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp.
2.2.1. Kế toán chi phí vật liệu trực tiếp.
Chi phí nguyên liệu, vật liệu cho công trình gồm nhiều loại khác nhau như
giá trị thực tế của vật liệu chính (gạch, đá, vôi, cát, xi măng...) vật liệu phụ như sơn,
công cụ dụng cụ... nó chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm.
Trang 14
www.document.vn
Giá trị hạch toán được tính vào khoản mục này, ngoài giá trị thực tế ngoài
giờ làm việc thực tế, sóo ngày nghỉ của từng người sau khi đã được kiểm tra và
chuyển lên phòng lao động để ghi chép, theo dõi sau đó để làm cho phòng kế toán
có căn cứ tính lương và phân bổ tiền lương.
Về nguyên tắc chi phí nhân công trực tiếp cũng được tập hợp giống chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp.
Trường hợp cần phân bổ gián tiếp thì tiêu thức phân bổ có thể là tiền công,
giờ công, định mức hợac giờ công thực tế,.
Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
(1) : Tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất
(2) : Các khoản trích BHXH, BHYT, CPCĐ
(3) : Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp để tính giá thành
2.2.3. Kế toán chi phí sử dụng máy thi công
Tài khoản 623 dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng xe, máy thi công
phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp.
Tài khoản này chỉ sử dụng để hạch toán chi phí sử dụng xe, máy thi công đối
với doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình theo phương thức thi công hỗn hợp
(vừa thủ công vừa kết hợp máy móc).
Trang 16
154
334 622
338 (2-4)
(1)
(2)
(3)
www.document.vn
Trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình hoàn toàn bằng máy
thì không sử dụng tài khoản 623 mà doanh nghiệp hạch toán các chi phí xây lắp trực
tiếp vào các TK 621, 622, 627.
Không hạch toán vào tài khoản 623 khoản trích về BHXH, BHYT, KPCĐ
tính trên lương phải trả công nhân sử dụng máy thi công.
Các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên
lương của công nhân sử dụng máy không
hạch toán vào TK 623
www.document.vn
2.2.4. Kế toán chi phí sản xuất chung
Là những chi phí liên quan đến phục vụ, quản lý sản xuất trong phạm vi các
phân xưởng, tổ đội sản xuất như chi phí tiền lương cho nhân viên quản lý phân
xưởng, khấu hao TSCĐ...
Các chi phí sản xuất chung thường được hạch toán chi tiết riêng theo từng
địa điểm phát sinh chi phí phân xưởng, tổ đội sản xuất sau đó mới tiến hành phân bổ
cho các đối tượng chịu chi phí liên quan. Việc phân bổ cũng được tiến hành dựa trên
các tiêu thức phân bổ hợp lý như định mức chi phí sản xuất chung, chi phí trực tiếp
phân bổ theo từng loại chi phí.
Kế toán chi phí sản xuất chung.
(1) : Chi phí nhân viên
(2) : Chi phí vật liệu, CCDC
(3) : Chi phí khấu hao TSCĐ, dịch vụ bên ngoài
(4) : Chi phí khác bằng tiền
(5) : K/c hoặc phân bổ CFSXC để tính giá thành.
3. Đánh giá sản phẩm dở dang trong DN xây lắp
Trang 18
334, 338
152, 142
214, 331
111, 333
627
(1)
(2)
(3)
(4)
CP thực tế
KLXL thực
hiện trong kỳ
CPKLXLHT
bàn giao
trong kỳ
CPKLXLDD
cuối kỳ theo dự
toán
+
CPTTKLXL
thực hiện trong
kỳ
Giá trị
DTKLXLHT
bàn giao
trong kỳ
Giá trị
DTKLXL DD
cuối kỳ
+ +
www.document.vn
Theo phương pháp này chi phí thực tế khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ
được xác định như sau:
=
Ngoài ra đối với một số công việc sửa chữa, hoàn thiện hoặc xây dựng các
công trình có giá trị nhỏ, thời gian thi công ngắn theo hợp đồng được bên chủ đầu tư
thanh toán sau khi hoàn thành.
Lúc này giá trị sản phẩm dở cuối kỳ là toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh từ
khi thi công cho đến thời điểm kiểm kê đánh giá.
loại chi phí tập hợp trên toàn bộ công trình đều phải tiến hành phân bổ cho từng
HMCT đó.
