BÁO CÁO THỰC TẬP TỔNG HỢP Ở TỔNG CÔNG TY CÀ PHÊ VIỆT NAM - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Tiền lực kinh tế hay nguồn lực là một trong những nhân tố góp phần
đưa đất nước đến sự thành công trong công cuộc CNH - HDH. Nguồn vốn
có được do tích luỹ và một phần là nguồn ngoại tệ thu về từ hoạt động xuất
khẩu.
Việt Nam đang trên con đường CNH - HĐH đất nước, tuy vậy, nông
nghiệp vẫn là ngành chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế. Trong đó, cà
phê là một loại nông sản được trồng nhiều ở Việt Nam và đâu cũng là một
sản phẩm quan trọng cơ cấu các hoạt động xuất khẩu có tầm chiến lược như;
gạo, chè, cà phê và một số nông sản khác ( hạt điều, tiêu, hồi….). Tổng công
ty cà phê Việt Nam (Vinacafe) - mét doanh nghiệp lớn của nhà nước có
nhiệm vụ quản lý sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, quản lý nguồn vốn,
đất canh tác và thực hiện nhiệm vụ quan trọng khác là tìm kiếm thị trường
nhập khẩu sản phẩm cà phê. Trong nhiều năm qua, Vinacafe đã đóng góp
cho ngân sách nhà nước một khoản ngoại tệ không nhỏ từ hoạt động xuất
khẩu. Ngược lại hoạt động xuất khẩu cũng là thế mạnh và nghiệp vụ chính
của Tổng công ty. Mặc dù mấy năm gần đây giá cà phê liên tục biến động đã
ảnh hưởng rất lớn đến việc sản xuất và xuất khẩu cà phê trong nước, nhưng
Vinacafe vẫn nỗ lực phát triển và vượt qua những khó khăn.
Thời gian thực tập ở Tổng công ty Càfê Việt Nam em đã co cơ hội
được tiếp cận với môi trường làm việc thực tế và hiểu sâu hơn kiến thức của
mình ở trên lớp. Trong bài viết này em xin được trình bày gắn gọn những
vấn đề mình đã thu được trong thời gian qua.Do kiến thức còn nhiều hạn
chế, trong bài viết này em không tránh khỏi những thiếu sót, em mong được
sự thông cảm của thầy, cô giáo hướng dẫn. Qua đây em xin chân thành cảm
ơn đến cô giáo hướng dẫn cùng toàn thể các cô, chú, anh chị tại tổng Công
ty đã tận giúp đỡ em trong thời gian qua
1
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CÀ PHÊ
I. Quá trình hình thành và phát triển

xõy dung iu l ca doanh nghip , khen thng, k lut cỏn b, bỏo cỏo ti
3
Tổng Giám Đốc
Hội Đồng quản Trị
Ban Kiểm Soát
Phó tôngt GĐ
phụ trách
HĐsản xuất khu
vực Bắc Tây
Nguyên
Phó tôngt GĐ
phụ trách
HĐsản xuất khu
vực Đắc Lăk
Phó tôngt GĐ
phụ trách tổ
chức cán bộ
Văn
phòng
tôngt
công
ty
Ban kế
hoạch
đầu t
Ban tổ
chức
cán bộ
thanh
tra

