đào minh đức, 02.02.2011
1
SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH VĨNH LONG
CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN TÀI SẢN TRÍ TUỆ CỦA DOANH NGHIỆP
Chuyên đề
MÔ THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
QUẢN TRỊ TÀI SẢN TRÍ TUỆ TRONG DOANH NGHIỆP
TS. Đào Minh Đức
1. Tóm tắt 01
2. Sáng kiến đổi mới và tài sản trí tuệ 02
3. Đối tượng sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ 03
4. Các đơn vị tài sản trí tuệ trong các mặt hoạt động khác nhau của doanh nghiệp 06
5. Các rủi ro thường gặp liên quan đến các tài sản trí tuệ 09
6. Một số đặc điểm của hoạt động quản trị tài sản trí tuệ 13
7. Một mô thức tổ chức hoạt động quản trị tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp 15
8. Một số kết quả ban đầu trong việc tổ chức hoạt động nghiên cứu và thực hành về
quản trị tài sản trí tuệ tại Thành phố Hồ Chí Minh
21
9. Kết luận 22
1. Tóm tắt
Quản trị tài sản trí tuệ là một trong các lĩnh vực quản trị chuyên ngành tương đối mới, xuất
hiện tại các nước phát triển từ thập niên 1990s, nhưng chưa được nghiên cứu và áp dụng một cách
có hệ thống tại Việt Nam.
Theo yêu cầu chia sẻ kinh nghiệm với một số doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Long, bài viết giới thiệu
một số đúc kết ban đầu qua các hoạt động nghiên cứu và thực hành của tập thể thành viên tham
gia Chương trình Đào tạo Quản trị viên Tài sản trí tuệ do Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM
phối hợp cùng Viện Khoa học Sở hữu Trí tuệ Việt Nam thuộc Bộ KH&CN tổ chức, bắt đầu từ
tháng 5.2008, với sự hỗ trợ chuyên môn của nhiều chuyên gia, công chức thuộc nhiều tổ chức
khác nhau như: Văn phòng Đại diện Cục Sở hữu Trí tuệ, Văn phòng Đại diện Cục Bản quyền Tác
giả, Văn phòng Đại diện Cục Trồng trọt, Văn phòng Đại diện Cục Quản lý Cạnh tranh… tại
TP.HCM, Trung Tâm Internet Việt Nam, Hội Sở hữu Trí tuệ TP.HCM , nhằm góp phần triển
“Tài sản” theo nghĩa pháp lý được phân thành bốn dạng: tiền, vật, giấy tờ có giá và “quyền
tài sản”
2
. “Quyền tài sản” là các quyền trị giá được bằng tiền và có thể trao đổi trong giao dịch
1
Thuật ngữ “innovation” được nhiều nhà nghiên cứu và thực hành khác nhau hiểu và diễn giải theo một số cách
khác nhau, phù hợp với góc độ chuyên môn của mỗi giới. Trong quản trị sản xuất/cung ứng dịch vụ, “innovation”
có thể được dịch đơn giản là “sáng kiến” bao gồm cả sáng kiến kỹ thuật và sáng kiến kinh doanh (pháp luật về
sáng kiến của Việt Nam trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa dùng cụm từ “sáng kiến cải tiến kỹ thuật và hợp lý
hóa sản xuất). Trong quản trị công nghệ, “innovation” thường được hiểu là các giải pháp cụ thể hóa các sáng
chế (invention) vào sản xuất/cung ứng dịch vụ. Gần đây, ở góc độ quản lý vĩ mô, nhiều người đang sử dụng
thuật ngữ “innovation” với ý nghĩa là các “giải pháp đổi mới” mang tính hệ thống. Để có thể dung hợp được
nhiều cách hiểu khác nhau trong việc xây dựng lĩnh vực nghiên cứu về quản trị tài sản trí tuệ (intellectual asset
management) tại Việt Nam, người viết sử dụng thuật ngữ “sáng kiến đổi mới” mà trong bối cảnh quản trị vi mô,
có thể gọi vắn tắt là sáng kiến.
2
Theo Điều 163 Bộ Luật Dân sự
đào minh đức, 02.02.2011
3
dân sự (như quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê mướn cầu thủ, thỏa thuận gia công ), kể cả quyền
sở hữu trí tuệ
3
. Quyền sở hữu đối với một tài sản cụ thể
4
bao gồm ba khía cạnh: quyền chiếm
hữu tài sản
5
, quyền sử dụng tài sản
.
