Tài liệu Đề tài " nghiên cứu, tìm tòi phát triển KHCN là một vấn đề rất quan trọng" - Pdf 10


TRƯỜNG
KHOA…………………… TIỂU LUẬN

Đề tài
Nghiên cứu, tìm tòi phát triển KHCN
là một vấn đề rất quan trọng
TiÓu luËn triÕt häc
I. LỜI MỞ ĐẦU
Trong sự nghiệp CNH - HĐH hiện nay KHCN đang chiếm một vị trí đặc
biệt quan trọng. Bởi vì nước ta tiến lên CNXH từ một nền kinh tế phổ biến là sản
xuất nhỏ, lao động thủ công là phổ biến. Cái thiếu thốn của chúng ta là một nền
đại công nghiệp. Chính vì vậy, chúng ta phải tiến hành CNH - HĐH. Trong thời
đại ngày nay, CNH phải gắn liền với HĐH. CNH - HĐH ở nước ta là nhằm xây
dựng CSVC kỹ thuật cho CNXH. Đó là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ
quá độ tiến lên CNXH ở nước ta.
Ngay từ khi bắt đầu quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm
hoàn thiện và đổi mới quan điểm, các chủ trương, chính sách trong lĩnh vực khoa
học và công nghệ. Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị (Khoá VI) đã nêu rõ: "Đại hội
lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới, coi khoa học và công nghệ là một
động lực mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới, ổn định tình hình và phát triển kinh tế
xã hội theo định hướng XHCN, coi những người làm khoa học và công nghệ là
đội ngũ cán bộ tin cậy, quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta". Nghị
quyết của Hội nghị lần thứ 7 BCHTW (Khoá VII) trong phần về chủ trương phát
triển công nghiệp và công nghệ đến năm 2000 đã nêu rõ quan điểm: "Khoa học,
công nghệ là nền tảng của CNH - HĐH. Kết hợp công nghệ truyền thống với
công nghệ hiện đại tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định".
Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội VIII vừa qua Đảng lại nhấn mạnh: "Khơi dậy
2
TiÓu luËn triÕt häc
II. PHẦN NỘI DUNG
1. NGUYÊN LÝ TRIẾT HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cách mạng khoa học - Công nghệ được thực hiện trên cơ sở lý
luận khoa học phát triển không ngừng:
Đó là điểm khác biệt quan trọng nhất của cuộc cách mạng Khoa học - Kỹ
thuật lần này (Cách mạng Khoa học - công nghệ mới đối với chủ nghĩa tư bản
hiện đại) với các lần trước. Nhìn lại lịch sử phát triển của Khoa học - Kỹ thuật có
thể thấy rằng, tuy hai cuộc cách mạng trước cũng dựa trên sự đột phá về mặt lý
luận của Khoa học tự nhiên, lấy đó để dẫn đường, như nhiệt lực học và lực học
của NiuTơn xuất hiện trước cuộc cách mạng Khoa học - Kỹ thuật lần thứ nhất và
điện học xuất hiện trước cuộc cách mạng KHKT lần hai, nhưng khoảng cách
giữa sự đột phá lý luận và sáng tạo kỹ thuật cũng như ứng dụng kỹ thuật vào
thực tế là rất dài, mối quan hệ giữa những yếu tố đó không trực tiếp lắm, rất
nhiều phát minh về kỹ thuật đều là những sáng tạo riêng của những người thực