nhất ở công ty, là người tổ chức mọi hoạt động của công ty, thực hiện luật
pháp của nhà nước và nghị quyết của hội đồng quản trị để giúp công ty đạt
hiệu quả cao nhất trong kinh doanh.
Giúp việc cho tổng giám đốc là các phó giám đốc. Trong đó, một phó
giám đốc phụ trách HĐSX khu vực Bắc Tây Nguyên, một phó giám đốc phụ
trách khu vực Đắc Lắc, một phó giám đốc phụ trách tổ chức cán bộ.
- Ban tham mưu : Ban tham mưu được sắp xếp theo kiểu phân công
chức năng, bao gồm có:
4
• Văn phòng tổng công ty : Tổ chức thực hiện các mặt công tác
về quản trị hành chính chung trong cơ quan, phối hợp với các phòng ban để
xây dung nội quy, quy chế của tổng công ty.
• Ban tổ chức cán bộ thanh tra : Tiến hành sắp xếp, bố trí, tổ chức
bộ máy hoạt động và kinh doanh, xây dựng quy chế quản lý nội bộ, khen
thưởng kỉ luật.
• Ban tài chính kế toán : quản lý nguồn tài chính và quản lý thu
chi tổng hợp, phân tích hoạt động kinh tế, tài chính trong sản xuất kinh
doanh, xây dựng hạch toán kinh doanh về giá cả, tỷ giá xuất nhập khẩu và
các quan hệ quốc tế, khai thác khả năng đầu tư nước ngoài.
• Ban xuất nhập khẩu : Điều hành công tác kinh doanh xuất nhập
khẩu. Tìm hiểu, mở rộng và khai thác thị trường tiêu thụ ngoài nước, phụ
trách về các quan hệ quốc tế, khai thác khả năng đầu tư nước ngoài.
• Ban kế hoạch đầu tư : Xây dung các kế hoạch sản xuất và kinh
doanh, các dự án đầu tư, thu mua cà phê ở phía Bắc để kinh doanh xuất nhập
khẩu. Tập hợp về sản xuất và phát triển cây cà phê.
• Ban điều hành dự án AFD : Tổ chức thực hiện dự án trồng mới
cà phê có sự tài trợ của Chính phủ Pháp.
• Các công ty trực thuộc : Hiện nay, tổng công ty có 58 đơn vị
thành viên. Các đơn vị đều có con dấu riêng, được mở tài khoản tại các kho
bạc nhà nước và các ngân hàng. Các thành viên gia nhập tổng công ty có

-Quản lý giá xuất, giá nhập khẩu hàng hoá của tổng công ty, công bố giá sàn
xuất khẩu cà phê, giá trần nhập khẩu thiết bị, vật tư phục vụ cho ngành ở
6
tong thời điểmthích hợp để các đơn vị thành viên theo đó mà thực hiện, khắc
phục được tình trạnh tranh mua, tranh bán .
-Kiểm tra, giám sát các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị thành
viên .
3 Tình hình chung về hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty qua 3
năm gần đây:
• Lĩnh vực sản xuất và kinh doanh của công ty:
Các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của tổng công ty cà phê Việt Nam
được đề ra trong điều lệ của tổng công ty bao gồm:
+ Tổng công ty với 58 đơn vị thành viên tham gia xây dựng, quy
hoạch các khu trồng cà phê với nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất và kinh doanh
cà phê.
+ Ngoài những diện tích trồng cà phê là chủ yếu, các đơn vị còn sản
xuất một số loại nông sản khác như ; lúa, mía, ca cao, hạt tiêu, hạt điều.
Cùng với việc sản xuất các mặt hàng nông sản này, tổng công ty cà phê có
nhiều cơ sở chế biến để cung cấp ra thị trường các mặt hàng tinh chế như:
Đường tinh luyện, cà phê hoà tan, cà phê sữa, kẹo…
+ Cùng với việc sản xuất các mặt hàng nông sản, tổng công ty cà phê
còn sản xuất cả gạch để phục vụ cho quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng của
các đơn vị và cung cấp cho thị trường. Các trung tâm y tế cũng được tổng
công ty thành lập để phục vụ cho công nhân viên và người dân tham gia vào
quá trínhản xuất ở những vùng sâu, vùng xa.
+ Để thuận lợi cho việc trao đổi thương mại trên thị trường quốc tế,
tổng công ty xuất khẩu cà phê và một số nông sản khác đồng thời cũng nhập
khẩu các đầu vào để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như: Máy kéo, phân
hoá học, phân vi sinh…
+ Tham gia đào tạo công nhân kĩ thuật.