3
Theo Điều 181 Bộ Luật Dân sự
4
Theo Điều 164 Bộ Luật Dân sự
5
Được định nghĩa tại Điều 182 Bộ Luật Dân sự
6
Được định nghĩa tại Điều 192 Bộ Luật Dân sự
7
Được định nghĩa tại Điều 195 Bộ Luật Dân sự
8
Các định nghĩa này này được đưa ra tại Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ
đào minh đức, 02.02.2011
4
Tập hợp các đối tượng sở hữu trí tuệ mà một doanh nghiệp nắm giữ được gọi là tập đối
tượng sở hữu trí tuệ (IP Portfolio) của doanh nghiệp đó. Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện
hành quy định có ba nhóm đối tượng sở hữu trí tuệ sau
9
:
¾ Đối tượng của quyền tác giả là các loại tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; đối
tượng của quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm: cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi
hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá;
¾ Đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp bao gồm: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,
thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ
dẫn địa lý;
¾ Đối tượng của quyền đối với giống cây trồng: là vật liệu nhân giống và vật liệu thu
hoạch
Một đối tượng sở hữu trí tuệ nếu thỏa mãn các điều kiện bảo hộ độc quyền tương ứng của
nhỏ để kiểm nghiệm thực tế về nhu cầu (need) và ý thích (wants) của khách hàng và may mắn là
sản phẩm mới được thị trường hưởng ứng, các đối thủ cạnh tranh sẽ nhận biết ngay được thời cơ
kinh doanh mới và nếu họ lại mạnh hơn về lợi thế thương mại, lợi thế công nghệ, lợi thế tài chính
hoặc lợi thế hình ảnh, doanh nghiệp X có thể sẽ không kịp xác lập được thị phần kỳ vọng. Ngược
lại, nếu doanh nghiệp X đã tổ chức nghiên cứu thị trường (vốn khá tốn kém), ghi nhận được các
đánh giá lạc quan và quyết định sẽ tung sản phẩm trên quy mô lớn nhằm tạo rào cản ban đầu đối
với các đối thủ cạnh tranh; sau đó, mức độ hưởng ứng thực tế của khách hàng mục tiêu lại không
đạt kỳ vọng, kế hoạch doanh thu trong ngắn và trung hạn sẽ gặp vấn đề lớn.
Đây là một trong các thách thức thường gặp đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng gánh
nặng marketing này có thể được giảm nhẹ nếu doanh nghiệp X quan tâm xác lập quyền sở hữu trí
tuệ đối với sáng chế hoặc/và kiểu dáng công nghiệp hoặc/và giống cây trồng hoặc/và quyền tác
giả hoặc/và nhãn hiệu có thể có… đối với sản phẩm mới đó. Thí dụ, với ngày ưu tiên được ghi
nhận trên các đơn đăng ký hợp lệ đối với sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp… liên
quan, doanh nghiệp X đã tạo dựng được một lợi thế pháp lý
11
ban đầu để có thể yên tâm xúc
tiến chiến dịch tung sản phẩm mới ở bất kỳ quy mô nào, với bất kỳ mức giá nào
12
mà doanh
nghiệp cho là phù hợp nhất, mà chưa cần phải bận tâm đến các phản ứng ngắn hạn của các đối
thủ cạnh tranh
Trong kinh doanh quốc tế, quyền sở hữu trí tuệ càng thể hiện rõ hơn vai trò của một lợi thế
pháp lý trong việc bảo vệ các cơ hội đầu tư. Giả định, cũng doanh nghiệp X khi chào thử một
mẫu hàng thủ công mỹ nghệ mới qua thị trường một số nước phát triển và may mắn nhận được
tín hiệu đáp ứng lạc quan từ thị trường quốc tế, thể hiện qua các đơn đặt hàng ngày càng nhiều.
Ứng xử truyền thống của doanh nghiệp X thường là tiếp tục khai thác hoặc nếu cần thì mở rộng
năng lực sản xuất hiện hữu để đáp ứng nhu cầu. Tuy nhiên, nếu chú ý đến việc mẫu hàng mới đó
có thể được bảo hộ quyền tác giả theo Công ước Berne tại trên 160 nước khác trên thế giới,
doanh nghiệp X có thể vận dụng thêm một phương thức kinh doanh khác: chọn lựa một hoặc một
số đối tác cùng ngành nghề tại từng nước sở tại, đàm phán cấp quyền sử dụng (hợp đồng li-xăng
sản xuất hàng hóa/cung ứng dịch vụ của một doanh nghiệp như sau:
Trong khâu chuẩn bị sản xuất, các đơn vị tài sản trí tuệ thường xuyên được vận dụng đến
hoặc có thể phát sinh mới như: các bí mật kinh doanh về danh sách của một số nhà cung ứng đặc
biệt hoặc phương thức giao nhận – thanh toán một số vật tư đầu vào đặc biệt, các bí mật kinh
doanh hoặc sáng chế về quy trình nhập/lưu/xuất kho, các sáng kiến cải tiến hoặc các sáng chế mới
đối với các phương tiện/công cụ hoặc quy trình xếp dỡ/bảo quản/vận chuyển/kiểm tra/ lưu kho,
các sáng chế về thiết kế cấu trúc hệ thống hoặc giải thuật đối với phần mềm quản lý vật tư