dựa trên công nghệ riêng của mình. Tuy nhiên, một nguyên lý mang tính
phương pháp luận chung cũng như sự phân tích so sánh quốc tế có thể cung cấp
thông tin có giá trị cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà lập kế hoạch
trong khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân.
Việc xây dựng kế hoạch phát triển dựa trên công nghệ phải bằng sự lựa
chọn chứ không phải là ngẫu nhiên. Điều đó có thể đạt được bằng sự thuyết
phục, tính quyết định, sự quyết tâm và hơn hết phải là ý trí chính trị mãnh liệt - ý
trí kiến tạo tương lai của một quốc gia sử dụng công nghệ như một công cụ để
phát triển.
Trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng hiện nay, công nghệ
là một biến số chiến lựơc sống còn cho sự phát triển nhanh chóng kinh tế - xã
hội. Nếu có một kế hoạch sử dụng công nghệ thích hợp, nó có thể là một chiếc
chìa khoá cho một xã hội phồn vinh, cho toàn thể nhân loại. Do đó, công nghệ là
hi vọng lớn nhất để nâng mức sống của một số lớn những người nghèo trên thế
giới. Mặc dù những vấn đề mà các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình
Dương phải đối phó là ít trầm trọng hơn so với những khu vực khác, nhưng
chúng vẫn đủ nghiêm trọng để gây ra những căng thẳng xã hội đáng kể. Vì vậy,
cần thiết phải có một hành động khẩn cấp để tìm cách giải quyết những vấn đề
căng thẳng như: Tăng dân số, thất nghiệp tăng, giảm mức sống, suy kiệt tài
nguyên và huỷ hoại môi trường. Mục tiêu là phát triển kinh tế xã hội bền vững
thông qua việc áp dụng khôn ngoan công nghệ sao cho các thế hệ hiện tại và
tương lai sẽ được hưởng một cuộc sống tốt đẹp.

4
TiÓu luËn triÕt häc
đoạn

Loại giai
đoạn
chuyển
đổi
CS dữ
liệu về
các loại
biến đổi
chuẩn
Cấp Nh
nước

Xu
hướng
quốc tế
v các
c
ơ
h

i
ĐNH GI
NHU CẦU
CÔNG NGHỆ

Kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội quốc gia
Đánh giá cấu

Các chuỗi
phát triển
côn
g

Các tác
nhân thúc
đẩy công
ngh

Các mặt của
CS hạ tần
g

ĐNH GI
NĂNG LỰC
CÔNG NGHỆ

Các khía cạnh PT
KT - XH kinh
đi

n
Tình trạng CS hạ
tầng v dịch vụ
hỗ trợ
Đội ngũ CB
KHKT v chi phí
cho
ĐNH GI MÔI

n
Các nguồn lực

SƠ ĐỒ LẬP KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI DỰA TRÊN CÔNG NGHỆ

5
TiÓu luËn triÕt häc

2. CÁCH MẠNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ - VẤN ĐỀ CÓ TÍNH CHẤT
THỜI ĐẠI.
2.1. Nguyên nhân của cuộc cách mạng Khoa học - Công nghệ:
2.1.1. Tác dụng và ảnh hưởng của chiến tranh thế giới:
Chiến tranh thế giới thứ hai là một tai hoạ to lớn chưa từng có trong lịch
sử loài người, nhưng lại có tác dụng thúc đẩy nhất định đối với sự phát triển của
KHKT. Để dành thắng lợi trong chiến tranh các nước đế quốc đã dốc sức và
nghiên cứu KHKT quân sự. Các bên tham chiến cạnh tranh kịch liệt trong việc
phát minh và sử dụng các vũ khí và trang bị mới như: Ra đa, tên lửa, máy bay
phản lực, bom nguyên tử Trong chiến tranh Đức là nước đầu tiên dùng tên lửa
mang đầu đạn có điều khiển, còn Mỹ là nước đầu tiên sử dụng bom nguyên tử.
Việc phát minh và sử dụng vũ khí, trang thiết bị mới không quyết định thắng bại
cuối cùng, song quả thực nó ảnh hưởng quan trọng đối với cuộc chiến. Sau
chiến tranh thế giới thứ hai, rất nhiều bộ môn KHKT quân sự được ứng dụng vào
ngành công nghiệp dân dụng, điều đó không những mở ra rất nhiều ngành công
nghiệp mới, mà còn nâng cao nhanh chóng năng suất lao động của toàn bộ nền
kinh tế quốcdân. Chỉ riêng điểm này có thể thấy rằng những thành tựu KHKT
giành được sau chiến tranh, là do loài người đã phải trả cái giá rất đắt mới có
được.
2.1.2. Sự thúc đẩy cuộc chạy đua vũ trang giữa các siêu cường quốc
Sau chiến tranh, do thế giới hình thành cơ cấu hai cực Mỹ và Liên Xô, sự
đối lập và đối kháng Đông - Tây rất nghiêm trọng, khiến các quốc gia này chiến