nặng nề hơn .
Giá xuất khẩu cà phê Việt nam đã giảm mạnh; vào tháng 1/1999 bình
quân 1567usd/tấn, giảm xuống 1220 usd/tấn trong tháng 6/1999 và xuống
mức 1000-1020usd/tấn trong tháng 9/1999. Mức giá xuống thấp làm kim
ngạch xuất khẩu của công ty cũng giảm mạnh. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm
1998 chỉ đạt 55,15% so với kế hoạch năm 1999 và bằng 85%so với năm 1998.
Trong đó sản lượng cà phê đạt 61% kế hoạch năm 1999 và bằng 95% năm
1998, kim ngạch xuất khẩu đạt 48% kế hoạch1998 và bằng 72% năm 1998.
Tuy sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu giảm nhiều, nhưng
năm1999 Tổng công ty cà phê vẫn giữ vị trí số 1 trong 87 đơn vị tham gia
vào xuất khẩu cà phê của ngành cà phê Việt nam .Tổng công ty cà phê Việt
nam vẫn giữ đươc mạng lưới khách hàng ổn định và giữ được uy tín với
khachs hàng. Ngoài việc xuất khẩu cà phê là mặt hàng chính, công ty còn
xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản khác cũng mang lại kết quả cao.Để giữ
được vị trí số 1 của mình, Tổng công ty cũng đã tăng cường đầu tư cho khâu
chế biến cà phê nhân xuất khẩu hàng trăm ngàn m
2
sân phơi, nhà xưởng.
Trang bị thêm nhều dây truyền chế biến cà phê có kỹ thuật tiên tiến của
nước ngoài và sản xuất trong nước, nhờ vậy chất lượng cà phê xuất khẩu
ngày càng cải thiện, nâng cao. Nếu năm 1995, Tổng công ty chỉ mới có 8
dây chuyền, xưởng chế biến cà phê thì cuối năm 1998 đã có 28 dây chuyền
trong đó có 19 dây chuyền thiết bị xát khô và 9 dây chuyền xát khô, 11 dây
chuyền nhập ngoại và 17 dây chuyền sản xuất trong nước, gần 800 ngàn m
2
sân phơi. Nhưng bên cạnh những cố gắng và thành quả đó doanh nghiệp
cũng đã bộc lộ không Ýt những mặt yếu của mình. Dù vẫn đứng thứ nhất
trong 87 đơn vị tham gia xuất khẩu cà phê nhưng thị phần của công ty đã
giảm so với toàn quốc, đặc biệt và niên vụ 1998/ 1999 đã giảm từ 23,7%
9

11
*Công nghiệp :
BảNG KếT QUả SảN XUấT MộT Số SP CÔNH NGHIệP CHíNH NĂM 2000
STT Sản phẩm chính ĐVT KH 2000 TH2000
So với KH
năm (%)
1
2
3
4
5
6
Đường trắng
Cà pê hoà tan
Cà phê sữa
Cà phê rang xay
Gạch tuy nen
Bánh kẹo các loại
Tấn
#
#
#
tr tấn
tấn
8000
100
1570
240
17
-

trồng, chú trọng phát triển và phòng trừ sâu dịch bệnh hại cây .
Kim ngạch xuất nhập khẩu:
Tổng kim ngạch đạt:127,6 triệu USD
+Xuất khẩu: 120,0 triệu USD đạt 122,5% so với năm 1999
+Nhập khẩu: 7,6 trieeuj USD đạt 156% so với năm 1999
Mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu :
+ Cà phê nhân: 171300 tấn đạt 235% so với năm 1999
+ Tiêu đen: 3389 tấn đạt 119% so với năm 1999
+Phân bón các loại: 52500 tấn đạt 145% so với năm 1999.
Nhìn chung tình hình xuất khẩu cà phê năm 2000 còn rất nhiều khó
khăn, giá cà phê liên tục xuống thấp , khoảng dưới 600 USD/tấn, trong khi
đó hàng tồn kho còn khá cao, lượng vốn bị chiếm dụng lớn làm cho tình
hình sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu của các đơn vị trong tình trạng
thua lỗ.
Xây dựng cơ bản:
-Tổng số vốn thực hiện năm 2000: 113 tỷ đồng ước đạt khoảng
70% so với kế hoạch (kế hoạch 157 tỷ đồng).
Trong đó :
+Vốn ngân sách của nhà nước:17,5 tỷ đồng
+Vốn vay tín dụng đầu tư: 68 tỷ đồng
+Nguồn vốn khác 28 tỷ đồng: 28 tỷ đồng
-Tình hình đầu tư xây dựng cơ bản cả qui mô lẫn tiến độ của các công
trình đầu tư giảm mạnh một mặt do tình hình tài chính của các doanh nghiệp
gặp nhiều khó khăn, mặt khác tổng công ty cũng đã chỉ đạo tập trung đầu tư
các công trình trọng điểm, trực tiếp phục vụ sản xuất kinh doanh có hiệu
quả.
13
-Bên cạnh đó quá trình thực hiện các nghị quyết số: 52/NĐCP-1999,
ngày 8/7/1999 của chính phủ về “qui chế quản lý đầu tư và xây dựng” và
Nghị định số: 12/NĐ-CP/1999 nagỳ 05/5/2000, về việc sửa đổi bổ sung một