hoặc/và chương trình máy tính tương ứng…
Trong khâu tổ chức sản xuất, các đơn vị tài sản trí tuệ thường xuyên được vận dụng đến
hoặc có thể phát sinh mới như:
+ Các sáng kiến hoặc sáng chế về xử lý nguyên/vật liệu, về cải tiến/thiết kế mới đồ gá/công
cụ/mạch điện-điện tử/thiết bị, về cải tiến/thiết kế mới các quy trình sản xuất/tác vụ, về cải tiến
tính năng sản phẩm hoặc thiết kế sản phẩm mới theo yêu cầu từ khâu tiếp thị và bán hàng…;
đào minh đức, 02.02.2011
7
+ Các bí mật kinh doanh trong phương án bố trí mặt bằng/phân công lao động/kết nối thao
tác/dây chuyền/thiết bị,…;
+ Các sáng chế phần mềm hoặc/và chương trình máy tính tương ứng để xử lý các chuỗi
thông tin kỹ thuật/tác vụ trên các công đoạn sản xuất…;
+ Trong các ngành kinh doanh dịch vụ (lưu trú, vận chuyển, giải trí, truyền thông, ngân
hàng, bảo hiểm…): các sáng chế phần mềm hoặc/và chương trình máy tính tương ứng để thu
thập, phân nhóm và xử lý thông tin về khách hàng cùng đặc điểm sử dụng dịch vụ của họ
(customer records), các giải pháp kỹ thuật/tổ chức để cải tiến các công đoạn khác nhau trong các
quy trình dịch vụ… , các tác phẩm hoặc kiểu dáng công nghiệp đối với các mẫu thiết kế để nâng
cao tính năng/phong cách của các phương tiện cung ứng dịch vụ (thiết kế không gian, trang bị
nội/ngoại thất, dụng cụ phục vụ, dụng cụ trang trí, hệ thống thông tin…);
+ …
Trong khâu tiếp thị - bán hàng, các đơn vị tài sản trí tuệ thường xuyên được vận dụng đến
hoặc có thể phát sinh mới như:
+ Thương hiệu (tên giao dịch của doanh nghiệp – trade name/house mark/corporate brand)
chế liên quan đến tính năng hoạt động của trang web (sofware patent) hoặc phương thức kinh
doanh (business model patent) được thực hiện thông qua trang web…;
+ Các bí mật kinh doanh đối với các thông tin phân tích đối thủ cạnh tranh như: mũi nhọn
R&D, tập đối tượng sở hữu trí tuệ, kết cấu phổ sản phẩm hoặc/và dịch vụ, chính sách giá cả,
chiến lược và chiến thuật tổ chức kênh cung ứng /kênh phân phối, cách thức đáp ứng cạnh
tranh…
+ …
Trong các khâu tham mưu, hoạch định và hỗ trợ kinh doanh như: kế hoạch, tài chính,
nhân sự, quản trị chất lượng, công nghệ thông tin, hành chính tổng hợp…, các đơn vị tài sản trí
tuệ thường xuyên được vận dụng đến hoặc có thể phát sinh mới như:
+ Các tác phẩm dưới dạng các quy chế, quy định, điều lệ khác nhau trong sản xuất/cung ứng
dịch vụ, quản trị chất lượng, an toàn lao động, xây dựng văn hóa kinh doanh…;
+ Các tác phẩm bộc lộ qua hoặc các bí mật kinh doanh hàm chứa trong các loại sổ tay hướng
dẫn thao tác/sản xuất/tác nghiệp…;
+ Các sưu tập dữ liệu hoặc cơ sở dữ liệu về các thông tin kỹ thuật, mỹ thuật, tài chính, thị
trường tự xây dựng hoặc được chuyển giao (chuyển nhượng hoặc cấp li-xăng);
+ Các tác phẩm hoặc bí mật kinh doanh hàm chứa trong hoặc bộc lộ qua báo cáo, phúc trình,
đề cương, đề án, kế hoạch, phương án…;
+ Các sáng chế về cấu trúc hệ thống hoặc giải thuật đối với các phần mềm phục vụ việc quản
trị các mặt hoạt động khác nhau (kế toán, nhân sự, cơ sở tri thức, nguồn lực sản xuất…) và quyền
tác giả đối với các chương trình máy tính liên quan;
+ …
đào minh đức, 02.02.2011
9
Trong quan hệ với đối tác kinh doanh (kể cả với các cơ quan công quyền), các đơn vị tài
sản trí tuệ thường xuyên được vận dụng đến hoặc có thể phát sinh mới như:
+ Các tác phẩm hoặc bí mật kinh doanh dưới dạng dữ liệu, thông tin, đồ thị, bảng biểu, ý
kiến nhận định/đánh giá/dự báo… do các nhà tư vấn về kinh doanh, pháp lý, tài chính, khoa
học… bên ngoài thực hiện theo hợp đồng thuê khoán chuyên môn;
+ Các phần mềm, sáng chế, giống cây trồng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn hoặc các
tin/bí quyết/kỹ năng riêng có để hợp tác kinh doanh với các đồng sở hữu chủ khác tại doanh
nghiệp X, lại vừa ngầm sử dụng thông tin/bí quyết/kỹ năng đó cho doanh nghiệp Y của riêng
mình hoặc có phần vốn góp của mình để ít nhiều cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp X;
+ Xung đột lợi ích liên quan đến các tài sản trí tuệ càng dễ xảy ra hơn giữa chủ sở hữu doanh
nghiệp/nhà đầu tư với các nhà điều hành, như khi một CEO cố ý chiếm hữu riêng các thông tin
quan trọng mà mình có dịp nắm bắt và xử lý, để trong tương lai có thể cạnh tranh ngược với
doanh nghiệp mà mình đang được thuê mướn điều hành.