Khi đó giá thành thực tế của HMCT:
Z
H
= G
dti
x H
Trong đó: H: Tỷ lệ phân bổ giá thành thực tế H = [(TC, TG
dt
) x 100%]
G
dt
: Giá thành dự toán của hạng mục công trình
TC: tổng chi phí thực tế của HMCT
TG
dt
: Tổng dự toán của tất cả HMCT.
4.2. Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
Áp dụng cho các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp theo đơn đặt hàng, đối
tượng tập hợp chi phí là từng đơn đặt hàng. Kỳ tính giá thành không phù hợp với kỳ
báo cáo mà là khi đơn đặt hàng hoàn thành. Đối tượng tính giá thành là đơn đặt
hàng hoàn thành.
Theo phương pháp này hàng tháng chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp
theo từng đơn đặt hàng và khi hoàn thành thì chi phí sản xuất theo đơn tập hợp được
cũng chính là giá thành thực tế của đơn đặt hàng.
Nếu đơn đặt hàng gồm nhiều HMCT, công trình đơn nguyên khác nhau thì
phải tính toán, xác định chi phí của từng HMCT, công trình đơn nguyên liên quan
đến đơn đặt hàng. Những chi phí trực tiếp được tập hợp thẳng vào HMCT, công
trình đơn nguyên thì cần phải phân bổ theo tiêu thức hợp lý.
- Các sổ, thẻ kế toán chi tiết.
5.3. Hình thức sổ nhật ký chứng từ ghi sổ.
Căn cứ trực tiếp để ghi là chứng từ ghi sổ, việc ghi bao gồm:
* ghi theo trình tự thời gian trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
*Ghi theo nội dung kinh tế trên sổ cái
Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp
cùng loại cùng nội dung kinh tế.
- Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
Trang 22
www.document.vn
- Sổ cái
- Các sổ, thẻ kế toán chi tiết.
Trang 23
www.document.vn
PHẦN THỨ HAI
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM Ở XÍ NGHIỆP XÂY DỰNG – BINH ĐOÀN 11
I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA XÍ NGHIỆP XÂY DỰNG
1. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty được thành lập ngày 7/7/1960 với nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng các
công trình công nghiệp và dân dụng trong phạm vi cả nước. Đến ngày 18/3/1977
công ty đổi tên thành Công ty xây dựng số 1 trực thuộc Bộ Xây dựng. Nhiệm vụ chủ
yếu trong thời gian này là xây dựng các công trình phúc lợi và cũng trong thời gian
này công ty đã được nhà nước trao huân chương lao động hạng ba.
Công ty bao gồm nhiều xí nghiệp trực thuộc có quy mô lớn. Để đáp ứng yêu
cầu ngày càng lớn của xây dựng công ty lần lượt ra quyết định tách ba xí nghiệp
thuộc công ty thành các công ty trực thuộc.
+ Năm 1984 tách xí nghiệp 104 thành công ty xây dựng số 2
+ Năm 1986 tách xí nghiệp trực thuộc 106 thành công ty xây dựng Tây Hồ.
+ Năm 1992 tách xí nghiệp hoàn thiện trực thuộc thành công ty xây dựng số
viên có trình độ lành nghề.
2. Đặc điểm tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý sản xuất của công ty
Hiện nay công ty gồm 6 xí nghiệp trực thuộc.Đây là công ty có quy mô lớn,
địa bàn hoạt động rộng nên việc tổ chức lao động thành các xí nghiệp trực thuộc tạo
điều kiện thuận lợi cho công ty trong việc quản lý và phân công lao động ở nhiều
điểm thi công khác nhau với nhiều công trình khác nhau một cách hiệu quả.
Từ trước 1/1/1995 công ty tổ chức hạch toán kế toán phân tán, các xí nghiệp
trực thuộc tổ chức hạch toán riêng, các công ty kế toán xử lý chứng từ ban đầu đến
lập báo cáo gửi về công ty do bộ phận kế toán xí nghiệp thực hiện, trên cơ sở đó
phòng kế toán tập hợp báo cáo chung toàn công ty.
Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty gồm có: Giám đốc, phó giám đốc, các
phòng ban chức năng và các xí nghiệp trực thuộc.
- Đứng đầu là giám đốc chỉ đạo điều hành chung mọi hoạt động của công ty,
đại diện pháp nhân của công ty trước pháp luật, ... Giúp việc cho giám đốc là hai
phó giám đốc: phụ trách kế hoạch tiếp thị và hai phó giám đốc kỹ thuật thi công có
điện. Trong trường hợp giám đốc đi vắng phó giám đốc thay mặt điều hành hoạt
động của công ty.
Trang 25