phê đã được chính phủ phê duyệt. Triển khai việc tổng kết công tác khoán ở
các đơn vị sản xuất nông nghiệp, từng bước bổ sung hoàn chỉnh phương án
khoán mới để áp dụng vừa đảm bảo hài hoà lợi Ých nhà nước, doanh nghiệp
và các hộ nhận khoán
-Công tác đào tạo: Thực hiện kế hoạch đào tạo năm 2000 đã được phê
duyệt. Ban tổ chức đã tổ chức bồi dưỡng cán bộ quản lý với các học viên.
Từ những khó khăn và kết quả năm 2000, tổng công ty đã đưa ra phương
hướng mục tiêu năm 2001 phải khắc phục những yếu điểm của năm trước và
phát huy những mặt mạnh của công ty.
Cụ thể là tập trung và thống nhất cao trong quản lý và điều hành của
lãnh đạo tổng công ty cũng như các đơn vị thành viên để tăng cường kỷ luật
hành chính, nâng cao tính chủ động sáng tạo và có hiệu quả hoạt động. Từng
bước lành mạnh nền tài chính của tổng công ty, các đơn vị xây dựng phương
án khắc phục lỗ, xử lý thu hồi công nợ. Trên cơ sở phương hướgn nhiệm vụ
đã đưa ra, năm 2001 tổng công ty đã xây dựng 6 chương trình công tác với
phươgn châm chỉ đạo “ đảm bảo duy trì sinh trưởng vườn cây, nâng cao chất
lượng sản phẩm, đàu tư hợp lý nhằm hạ giá thành sản phẩm, cây trồng vật
nuôi,chuyển đổi cơ cấu kinh tế, duy trì và ổn định phát triển kinh tế xã hội,
thực hành tiết kiệm, tiếp tục đổi mới sắp xếp doanh nghiệp cũng như cơ chế
15
quản lý, từng bước khắc phục khó khăn và tạo nền tảng cho sự phát triển bền
vững những năm sau”.
Kết quả đạt được năm 2001 như sau:
Sản xuất công nông nghiệp:
-Chăm sóc 27000 ha cà phê đạt 92 % kế hoạch, sản lượng đạt 50000
tấn cà phê nhân đạt 91% kế hoạch.
-Diện tích lúa gieo trổng 4200 ha đạt 102% kế hoạch, sản lượng đạt
26000 tấn –96% kế hoạch.
-Hồ tiêu đạt 300 ha đạt 75% kế hoạch, sản lượng 150 tấn đạt 75% kế
hoạch