+ …
5.2. Các rủi ro trong hoạt động tác nghiệp: trong bối cảnh tập thể lãnh đạo còn chưa có điều
kiện nhận biết đầy đủ về bản chất của vấn đề, các rủi ro liên quan đến các tài sản trí tuệ càng dễ
nảy sinh tại các khâu tác nghiệp khác nhau trong doanh nghiệp, cụ thể như:
+ Đại đa số nhà kỹ thuật trong nước chưa có kỹ năng và thói quen tra cứu thông tin sáng chế
trước khi tiến hành thiết kế, nên vừa chưa tiếp cận và hấp phụ được trình độ của đồng nghiệp
quốc tế, vừa dễ nghiên cứu trùng lặp và lãng phí khiến trình độ kỹ thuật chung của Việt Nam
chậm được đổi mới, vừa không đánh giá được cơ hội khai thác các sáng chế quốc tế khả dụng
nhưng không bảo hộ tại các thị trường mục tiêu của doanh nghiệp hoặc đã hết thời hạn bảo hộ.
Mặt khác, khi tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, cũng thiếu thông tin để đánh giá,
định giá trong tiến trình đàm phán.
+ Người lao động chuyên môn không được hướng dẫn để nhận biết và không có nghĩa vụ
phải khai báo kịp thời và đầy đủ với cấp quản lý liên quan về các đơn vị tài sản trí tuệ mới phát
sinh, đặc biệt là các đối tượng sở hữu trí tuệ;
+ Từ đó, nhiều dữ liệu, thông tin hoặc tri thức về công nghệ/marketing/tài chính/thị trường…
mới đã không được chú ý bảo vệ như một bí mật kinh doanh hoặc để bảo đảm về tính mới
(novelty - với các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp hay giống cây trồng) hoặc tính
nguyên gốc/nguyên tác (originality – với các loại hình tác phẩm), nhằm phục vụ các thủ tục/thao
tác xác lập quyền sở hữu trí tuệ liên quan;
+ Nhiều doanh nghiệp hiện cũng đã đưa ra một số quy định về bảo mật trong các loại nội
quy khác nhau như Nội quy lao động, Quy tắc sử dụng máy tính/mạng…, hoặc đã ban hành hẳn
một Quy chế bảo mật độc lập. Tuy nhiên, khi chưa nắm vững cách thức nhận diện tách bạch và rõ
ràng từng đơn vị tài sản trí tuệ cụ thể, chưa hiểu rõ phạm vi bảo hộ cùng thủ tục xác lập quyền đối
việc bảo mật thông tin của khách hàng, nhưng sự dễ dãi/thiếu cẩn trọng trong giao kết bảo mật
vẫn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro trong tương lai, trong bối cảnh các dữ liệu, thông tin, bí quyết và tri
thức ngày càng trở thành một nguồn lực trực tiếp trong hoạt động sản xuất/cung ứng dịch vụ và
thường gắn liền với các cơ hội kinh doanh;
+ Cũng trong mối quan hệ với các đối tác, hầu hết các doanh nghiệp đều chưa chú ý giao kết
hoặc giao kết chưa đúng cách về các vấn đề liên quan đến các đơn vị tài sản trí tuệ mới phát sinh
đào minh đức, 02.02.2011
12
trong quá trình thực hiện/triển khai các loại hợp đồng như: hợp đồng thuê khoán chuyên môn,
hợp đồng R&D, hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng nghiên cứu thị trường… Cụ thể như các
giao kết về cách phân định quyền sở hữu/tỷ lệ sở hữu, nghĩa vụ/thủ tục ghi nhận, thông báo và
chuyển giao đầy đủ và kịp thời các đơn vị tài sản trí tuệ mới phát sinh… Hệ quả là, nhiều đơn vị
tài sản trí tuệ đã bị bỏ sót hoặc rơi về tay đối tác, thay vì có thể trở thành quyền tài sản của doanh
nghiệp và trở thành một công cụ hoặc một nguồn lực kinh doanh;
+ Đa số doanh nghiệp nếu có chú ý đến thì vẫn quen sử dụng các đơn vị tài sản trí tuệ như
một công cụ sản xuất/cung ứng dịch vụ, rất ít doanh nghiệp chú ý đến khía cạnh tài chính của tài
sản trí tuệ như: ghi nhận các đơn vị tài sản trí tuệ như một đơn vị Tài sản Cố định vô hình (theo
Chuẩn mực kế toán số 4
13
) để tiến hành quản lý và khấu hao theo quy định
14
, chuyển giao công