và tự động hóa Điều đó đòi hỏi phải có sự hợp tác và phối hợp mạnh mẽ.
Trong tình hình đó sự phát triển cao độ của chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà
nước, ở mức độ rất lớn đãđáp ứng được những đòi hỏi về mặt này của sự phát
triển KHCN hiện đại. Chỉ nói riêng về chi phí cho nghiên cứu mỗi năm chính
phủ các nước tư bản bỏ ra xấp xỉ một nửa số kinh phí của toàn bộ việc nghiên
cứu của các nước này. Hơn nữa, số kinh phí đó phần lớn tập trung vào các đề tài
nghiên cứu khoa học tương đối lớn và cơ bản, nên tác dụng thúc đẩy KHCN của
nó càng mạnh mẽ.
Ngoài phương diện kinh phí nghiên cứu KHKT, chính phủ các nước tư
bản ngày nay còn có tác dụng rất to lớn trong việc bồi dưỡng nhân tài để phát
triển nghiên cứu khoa học. Một vấn đề then chốt của tiến bộ KHCN hiện nay là
phải có một loại nhân tài KHKT phù hợp và có chất lượng cao, ngay cả những cá
nhân bình thường cũng cần nâng cao trình độ KHKT mới có thể đáp ứng được
yêu cầu của nền kinh tế hiện đại.
Tác dụng thúc đẩy tiến bộ KHCN của chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà
nước còn thể hiện ở chỗ nó làm cho sự hợp tác quốc tế về KHKT ngày càng mở
rộng.

7
TiÓu luËn triÕt häc
2.1.4. Cạnh tranh độc quyền ác liệt vẫn là một nhân tố quan trọng thúc
đẩy tiến bộ KHKT.
Bước vào giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước, độc quyền
càng không thể tiêu diệt được cạnh tranh, quy mô của cạnh tranh mở rộng, mức
độ cạnh tranh ác liệt. Cạnh tranh càng ác liệt, càng buộc các nhà tư bản độc
quyền không ngừng nghiên cứu kỹ thuật công nghệ mới, sử dụng công nghệ mới
để làm ra các sản phẩm mới, nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh
tranh. Do đó, cạnh tranh vẫn như trước đây, là một sức mạnh bên ngoài thúc đẩy
tiến bộ KHCN.
Các xí nghiệp tư bản độc quyền ở các nước tư bản ngày nay không tiếc

Ngoài máy tính sinh học ra, các loại máy tính mô phỏng óc người, máy
tính quang học cũng đang trong quá trình nghiên cứu chế tạo. Sự phát triển của
máy tính điện tử tuy trải qua chừng nửa thế kỷ nhưng triển vọng của nó vẫn vô
cùng rộng lớn đang làm phấn chấn lòng người.
2.2.2. Công nghệ thông tin
Nếu nói kỹ thuật điện tử là cơ sở của kỹ thuật thông tin, thì kỹ thuật thông
tin là bộ phận mấu chốt của công nghệ tin học ngày nay. Thông tin là hệ thống
thần kinh của XH hiện đại, không có sự phát triển của công nghệ thông tin sẽ
không thể có sự truyền bá và sử dụng hàng ngàn hàng vạn thông tin trong XH
hiện đại.
Sự phát triển của công nghệ thông tin được đo bằng chỉ tiêu: Tỷ số giá cả/
Hiệu suất. Ở các OECD, người ta ước tính đã thu được 20% lợi nhuận từ công
nghệ thông tin. Trong 10 năm tới, giá cả của công nghệ thông tin sẽ giảm nhanh
và hiệu quả của thông tin sẽ càng lớn hơn. Tại Mỹ, nước chiếm 20% thị trường
sản phẩm công nghệ thông tin thế giới đang bùng nổ cuộc cách mạng thông tin.
Một số công ty lớn đang thử nghiệm việc xây dựng "Hệ thống thông tin cao
cấp". Đây là hệ thống liên kết giữa máy điện thoại + Máy thu hình + Máy vi tính
cho phép truyền thông 2 chiều và đa chiều, làm cho việc truyền tin và lưu tin
được nhanh chóng, tự do hơn. Cuộc cách mạng về thông tin đang làm cho nhiều
ngành công nghiệp phát triển vượt bậc, trong đó đặc biệt là ngành vật liệu mới.
2.2.3. Công nghệ vật liệu mới.
Công nghệ vật liệu mới là công nghệ thông qua phương pháp khoa học để
chế tạo ra các vật liệu thay thế cho vật liệu thiên nhiên. Sự xuất hiện của các lọai
vật liệu mới không những giảm bớt sự phụ thuộc của con người vào tài nguyên
thiên nhiên, mà còn làm cho sự nghiên cứu chế tạo và phát triển các loại sản
phẩm có trình độ KHKT cao trở thành hiện thực. Trong các loại kỹ thuật vật liệu
mới, hiện nay những thứ phát triển nhanh nhất và có triển vọng nhất là vật liệu
cho thông tin, vật liệu tổng hợp và nguyên liệu năng lượng mới Trong những