cố gắng.Trong lúc cơ chế xuất nhập khẩu được nhà nước mở rộng,Tổng
công ty đã không ngừng nỗ lực nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm
trên thị trường, mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cao xứng đáng với vị
trí thứ nhất về xuất khẩu cà phê trên toàn ngành.
17
CHƯƠNG II
Cơ sở lý luận của hoạt đông xuất khẩu cà phê
I.Đặc điểm, vai trò của hoạt động xuất khẩu trong nền kinh tế
quốc dân:
1.Xu thế hội nhập kinh tế với khu vực, thế giới và đặc điểm của
hoạt động xuất khẩu:
Hoạt động kinh tế là cơ sở của sự tồn tịa và phát triển của xã
hội loài người. Lực lượng sản xuất càng phát triển, sự phân công lao động
càng mở rộng thì các quan hệ kinh tế không chỉ dừng lại trong phạm vi quốc
gia mà còn vươn ra phạm vi quốc tế .
Ban đầu, các mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia xuất hiện
trên cơ sở sự khác biệt về điều kiện tự nhiên là chủ yếu. Họ cung cấp cho
nhau những nguyên liệu, những sản phẩm đặc thù do các điều kiện về
khoáng sản, đất đai và khí hậu mang lại. Song quá trình phát triển của lực
lượng sản xuất và phân công lao động đã làm nẩy sinh sự khác biệt và trình
độ công nghệ và kỹ thuật, sự chênh lệch về năng suất lao động và giá thành
sản phẩm đã làm xuất hiện lợi thÕ mới của mỗi quốc gia. Điều đó cho phép
và đòi hỏi mỗi nền kinh tế quốc gia phải phát huy triệt để lợi thế của mình
trong sự phân công lao động và sự trao đổi mậu dịch quốc tế. Sự hình thành
các mối quan hệ quốc tế này ban đầu là dựa trên học thuyết về thương mại
trên cơ sở lợi thế tuyệt đối của A.S mith và thương mại trên lợi thế so sánh
của D.Ricardo. Theo thuyết thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối, khi một
quốc gia sản xuất hàng hoá có hiệu quả hơn so với quốc gia khácnhưng lại
kém hiệu quả hơn trong sản xuất hàng hoá thứ hai, hai quốc gia có thể thu
được lợi Ých bằng cách mỗi quốc gia chuyên môn hoá sản xuất và xuất khâủ

19
khẩu phức tạp hơn rất nhiều so với mua bán một sản phẩm nào đó trong thị
trường nội địa, vì hoạt động này diễn ra trong một thị trường vô cùng rộng
lớn, đồng tiền thanh toán có ngoại tệ mạnh, hàng hoá vận chuyển ra ngoài
phạm vi quốc gia. Các quốc gia khi tham gia vào hoạt động buôn bán, giao
dịch quốc tế đều phải tuân thao các thông lệ quốc tế và đồng thời nó cũng có
những đặc điểm khác biệt so với các hoạt động thương mại khác như:
Thứ nhất, khách hàng trong hoạt động xuất khẩu là người nước ngoài.
Giữa khách hàng trong nước và khách hàng nước ngời có những điểm khác
biệt như: ngôn ngữ, lối sống, điều kiện sống, phong tục tập quán, ĐiÒu này
sẽ dẫn đến sự khác biệt về nhu cầu và cách thức thoả mãn nhu cầu.
Thứ hai, thị trường trong hoạt động xuất khẩu thường phức tạp và khó
tiếp cận hơn thị trường trong nước. Bởi vì thị trường xuất khẩu ở cách xa
hơn, mới lạ hơn, có nhiều nhân tố ràng buộc hơn
Thứ Ba, các nghiệp vụ liên quan đến xuất khẩu như thanh toán ,vận
chuyển, ký kết hợp đồng, đều phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro.
Thứ tư, hoạt động xuất khẩu chịu sự chi phối của luật pháp, thông lệ
quốc tế, cũng như tình hình chính trị, xã hội, kinh tế của quốc gia nhập khẩu
và mối quan hệ các nước nhập khẩu, nước xuất khẩu với các bên có ảnh
hưởng.
Thứ năm, doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu chịu sự cạnh tranh không
những tại địa phương mà còn trong khu vực và trên thế giới về nhiều mặt
Thứ sáu, phương thức kinh doanh xuất khẩu đa dạng và có mối quan
hệ kênh phân phối quốc tê tương ứng
2. Vai trò hoạt động xuất khẩu trong nền kinh tế quốc dân:
Đối với nền kinh tế quốc dân:
Là mét trong hai nội dung chính của hoạt động ngoại thương, xuút
khẩu đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc
20
gia. Nó tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển một cách lành mạnh nhờ