nghệ hoặc cấp li-xăng cho đối tác trong/ngoài nước (trong đó, nhượng quyền thương mại
(franchising) là một mô thức li-xăng đặc biệt)… Từ đó, doanh nghiệp đã vô tình bỏ qua hoặc
không biết cách vận dụng một số chiến thuật/sách lược tài chính có liên quan như: chuyển giá nội
bộ/quốc tế (transfer pricing) một cách thích đáng, góp vốn bằng tài sản trí tuệ, chuyển giao các tài
sản trí tuệ không sử dụng được/sử dụng không hiệu quả trong chuỗi giá trị doanh nghiệp để tạo
thêm dòng tiền hoặc giúp hình thành các liên minh chiến lược (strategic alliances)…;
+ …
5.3. Các rủi ro liên quan đến các quyền sở hữu trí tuệ: trong trường hợp các đơn vị tài sản trí
xử lý cả các hành vi xâm phạm quyền (không phải là hành vi sản xuất hàng hóa giả mạo về sở
hữu trí tuệ), đã đặt các công chức hành chính liên quan vào tình huống phải “suy diễn” quy phạm
pháp luật (thí dụ, đánh giá khả năng xâm phạm quyền của hai nhãn hiệu tương tự đến mức gây
nhầm lẫn với nhau), thay vì “chỉ thực hành theo những gì pháp luật quy định”. Một hệ quả là,
trong một số tình huống nhất định, hai cơ quan có thẩm quyền xử lý như nhau thuộc hai hệ thống
hành chính khác nhau hoặc hai địa phương khác nhau có thể có các suy diễn khác nhau về một vụ
việc xung đột quyền giống nhau, khiến các quy phạm pháp luật (vốn về bản chất có tính rõ ràng
và đơn nghĩa) có thể trở thành mù mờ và bất nhất. Vì vậy, một số doanh nghiệp lớn (nhất là các
tập đoàn hàng tiêu dùng nước ngoài) thường bị xâm phạm quyền đã phải bố trí chức danh/bộ
phận “bảo vệ nhãn hiệu/bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ” mà một trong những công việc chủ yếu của
chức danh/bộ phận này là thiết lập, duy trì và củng cố “mối quan hệ” với các cơ quan có thẩm
quyền xử phạt hành chính về sở hữu trí tuệ trên phạm vi cả nước. Đó lại không phải là việc đơn
giản đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ…;
+ Hệ thống tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu trí tuệ của Việt Nam hiện vẫn đang hoạt động
chủ yếu theo cơ chế cạnh tranh lẫn nhau, chưa quan tâm đến việc phối hợp và phân công để cùng
hình thành mũi nghiên cứu học thuật về pháp luật sở hữu trí tuệ của các khu vực và các quốc gia
khác, góp phần hỗ trợ một cách có hệ thống cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt
động xâm nhập thị trường hàng hóa/dịch vụ, kinh doanh tài sản trí tuệ và đầu tư quốc tế.
+ …
6. Một số đặc điểm của hoạt động quản trị tài sản trí tuệ
+ Các vị tài sản trí tuệ vừa rất đa dạng, vừa là các tài sản vô hình thường không thể nhận biết
bằng các thông số vật lý, mà phải nhận diện trước hết là qua các thông số pháp lý và sau đó là qua
các tác động công nghệ/thương mại/tài chính/hình ảnh của từng đơn vị tài sản;
đào minh đức, 02.02.2011
14
+ Một khi đã bộc lộ/công bố, sẽ dễ dàng bị nhiều chủ thể khác nhau đồng thời chiếm hữu và
sử dụng/khai thác. Do vậy, nếu không vận dụng đúng cách các thông số pháp lý liên quan, doanh
nghiệp có thể đánh mất quyền tài sản đối với đơn vị tài sản trí tuệ tương ứng (không thể ngăn
cản hành vi sử dụng/khai thác của các chủ thể khác);
+ Trong trường hợp tài sản trí tuệ là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ và có tiềm năng
15
+ Giá trị tiền tệ của các tài sản trí tuệ có xu hướng tăng cao dần theo sự phát triển của nền
kinh tế tri thức, ngược lại, vòng đời thương mại/công nghệ (lead-time) lại có xu hướng bị rút
ngắn, tuy rằng vòng đời pháp lý (như trong trường hợp các quyền sở hữu trí tuệ) có thể còn dài.