9

thông tin truyền dẫn, việc sử dụng kỹ thuật không gian càng tương đối rộng rãi.
Do khoảng không vũ trụ có những điều kiện hết sức đặc biệt như: Độ chân
không rất cao; trọng lực cực nhỏ, vô trùng nên có thể chế tạo ở đó những sản

10
TiÓu luËn triÕt häc
phẩm mà trên trái đất không thể chế tạo được: Sản phẩm có độ sạch cao, vật liệu
siêu dẫn, tinh thể thuần khiết 2.3. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về khoa học và công
nghệ.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam ngày càng
nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của KHCN trong sự nghiệp XD và bảo vệ
Tổ quốc. Các quan điểm của Đảng về KHCN được thể hiện cụ thể và phát triển
qua mỗi thời kỳ, nhằm giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng, đồng
thời XD tiềm lực khoa học cho những bước phát triển kế tiếp của đất nước. Cho
đến nay, hệ quan điểm đó đã phát triển qua 5 thời kỳ.
2.3.1. Thời kỳ 1945 - 1954:
Ngay sau cách mạng tháng 8/1945 thành công, nước VNDCCH đã phải
đương đầu với vô vàn những khó khăn nghiêm trọng: Kinh tế kiệt quệ, văn hoá
GD hết sức lạc hậu, thù trong giặc ngoài âm mưu bóp chết nền cộng hoà non trẻ
và xâm chiếm nước ta một lần nữa. Trong tình thế hiểm nghèo ấy ĐCSVN đứng
đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đích thân vận động một phong trào toàn dân
chống nạn thất học, coi "Chống giặc dốt" là một trong 3 nhiệm vụ lớn của cách
mạng Việt Nam lúc bấy giờ.
Nhận rõ vai trò của kiến thức trong việc bảo vệ độc lập dân tộc và kiến
quốc, ĐCSVN đã tỏ ra quan điểm quý trọng và xác định đúng đắn vị trí trí thức
trong XH mới, trong nước Việt Nam mới "Trí thức là vốn quý của một dân tộc,
không có trí thức hợp tác với công nông thì cách mạng không thể thành công và

công tác khoa học và kỹ thuật trong tình hình và nhiệm vụ mới". Nghị quyêt
nhấn mạnh: "Để giành thắng lợi trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, nền kinh
tế miền Bắc nước ta phải đảm bảo những yêu cầu của chiến đấu, của đời sống
nhân dân và không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và quốc phòng Một
trong những biện pháp quan trọng là đẩy mạnh cách mạng kỹ thuật trong thời
chiến. Vì vậy, cần động viên lực lượng hiện có về khoa học và kỹ thuật của
chúng ta để phục vụ cuộc cách mạng KHKT trong thời chiến. Ban bí thư nhận
định: "Khả năng trước mắt về khoa học và kỹ thuật của ta còn xa mới đáp ứng
được yêu cầu của cuộc cách mạng kỹ thuật ấy, và tích cực chuẩn bị để phục vụ
đắc lực cuộc cách mạng kỹ thuật trên quy mô lớn với trình độ cao và trong
phạm vi cả nước sau khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc thắng lợi".
2.3.4. Thời kỳ 1975 - 1985