thường có thu nhập khá cao và ổn định. Bên cạnh đó, xuất khẩu phát triển
cũng tạo điều kiện để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu chế xuất
cungx là nơi giải quyết việc làm cho một số lượng lớn lao động.
Ngoại tệ thu hút từ xuất khẩu không chỉ để nhập khẩu máy móc phục vụ sản
xuất mà còn nhập khẩu hàng tiêu dùng trực tiếp phục vụ nhu cầu của nhân
dân với số lượng lớn nhiều hơn nhiều giới hạn sản xuất trong nước
-Là cơ sở để mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại
Xuất khẩu là một nội dung của ngoại thương mà ngoại thương lại là hình
thức ra đời sớm nhất và có tác dụng quyết địnhtới các mối quan hệ kinh tế
đối ngoại khác, giúp các quan hệ này phát triển. Cụ thể hơn, xuất khẩu và
công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy các quan hệ tín dụng quốc tế,
đầu tư quốc tế, vận tỉa, bảo hiểm, và đÕn lượt các quan hệ này lại tạo điều
kiện thuận lợi để ngoại thương phát triển nhanh hơn.
Đối với doanh nghiệp :
Cùng với xu thế hội nhập của đất nước thì xu hướng vươn ra thị
trường thế giới của doanh nghiệp cũng là một tất yếu khách quan. Bán hnàg
hoá và dịch vụ ra nước ngoài mang lại cho doanh nghiệp những lợi Ých sau:
-Xuất khẩu mở ra những thị trường rộng lớn hơn, giúp doanh nghiệp
có thêm cơ hội tiêu thụ hàng hoá, điều này đặc biệt quan trọng khi dung
lượng thị trường nội địa còn hạn chế như ở nước ta.
-Xuất khẩu buộc doanh nghiệp luôn phải cạnh tranh với các đối thủ
mạnh đến khắp nơi trên thế giới. Vì vậy, doanh nghiệp luôn phải nâng cao
22
khả năng quản lý để tăng năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của mình. Đây
là điều kiện sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển
Xuất khẩu giúp doanh nghiệp mở rộng quan hệ, kịp thời nhận được
những thông tin mới để điều chỉnh chiến lược của mình cho phù hợp.
23
II. Vị trí của ngành cà phê trong nền kinh tế quốc dân và sự cần
thiết phải đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu cà phê ở Việt Nam.

-Các tỉnh phía Bắc: Sau cách mạng tháng 8, các đồn điền của Pháp
được chuyển thành các doanh điền ở Tuyên Quang, Ninh Bình, Hoà Bình,
Hà Nam, Thanh Hoá, Nghệ An. Đến năm 1959, tổng diện tích cà phê tiếp
quản từ chế độ cũ ở miền Bắc là hơn 3000 ha. Sau 1954, được Liên Xô giúp
đỡ ta đã xây dựng được 24 nông trường cà phê tại Việt Bắc, Tây Bắc vào
đến Nghệ An, Hà Tĩnh (1963) đạt 14000 ha. Sản lượng cà phê cao nhất
(1968) đạt 480 tấn. Song do qui hoạch không phù hợp, đặc biệt đối với cà
phê vối nên diện tích cà phê phải thanh lý quá nhiều. Năm 1972 chỉ còn
khoảng 1000 tấn/ năm. Có năm là 500 tấn / năm. Xuất khẩu thời kỳ này chủ
yếu sang Liên Xô và các nước Đông Âu
- Các tỉnh phía Nam: Sản xuất cà phê cũng có nhiều biến động
lớn.Thời 1946-1957 diện tích tăng không đáng kể, từ 3019 ha lên 3373 ha.
Năm 1964 diện tích đạt 11120 ha, song đênd 1973 còn 8872 ha. Đến năm
1975 diện tích cà phê các tỉnh phía Nam còn hơn 9000 ha, xuất khẩu không
đáng kể, chủ yếu tiêu dùng trong nước
*Thời kỳ 1975 đến nay:
Sau 1975, thực hiện chủ trương phát triển cà phê của nhà nước, Bộ
nông nghiệp đã triển khai ngay kế hoạch đầu tư, qui hoạch phân vùng phát
triển cà phê với các nước: Liên Xô, Cộng hoà dân chủ Đức, Bungari, nhằm
tranh thủ sự giúp đỡ đầu tư về thiết bị vật tư kỹ thuật, tiền vốn để mở rộng
diện tích cà phê. Đồng thời các nước trên cũng là thị trường tiêu thụ ổn định
của cà phê Việt Nam. Năm 1986, với chủ trương phát triển mạnh mẽ cà phe
25

Trích đoạn Sự cần thiết phải đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu cà phê trong giai đoạn hiện nay.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status