Do vậy, nếu tập tài sản trí tuệ của doanh nghiệp phát triển đến một cấp độ nào đó, sẽ phát sinh
nghiệp vụ định kỳ rà soát, định giá và tái định giá lại tập tài sản trí tuệ hiện hữu (IP/IA auditing);
+ Có các rủi ro rất đa dạng như đã điểm qua tại Mục 5 bên trên;
+ …
Các đặc điểm đó khiến hoạt động quản trị đối với các tài sản trí tuệ vừa phải mang tính đa
ngành (multi-discipline), vừa cần được điều hành tập trung ở cấp lãnh đạo cao nhất của doanh
nghiệp để giúp các đơn vị tài sản trí tuệ có thể đạt được giá trị sử dụng tốt nhất và có hiệu quả
nhất. Trong quản trị hiện đại, các nhà nghiên cứu (researcher) và thực hành (practitioner) còn đưa
ra khái niệm nguồn vốn trí tuệ (intellectual capital - IC) của doanh nghiệp, bao gồm nguồn
nhân lực (Human Resources - HR) và các tài sản trí tuệ (IA) được họ thường xuyên vận dụng
và sáng tạo bổ sung cho doanh nghiệp, trong đó có các quyền sở hữu trí tuệ (IPR)
15
. Từ đó,
xuất hiện một cách ví von rằng, các quyền sở hữu trí tuệ (IPRs) có thể xem là các công cụ để
bảo vệ các tài sản hiện tại, trong khi nguồn vốn trí tuệ (IC) và các tài sản trí tuệ (IAs) là các
nguồn lực để khai thác các dòng tiền tương lai. Cách tiếp cận đó giúp phân định rõ hơn các chức
năng của một chuyên viên/quản trị viên/bộ phận sở hữu trí tuệ với một quản trị viên/bộ phận
quản trị tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp như sẽ phân tích sau đây.
7. Một mô thức tổ chức hoạt động quản trị tài sản trí tuệ tại doanh nghiệp vừa và
nhỏ của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015
7.1. Hình thành ban đầu nhân sự hoặc bộ phận sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp đã phát triển đến một tầm mức nhất định có thể sẽ cần chỉ định chức danh
hoặc một chuyên viên sở hữu trí tuệ (IP staff/assistant/lawyer/manager) hoạt động kiêm
nhiệm hoặc chuyên trách. Sau đó, nếu quá trình sáng tạo có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn
(tạo ra nhiều sáng chế mới hơn, nhiều giống cây trồng mới hơn, nhiều phần mềm hơn, nhiều kiểu
dáng công nghiệp hơn…), hoặc số lượng các đối tượng sở hữu trí tuệ cần dùng trong quá trình đa
vệ người tiêu dùng/phòng, chống hàng giả, các tổ chức truyền thông, các tổ chức dịch vụ đại diện
sở hữu trí tuệ…;
+ …
Tùy theo đặc điểm hoạt động và các giá trị cốt lõi (core values) của mình, doanh nghiệp có thể
phối thuộc chức danh/bộ phận sở hữu trí tuệ vào một trong các khâu tác nghiệp khác nhau như
pháp chế, công nghệ, marketing…, hoặc đặt trực thuộc CEO/Ban Giám đốc.
Trong thực tế, hầu như chưa có một doanh nghiệp Việt Nam nào triển khai đầy đủ và đồng bộ
các chức năng và nhiệm vụ sở hữu trí tuệ như nêu trên và nhân sự sở hữu trí tuệ, nếu có, thường
cũng không chuyên nghiệp và không ổn định. Đa số doanh nghiệp hiện đang sử dụng toàn bộ
hoặc một phần dịch vụ đại diện sở hữu trí tuệ (patent attorney/trademark agency/IP attorney…)
bên ngoài. Điều này khiến doanh nghiệp khó có thể nhận biết được khả năng đóng góp của tập
quyền sở hữu trí tuệ vào chiến lược kinh doanh.
đào minh đức, 02.02.2011
17
7.2. Phát triển nguồn nhân lực và bộ phận quản trị tài sản trí tuệ của doanh nghiệp
Nếu doanh nghiệp tiếp tục xác lập và phát triển được các giá trị cốt lõi (core values) của mình,
sẽ đến lúc các tài sản trí tuệ không chỉ dừng ở vai trò là các công cụ sản xuất (sáng chế, giống cây
trồng…) hoặc tiếp thị (nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp…), mà còn có thể được vận dụng như
một nguồn lực đầu tư (cấp li-xăng, xây dựng kênh phân phối theo mô thức nhượng quyền thương
mại (franchising), góp vốn liên doanh…).