12
TiÓu luËn triÕt häc
Ngày 20/4/1981 Bộ Chính trị có Nghị quyết 37-NQ/TW về chính sách
khoa học và kỹ thuật, trong đó thể hiện một quan điểm: "Cần khẳng định rằng
trong điều kiện kinh tế càng khó khăn, trình độ kỹ thuật của sản xuất càng thấp
kém, thì càng phải chú trọng đầu tư cho các hoạt động khoa học và kỹ thuật, cho
công tác đào tạo cán bộ khoa học và công nhân kỹ thuật - Chính đó là con đường
góp phần nhanh chóng nâng cao năng suất lao động XH và giải quyết triệt để
những khó khăn trong sản xuất và trong nền kinh tế hiện nay".
Tháng 3/1982 Đại hội lần thứ V của Đảng đã nêu rõ phương hướng nhiệm
vụ và những mục tiêu chủ yếu về kinh tế và XH năm 1981 - 1985, trong đó nhấn
mạnh: "Trước hết khoa học và kỹ thuật phải phục vụ tốt nhất cho việc đưa nông
nghiệp một bứơc lên sản xuất lớn XHCN trong cơ cấu công - nông nghiệp hợp
lý". Đối với nhiệm vụ lâu dài của khoa học và công nghệ Nghị quyết Đại hội lần
thứ V của Đảng đã chỉ ra: "XD từng bứơc nền khoa học và kỹ thuật tiên tiến của
nước CHXHCNVN có cơ cấu phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá và
XH, có khả năng giải quyết những yêu cầu trước mắt và những mục tiêu lâu dài

2.4. Ảnh hưởng của cuộc cách mạng Khoa học - Công nghệ
Ảnh hưởng của cuộc cách mạng KHCN mới đối với CNTB hiện đại là hết
sức to lớn, vượt xa ảnh hưởng của các cuộc cách mạng KHKT trước đây đối với
đời sống chính trị, kinh tế của XH đương thời.
2.4.1. Cuộc cách mạng Khoa học - Công nghệ liên quan đến hầu như
toàn bộ các lĩnh vực KHKT với mức độ rộng lớn chưa từng có.
2 cuộc cách mạng KHKT trước nổ ra chủ yếu trong ngành động lực và
ngành chế tạo, còn cuộc cách mạng KHCN lần này thì xâm nhập vào mọi mặt
đời sống của loài người như: Nông nghiệp, công nghiệp, năng lựơng, giao thông,
dịch vụ, thậm trí môi trường sinh thái Vì vậy, mà ảnh hưởng của nó đối với
chính trị - KT - XH là toàn diện và sâu sắc. Nếu nói tiến bộ KHKT trước đây
chủ yếu nhằm vào đòi hỏi phát triển sức sản xuất, thì một đặc điểm quan trọng
của cách mạng KHKT lần này là đồng thời với việc thúc đẩy sự phát triển sức
sản xuất, nó chủ yếu còn nhằm vào duy trì và cải thiện điều kiện và môi trường
sống của con người.
2.4.2. cuộc cách mạng KHCN rút ngắn nhanh chóng quá trình biến
KHCN thành lực lượng sản xuất, làm cho khoa học và công nghệ phục vụ sự
phát triển KT - XH càng nhanh hơn, tốt hơn. Lấy việc phát minh và ứng dụng
máy hơi nước làm ví dụ: Năm 1705, người ta đã phát minh ra máy hơi nước cớ
lớn, năm 1925 Stivenson mới phát minh ra xe lửa chạy bằng máy hơi nước. Từ
khi phát minh ra máy hơi nước đến khi nó được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất
và vận tải, phải tới hơn 100 năm. Việc phát minh ra động cơ đốt trong, quá trình
rút ngắn còn lại 80 năm. Còn việc tìm ra và ứng dụng năng lượng nguyên tử chỉ
cần đến 40 năm. Lại lấy ví dụ như máy điện thoại từ khi phát minh ra đến khi sử
dụng rộng rãi phải mất 60 năm, còn vô tuyến truyền hình phức tạp hơn rất
nhiều, nhưng quá trình đó chỉ có 14 năm. Máy tính điện tử chỉ trong vòng thời
gian ngắn (14 năm) đã trải qua 4 thế hệ. Có thể thấy rõ là, từ KHKT chuyển

14
TiÓu luËn triÕt häc

không chỉ có một, hai ngành, mà là xuất hiện hàng loạt ngành công nghiệp mới
như: Công nghiệp điện tử, công nghiệp khoa học, công nghiệp nguyên tử, công
nghiệp sinh vật, công nghiệp tàu vũ trụ phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự xuất