Khi đó, doanh nghiệp có thể chuyển chức danh/bộ phận sở hữu trí tuệ thành chức danh/bộ
phận quản trị tài sản trí tuệ (IA/IC assistant/manager hoặc IA/IC group/division), đảm
nhiệm các chức năng và nhiệm vụ đa dạng hơn, bao gồm các hành vi quản trị trực tiếp hoặc phối
kết hoạt động quản trị đối với tất cả các đơn vị tài sản trí tuệ (đa số không phải là các đối tượng
sở hữu trí tuệ) như đã điểm qua tại Mục 4. Trong thực tế, nhiều nhà nghiên cứu
16
đã ghi nhận
rằng, tuy có thể là kết quả của các sáng kiến đổi mới ít nhiều mang tính đột phá
(breakthrough/radical/revolutionary innovation), nhưng các đối tượng sở hữu trí tuệ chỉ là phần
nổi trên bề mặt của tảng băng tài sản trí tuệ của doanh nghiệp . Phần chìm của tảng băng này là
tái sàng lọc… tập tài sản trí tuệ hiện hữu (IP/IA auditing), dự trù ngân sách cho các mặt hoạt
động khác nhau liên quan đến việc quản trị tập tài sản trí tuệ;
+ Tham mưu với Ban lãnh đạo doanh nghiệp các chiến lược, sách lược, kế hoạch, chiến
thuật… vận dụng các tài sản trí tuệ vào hoạt động đầu tư;
+ Xây dựng hệ thống các quy chế, nội quy, quy trình, thủ tục, biểu mẫu… quản trị tài sản trí
tuệ; các điều khoản mẫu hoặc hợp đồng mẫu về giao kết li-xăng hoặc chuyển giao công nghệ theo
phong cách kinh doanh (corporate identity) riêng của doanh nghiệp;
+ …
Trong xu thế tập tài sản trí tuệ (IA portfolio) chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng giá trị
của một doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực tư vấn, công nghệ thông
tin/truyền thông, thiết kế công nghiệp/dân dụng/tiêu dùng… chức danh/bộ phận quản trị tài
sản trí tuệ sẽ tham gia ngày càng nhiều hơn vào cấp độ hoạch định chiến lược kinh doanh/đầu tư
ở nhiều mức độ khác nhau như: xác định sách lược cấp/nhận li-xăng hoặc chuyển giao/tiếp nhận
công nghệ, chọn lựa phương án góp vốn bằng tài sản trí tuệ, đa dạng hóa danh mục đầu tư của
doanh nghiệp… Khi đó, doanh nghiệp có thể sẽ có nhu cầu phân công một thành viên của Hội
đồng Quản trị hoặc Ban Giám đốc đảm nhiệm chức danh Giám đốc Tài sản trí tuệ (IA
Director/Officer) hoặc Giám đốc Nguồn vốn trí tuệ (IC Director/Officer).
7.3. Xây dựng và ban hành các nội quy về quản trị tài sản trí tuệ:
Để triển khai đồng bộ và chặt chẽ các chức năng sở hữu trí tuệ hoặc quản trị tài sản trí tuệ,
doanh nghiệp sẽ cần ban hành các nội quy về hoặc có liên quan đến sở hữu trí tuệ/quản trị tài sản
trí tuệ. Nội quy này có thể ở dưới dạng các điều khoản lồng ghép (vào các Điều lệ/Quy định/Quy
chế/Hướng dẫn/Sổ tay… khác), hoặc một văn bản độc lập hoàn chỉnh ở nhiều mức độ khác nhau
về mặt nội dung và hiệu lực thi hành. Các dạng nội quy thường gặp nhất và ít nhiều liên quan đến
nội hàm quản trị tài sản trí tuệ đã được nhiều doanh nghiệp ban hành như: Quy định/Quy chế…
về Sở hữu trí tuệ, Điều lệ/Nội quy… về Sáng kiến đổi mới, Quy chế/Quy tắc… Bảo mật, Nội
quy/Điều lệ… sử dụng Thông tin/Máy tính/Mạng, Hướng dẫn (Guideline) hoặc Sổ tay (Manual)
sử dụng Thương hiệu (Tradename/Corporate brand), Lô-gô và Nhãn hiệu (brand), Quy chế sử
dụng Nhãn hiệu tập thể/Nhãn hiệu Chứng nhận/Chỉ dẫn địa lý…
đào minh đức, 02.02.2011
19
từ tài sản trí tuệ…, nhằm tăng cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau trong giao kết lao động hoặc
giao kết kinh doanh, phát triển sự nhận biết (awareness) về vai trò/tác động của các tài sản vô
hình và tài sản trí tuệ trong kinh doanh;
đào minh đức, 02.02.2011
20
+ Xác lập các cơ chế, quy trình, thủ tục, biểu mẫu… quản trị tập trung và thống nhất tất cả
các tài sản trí tuệ được vận dụng hoặc phát sinh mới trong quá trình lao động, nghiên cứu và kinh
doanh, giảm thiểu rủi ro tổn thất tài sản trí tuệ, củng cố và tăng cường nguồn lực cạnh tranh của
doanh nghiệp. Mỗi cơ chế, quy trình, thủ tục, biểu mẫu… được xây dựng cần bám sát mục tiêu
gia tăng lợi ích cho chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc/và người lao động chuyên môn, có tính đơn
giản, minh bạch, tương hợp và giúp gia tăng giá trị chứ không gây cản ngại cho các mặt hoạt
động chuyên môn khác;
+ Cụ thể hóa pháp luật sở hữu trí tuệ vào hệ thống các quy tắc ứng xử trong doanh nghiệp để
phòng ngừa và giảm thiểu các rủi ro/tranh chấp pháp lý, thuận lợi cho việc phát triển văn hóa sở
hữu trí tuệ với tư cách là bộ phận ngày càng quan trọng trong văn hóa kinh doanh (corporate
culture);
+ Tốt hơn nữa, Quy định/Quy chế nên có khả năng định hướng cho việc vận dụng các tài sản
trí tuệ như một nguồn lực đầu tư thay vì chỉ là các công cụ gia tăng giá trị trong các khâu sản xuất
kinh doanh/cung ứng dịch vụ, góp phần kích hoạt hoặc chuyển hóa từng phần hoạt động kinh
doanh sang hướng kinh doanh tài sản trí tuệ theo nguyên tắc mở rộng hợp tác để chia sẻ hài hòa
thông tin/tri thức và lợi ích với các đối tác chiến lược.