15
TiÓu luËn triÕt häc
hiện hàng loạt ngành nghề mới, các ngành nghề cũ không bị xoá bỏ, mà đựơc cải
tạo một cách triệt để. Việc sử dụng rộng rãi máy dệt không có thoi, đầu máy hơi
nước, sự phát triển rộng rãi của lò luyện thép điện và đúc gang liên hoàn, sự tăng
vọt của hệ thống máy công cụ điều khiển Tất cả những cái đó khiến cho các
ngành công nghiệp cũ như dệt và xe lửa, gang thép đều đổi mới về chất lượng.
Sự phát triển của cuộc cách mạng KHCN mới và các ngành nghề cũ ngày càng
kết hợp chặt chẽ với nhau. Các ngành mới lấy công nghiệp truyền thống làm chỗ
dựa và thị trường chủ yếu cho sự phát triển của mình, các ngành cũ thì dựa vào
các ngành cải tạo kỹ thuật mà tăng thêm sức sống mới. Sự kết hợp chặt chẽ 2
mặt này sẽ là xu thế quan trọng của sự phát triển KHKT từ nay về sau.
2.5. Quá trình đổi mới chính sách KHCN ở nước ta:
Quá trình đổi mới chính sách KHCN ở nước ta thực chất là quá trình phát
triển tư duy lý luận khoa học bằng những bổ sung thực tiễn vận động KT - XH.
Một quá trình hoàn thiện lý luận hướng tới chân lý khách quan: KHCN là động
lực phát triển KT - XH đất nước.
2.5.1. Các giai đoạn cải cách chính sách KHCN trong tiến trình cải cách
KT - XH.
Căn cứ bản chất nội dung từng chặng đường phát triển của chính sách
KHCN trong tương lai, chúng ta có thể phân chia quá trình cải cách trong chính
sách KH và CN ở nước ta theo 3 giai đoạn với những nội dung khá đặc trưng.
2.5.1.1. Giai đoạn I (1975 - 1980): Cải cách trong khuôn khổ Nhà nước
tổ chức mọi hoạt động KH và CN với một hệ thống chỉ huy tập trung.
Nội dung cải cách trong giai đoạn này ở nước ta cũng như hàng loạt nước
XHCN là nhằm vào việc hoàn thiện hệ thống kế hoạch hoá, hình thành phương

nền kinh tế chỉ huy trước đây rõ ràng không đủ điều kiện đáp ứng những đòi hỏi
của việc tạo ưu thế cạnh tranh và phát triển XH trong 1 nền kinh tế thị trường vì
nhiều lý do khác nhau.
Mạng lưới nghiên cứu và triển khai được tổ chức theo đòi hỏi của nền KT
chỉ huy trước đây đang tự nó chuyển đổi thích ứng với tiến trình cải cách, cần
phân tích tiến trình này để đề ra những giải pháp thích hợp.
Thực trạng mạng lưới nghiên cứu và triển khai đã được phân tích trong
các báo cáo của Viện nghiên cứu quản lý KH. Những nghiên cứu gần đây cho
thấy hiện nay cần được tập trung thảo luận để tìm ra giải pháp về các vấn đề sau.
2.5.2.1.1. Tổ chức nghiên cứu KH trong trường đại học.

17
TiÓu luËn triÕt häc
Theo mô hình tổ chức KH cũ trước đây, trong hệ thống trường đại học
không có các đơn vị nghiên cứu KH. Chế độ hợp đồng nghiên cứu KH được thiết
lập năm 1981 làm nảy sinh nhu cầu khách quan về thành lập các đơn vị nghiên
cứu KH có tư cách pháp nhân độc lập.
2.5.2.1.2. Tổ chức nghiên cứu công nghệ.
Các tổ chức nghiên cứu công nghệ vốn là những viện trực thuộc các bộ
"Sản xuất - Kinh doanh" hoạt động dưới sự "Chỉ huy trực tiếp" của Bộ, tồn tại
song song với các xí nghiệp thuộc Bộ. Các tổ chức này hiện đang đứng trước
những thử tách trước nhu cầu tồn tại và đang trải qua những diễn biến của trình
tự sắp xếp mạng lưới nghiên cứu và triển khai trong quá trình chuyển đổi cơ chế
quản lý KT ở Việt Nam.
2.5.2.1.3. Các Viện Quốc gia
Khuynh hướng tổ chức các Viện Quốc gia theo mô hình Viện Hàn lâm
Liên Xô (cũ) đã từng tồn tại trong 1 thời gian dài ở nước ta. Hiện nay khuynh
hướng này hầu như không còn nữa. Nhà nước đã có quyết định thành lập một số
Trung tâm KH Quốc gia để nghiên cứu những vấn đề phục vụ các nhiệm vụ ưu
tiên của nhà nước, hoặc những vấn đề tuy không phục vụ nhiệm vụ ưu tiên của

(vi mô) và tới đây là công nghệ vi - quang tử (siêu vi mô).
2.7. Mặt trái của cách mạng KHCN đối với sự phát triển của CNTB
hiện đại.
Cách mạng KHCN đã thực sự như một cứu cánh cho CNTB ngày nay,
nhưng mặt khác, nó cũng đặt CNTB trước những vấn đề gay cấn.
2.7.1. Sự tiêu vong của các nghề nghiệp truyền thống và nạn thất
nghiệp cơ cấu.
Trong các nước tư bản phát triển, lực lượng lao động trực tiếp sản xuất
giảm đi theo đà áp dụng người máy, Rô bốt và hệ thống máy móc sản xuất và
điều khiển sản xuất tự động hoá. Do đó làm cho những nghề nghiệp truyền thống
đòi hỏi nhiều sức bắp, nhiều hao phí lao động sống ngày càng bị tiêu vong. Lao
động trí óc ngày càng được đề cao và phát triển, do đó làm nạn thất nghiệp cơ
cấu tăng lên.
2.7.2. Khoảng cách giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang
phát triển ngày càng lớn hơn.
Ngoài các quốc gia giàu có đang bước vào thời đại "hậu công nghiệp", 3/4
dân số của thế giới ngày nay đang phải vật lộn với sự nghèo khổ. Đại đa số các
nước đang phát triển có tốc độ phát triển chậm, CN lạc hậu, khả năng tham gia
phân công lao động quốc tế yếu, các lợi thế nhân công, nguyên liệu mất dần
Giữa họ và các nước giàu có có một khoảng cách CN khá xa. Và nếu không cẩn
thận, họ dễ trở thành nơi chứa các chất "phế thải"do yêu cầu phát triển KHCN ở

19
TiÓu luËn triÕt häc
các nước tư bản phát triển đưa tới. Mặc dù các nước đã vận dụng những phát
minh sáng chê của nước ngoài rồi biến thành bí quyết công nghệ của riêng mình
đã mở ra nhiều khả năng vận dụng cho các nước đi sau. Song, trong điều kiện
của CNTB, số nước vận dụng được cơ may như trên khó có thể trở thành phổ
biến. Khoảng cách giàu - nghèo, tiên tiến và lạc hậu trên thế giới vẫn là vấn đề
nan giải của CNTB ngày nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Một số vấn đề về chính sách phát triển KH và CN - Phó Tiến sĩ
Nguyễn Văn Thuỵ (Chủ biên) - Nxb Chính Trị Quốc gia Hà Nội, 1994
Từ trang 163 - 211
2. KH và CN lực lượng sản xuất hàng đầu - GS Tiến sĩ Vũ Đình Cự -
Nxb Chính Trị Quốc gia Hà Nội, 1996
Từ trang 9 - 17
3. Chủ nghĩa tư bản hiện đại (T.1) Khoa học - công nghệ và phát triển
kinh tế - Lê Văn San (Chủ biên ), Đào Lê Minh, Trần Quang Lâm - Nxb Chính
Trị Quốc gia Hà Nội, 1995
Trang 20 - 79
4. Phương pháp lập kế hoạch phát triển năng lực công nghệ (T1)-
Nguyên lý phát triển dựa trên cơ sở công nghệ.
Người dịch: Tạ Bá Hưng, Trần Thu Lan, Nguyễn Nhật Huy
Trung Tâm thông tin thư viện khoa học và Công nghệ Quốc gia
Trung Tâm thông tin KHKT Hoá chất Hà Nội, 1997
Trang 39 - 49
5. Văn kiện đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính Trị Quốc gia
Hà Nội, 2001
Trang 112 - 113

21
TiÓu luËn triÕt häc
6. Giáo trình triết học Mác - LêNin, Nxb Chính Trị Quốc gia Hà nội,
2004
Trang 372 - 373


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status