Theo đó, tên gọi, dung lượng, phạm vi điều chỉnh của một nội quy về sở hữu trí tuệ/quản trị
tài sản trí tuệ… không phải là vấn đề quan trọng. Điều quan trọng hơn là:
¾ Tính phù hợp và khả thi của nội quy đối với các mối bận tâm về sở hữu trí tuệ/quản trị tài
sản trí tuệ của doanh nghiệp tại thời điểm ban hành, đặc biệt là mọi người lao động đều có thể
hiểu rõ và tuân thủ nội quy. Sau đó, sẽ từng bước hoàn thiện theo nhu cầu thực tế;
¾ Cần có nhân sự được huấn luyện/đào tạo về sở hữu trí tuệ (IP) hoặc quản trị tài sản trí tuệ
(IA/IC), vừa hiểu biết pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, vừa có khả năng đọc, hiểu, vận dụng các
tài liệu liên quan đến quản trị tài sản trí tuệ trong và ngoài nước, được đãi ngộ phù hợp và bố trí
ổn định.
“Nhận biết các tài sản trí tuệ trong kinh doanh và hoạt động R&D”, cung cấp cho học viên cái
nhìn tổng quan ban đầu về các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ và tài sản trí tuệ.
¾ Ba (03) mô-đun nghiên cứu nâng cao: “Giao kết kinh doanh tài sản trí tuệ”, “Xây dựng
hoạt động quản trị tài sản trí tuệ tại đơn vị” và “Khía cạnh tài chính của các tài sản trí tuệ”: các
học viên đã hoàn thành hai mô-đun đào tạo cơ bản trở thành các thành viên tự nghiên cứu và thực
hành nhóm, hình thành cộng đồng quản trị viên cùng tích tụ và chia sẻ hiểu biết/kinh nghiệm. Sau
ba mô-đun này, mỗi thành viên cần có năng lực tự khảo sát, phân tích và giúp một đơn vị bất kỳ
xây dựng và vận hành Quy chế/Quy định Quản trị Tài sản trí tuệ phù hợp với đặc thù của đơn vị,
để có thể tham gia thị trường lao động với chức danh quản trị viên tài sản trí tuệ (IA
assistant/manager hoặc IA director/officer (IAO)).
¾ Các mô-đun nghiên cứu mở rộng: có nội dung nghiên cứu được hình thành theo yêu cầu
thực tế của cộng đồng quản trị viên tài sản trí tuệ như: “Chiến lược kinh doanh tài sản trí tuệ”,
“Định giá tài sản trí tuệ”, “Tài sản trí tuệ trong hợp nhất kinh doanh (M&A)”…
đào minh đức, 02.02.2011
22
Do giữa kinh doanh và hoạt động R&D luôn tồn tại các mối quan hệ hữu cơ, nên đối tượng
phục vụ của Chương trình là các nhà quản trị lẫn các nhà chuyên môn trong các doanh nghiệp và
các trường/viện. Đến giữa tháng 01.2011, Chương trình đã triển khai 10 mô-đun đào tạo cơ bản
và 08 mô-đun nghiên cứu nâng cao (chưa thực hiện các mô-đun nghiên cứu mở rộng).
Qua đó, đã có 196 học viên/thành viên nghiên cứu tham dự, là các nhà chuyên môn thuộc
nhiều lĩnh vực khác nhau (công nghệ cơ/sinh/điện/hóa/IT…, pháp luật, marketing, truyền thông,
tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, giảng viên đại học/cao đẳng, giám đốc/phó giám đốc/trưởng
phòng chuyên môn…), trong đó có 03 Tiến sĩ và 28 Thạc sĩ. Có 61 thành viên đã hoàn thành 05
mô-đun của giai đoạn đào tạo cơ bản và nghiên cứu nâng cao, đang xem xét chọn lựa nội dung
cho giai đoạn nghiên cứu mở rộng bắt đầu từ năm 2011.
Tập thể thành viên nghiên cứu đã biên soạn và trình ban hành 08 Quy định Sở hữu Trí tuệ
hoặc Quy chế Quản trị Tài sản Trí tuệ, với trên 10 quản trị viên tài sản trí tuệ đầu tiên được chính
thức bổ nhiệm, trong đó có 01 Tổng Giám đốc, 03 Giám đốc và Phó Giám đốc doanh nghiệp, 01
Giám đốc Trung Tâm Nghiên cứu & Đào tạo. Về mặt khai triển lý luận, đã thực hiện 23 buổi
trình bày về quản trị tài sản trí tuệ trên kênh phổ biến kiến thức HTV4 của Đài Truyền hình
2009
2010đào minh đức, 02.02.2011
24
Thực hành nghiên cứu cá nhân
đào minh đức, 02.02.2011
25
Nghiên cứu và thực hành nhóm